TIN TỨC

Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-10-07 20:38:11
mail facebook google pos stwis
25 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.  

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Khi cái nắng cuối hè bớt phần gay gắt, những cơn mưa rào xối xả bắt đầu thưa dần nhường chỗ cho tiết trời heo may chớm lạnh, ấy cũng là lúc quê tôi bước vào mùa gieo rau cải thìa. Cải thìa cùng với cải củ là hai thứ rau được ngóng chờ và gieo trồng sớm nhất trong vụ đông xuân.  

Tôi nhớ rất rõ mảnh vườn nhỏ của gia đình ngày trước nằm lọt thỏm bên kia con suối, chuyên dùng để trồng rau. Vườn ở bờ bên kia nên đàn gà nhà chẳng thể mò sang phá phách, nhờ thế mà năm nào bố cũng đỡ được khoản đan phên nứa rào quanh. Cạnh gốc sung già xù xì, bố bắc một cây cầu nhỏ vừa bằng thân cây tre đực. Giữa dòng, bố dựng trụ chống bằng hai đoạn tre chụm đầu vào nhau, phía trên buộc thêm thanh tre nhỏ làm tay vịn. Những năm mưa lớn, nước lũ từ thượng nguồn đổ về ngập trắng, cuốn trôi cả cầu. Lại có những lần gầm cầu bị mục chưa kịp thay, tôi gánh phân sang vườn, cầu gãy đôi khiến cả người lẫn thùng rơi nhào xuống suối...  

Mùa hè, lũ bạn chăn trâu cùng lứa rất thích kéo sang nhà tôi chơi rồi rủ nhau ra suối tắm. Khúc suối chảy qua vườn nhà tôi vừa rộng lại ít rong rêu, lòng suối trải toàn cát sỏi nên nước sâu mà trong vắt, bơi lội thỏa thích mà không lo đục. Cả đám hò reo rồi leo lên thành cầu, nhảy "tùm" xuống dòng nước mát lạnh. Hụp lặn chán chê, chúng tôi lại thi nhau đi qua cầu mà không bám tay vào thanh vịn. Nhiều đứa cố trổ tài nhưng chỉ đi chưa đầy nửa đoạn đã chới với, vội chộp lấy thanh tre hoặc ngã ùa xuống nước. Tiếng cười trong trẻo rộn rã cả một khoảng trời.  

Sau những đợt mưa rào, nền đất nắng hanh co lại cứng đơ. Muốn trồng rau, việc đầu tiên là phải cuốc đất cho tơi xốp, xới luống, đào hố rồi bón lót bằng phân chuồng trước khi đánh cây giống ra trồng. Cây cải thìa tuy dễ sống, lớn nhanh, nhưng phải có phân chuồng thì năng suất mới cao, lá mới mềm và vị mới ngọt đậm; nếu lỡ bón nhiều phân hóa học, bẹ rau sẽ cứng mà ăn lại nhạt thếch. Trồng xong, gặp những ngày nắng gắt, bố lại chặt những cây chuối đã thu hoạch buồng, bóc lấy bẹ, cắt thành từng đoạn dài hơn gang tay để úp che cho cây con. Cứ sáng sớm, tôi lại chạy sang vườn úp bẹ chuối che nắng, chiều mát lại mở ra tưới nước. Chăm chút tỉ mỉ như thế suốt cả tuần liền cho đến khi cây rau cứng cáp mới thôi.  

Cải thìa nhờ được bón lót kỹ và tưới tắm đều đặn nên lớn nhanh như thổi. Chỉ khoảng hai tuần sau khi đặt xuống đất, cây rau đã cao gần gang tay, lá xanh non mỡ màng. Cuống lá phình to như chiếc thìa cong căng mọng, màu trắng muốt, ôm ấp lấy nhau gọn gẽ. Cả cây rau trông như một bông hoa xanh trắng xinh xắn, mát mắt vô cùng. Lúc này, bố lại dặn bón thúc bằng nước giải pha loãng hoặc rắc ít tro bếp vun vào gốc, rồi hàng ngày cặm cụi bắt từng con sâu, nhổ từng ngọn cỏ. Chẳng mấy hồi, vườn rau đã xanh mướt một màu, sẵn sàng cho bữa hái đầu tiên.  

