TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực

Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-10-08 21:54:14
mail facebook google pos stwis
30 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Từ hình tượng đến biểu tượng

Trước hết, cần phân biệt hình tượng và biểu tượng. Có thể hiểu đơn giản: hình tượng là hình ảnh nghệ thuật được nhà văn, nhà thơ xây dựng để thể hiện con người, sự vật, cuộc sống và tư tưởng, cảm xúc; còn biểu tượng là hình tượng đã vượt ra khỏi chính nó để gợi lên một ý nghĩa rộng hơn, sâu hơn và có tính khái quát.

Chẳng hạn, trong câu ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen:

Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng.
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

(nguồn Thi viện)

Ban đầu, sen là một hình tượng, một sự vật cụ thể trong tự nhiên. Nhưng sen không chỉ còn là sen. Từ đặc điểm “gần bùn” mà “chẳng hôi tanh mùi bùn”, hình ảnh sen trở thành biểu tượng cho phẩm chất trong sạch, thanh cao của con người, đặc biệt là khả năng giữ gìn phẩm giá trong hoàn cảnh không thuận lợi. Như vậy, hình tượng trả lời câu hỏi “đó là gì?”, còn biểu tượng thường mở ra câu hỏi “nó còn có thể gợi đến điều gì?”.

Một nhân vật văn học cũng có thể trở thành biểu tượng. Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du trước hết là một nhân vật cụ thể với tài năng, nhan sắc, tình yêu và số phận riêng. Nhưng vượt khỏi câu chuyện của một người phụ nữ trong xã hội phong kiến, Kiều còn trở thành biểu tượng cho thân phận người phụ nữ tài sắc nhưng đau đớn, bất hạnh, đồng thời gợi lên bi kịch của con người khi tài năng, tình yêu và