Khi những loại rau vụ xuân hè đã tàn dần và ăn không còn ngọt đậm, cây cải thìa đầu mùa càng trở nên quý giá. Nhất là khi mùa cải thìa lại rơi đúng vào dịp giáp hạt. Bữa cơm ngày ấy thường độn đầy khoai, sắn, nhưng chỉ cần có thêm bát canh cải thìa là cảm thấy sang trọng lắm rồi. Cải thìa ăn ngọt mát, không hề có vị nhặng đắng như cải bẹ hay cải nương. Ngày đó mì chính (bột ngọt) là thứ hàng hiếm nên vị ngọt tự nhiên của cải thìa càng được yêu thích. Lá cải thìa xào với mỡ lợn óng ánh, ăn với cơm no căng bụng mà vẫn thấy thèm. Đặc biệt, khi nấu canh khoai sọ hay khoai nước, thả thêm nhúm rau cải thìa vào thì nước canh ngọt lịm mà không bị bứ. Tôi mê nhất là canh cải thìa và canh bí đỏ, bởi hai món này chẳng cần nêm mì chính vẫn ngọt đậm, trôi cơm.  

Thế nhưng, mảnh vườn ở bên kia suối tránh được đàn gà nhà thì lại trở thành "mục tiêu" của chim rừng. Có những khi vườn rau đang xanh mơn mởn, chỉ qua mươi ngày, lũ chim xà xuống mổ xơ xác, chỉ còn trơ lại vài cuộng lá chĩa thẳng lên trời. Bố tôi nghĩ cách dùng thân cây chuối cùng bao tải, quần áo cũ để dựng bù nhìn. Ban đầu chim còn sợ, nhưng lâu dần chúng đâm quen. Đầu tiên chúng chỉ mổ những cây rau xa bù nhìn, hoặc vài con bạo dạn mới dám sà xuống, số còn lại đậu trên cành cao ngó nghiêng và kêu inh ỏi. Sau chúng rủ cả đàn xuống phá. Táo tợn nhất là lũ chào mào đầu đỏ, sáo sậu, chim ri, chích chòe, bìm bịp, và thi thoảng có cả mấy con gà rừng từ núi sâu mò về.  

Khi bù nhìn mất linh, ban ngày anh em chúng tôi phải thay nhau chạy sang vườn đuổi chim, vừa chạy vừa xua tay hô "ồ... ồ..." để dọa. Về sau, bố nghĩ ra một sáng kiến độc đáo: ngồi tại nhà vẫn có thể đuổi chim bên vườn. Bố chọn cây nứa to thẳng, một đầu chẻ xòe thành nhiều tua nhỏ dài chừng sải tay, đầu kia chôn chặt xuống đất. Bố buộc sợi dây thừng vào lưng chừng thân nứa rồi dẫn dây qua dòng suối về tận hiên nhà. Để dây không bị xà xuống đất, bố đục lỗ xuyên qua hàng chục cọc tre cao quá đầu người làm đường dẫn. Phía bên kia vườn, bố chọn một cây tre nhỏ mềm chôn xuống làm đối trọng kéo rút như chiếc lò xo.  

Mỗi khi thấy bóng chim sà xuống, chỉ cần ngồi ở hiên nhà giật nhẹ sợi dây, cột nứa bên kia lập tức lắc lư, những thanh nứa chẻ nhỏ gật gù như cánh tay vẫy, va vào nhau tạo nên âm thanh "rào rào" giòn giã khiến lũ chim hoảng sợ bay đi. Anh em chúng tôi gọi đó là "cây kẻng báo động". Những chiều vừa ngồi học bài, tôi vừa được phân công trực dây kéo đuổi chim. Có bận mải chơi quên giật dây, để chim phá nát vạt rau, tối về thế nào cũng bị bố la rầy và ăn mấy roi vào mông cho nhớ.  

Sợi dây kéo ban đầu làm bằng dây sắn rừng rất nặng và mau đứt vì không chịu được mưa nắng. Tôi hồi ấy còn bé, mỗi lần giật dây phải dùng hết sức mình, chân đạp vào bậu cửa, ngả cả người ra sau mới kéo nổi. Sau này, bố dặn mấy bà buôn hàng xén dưới xuôi mua cho cuộn dây dù nilon, việc giật kẻng mới nhẹ nhàng hơn. Bố còn treo thêm cái mõ trâu cũ và mấy cái vung xoong hỏng vào cột nứa để tạo nên những âm thanh náo nhiệt, dữ dội hơn nữa.  

Đầu đông trời ít mưa, thời tiết khô hanh nên ngày nào cũng phải tưới rau. Thời đó chưa có điện hay máy bơm, mọi việc đều trông vào đôi tay. Tôi lội xuống suối gánh từng thùng nước lên, dùng gáo dừa hoặc "cóng bơ" vỏ hộp sữa bò múc tưới từng gốc. Riêng với luống rau giống mới gieo còn non nớt, bố tôi sáng tạo ra chiếc "ô doa" bằng cây vầu. Bố chọn đoạn vầu to ba bốn đốt đục thông nhau, một đầu gắn với quả bầu khô dùi nhiều lỗ nhỏ. Khi múc nước, tôi dùng mảnh vải dày bịt đầu quả bầu lại; lúc tưới thì mở ra để nước tỏa thành những tia nhỏ mịn như sương mờ. Chiếc bình tưới tự chế tuy thao tác có phần lềnh kềnh nhưng lại giữ cho mầm rau non mong manh không bị đổ ngả hay dập nát. Ngày ấy, một chiếc bình ô doa bằng tôn ở chợ huyện là cả một tài sản lớn mà nhà tôi chẳng thể nào mua nổi.  

Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.  

Ngày ấy, cuộc sống còn nhiều gian khó, hạt gạo làm ra không đủ ăn nên bữa cơm lúc nào cũng phải độn khoai độn sắn. Việc trồng rau tưởng chừng đơn giản nhưng lại vô cùng vất vả. Nhờ có mảnh vườn nhỏ bên suối và sự tảo tần chăm chút của bố mẹ, gia đình tôi mới luôn có sẵn những luống rau xanh sớm nhất vùng. Mẹ thường sai tôi ôm những bó cải thìa đầu mùa sang biếu xóm giềng. Cầm trên tay những bó cải cuộng trắng ngần, lá xanh nõn nà được buộc gọn bằng sợi dây chuối khô mềm mại, tôi cứ ngơ ngẩn tưởng như mình đang ôm trọn những đóa hoa thần kỳ, những "nàng tiên xanh" bước ra từ câu chuyện cổ tích tuổi thơ...  

Giờ đây, khoa học công nghệ phát triển, cuộc sống đã đổi thay nhiều. Việc trồng rau trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn xưa nhờ có máy bơm, lưới che, phân bón sinh học... Dù ở nông thôn hay thành thị, chỉ cần một mảnh vườn nhỏ hay khoảng sân thượng, vài thùng xốp, chậu nhựa, người ta cũng có thể tự tay gieo trồng những luống rau sạch, an toàn cho gia đình, vừa mang lại không gian xanh vừa tìm thấy sự thư thái cho tâm hồn.  

Thế nhưng, mỗi khi heo may về, nhìn những bẹ cải thìa trắng muốt nằm ngoan ngoãn trong rổ rau nơi góc bếp, lòng tôi lại rưng rưng nhớ về mảnh vườn bên suối, nhớ chiếc cầu tre nghiêng nghiêng, tiếng kẻng đuổi chim xào xạc và bóng dáng tảo tần của bố mẹ một thời gian khó...  

N.H.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm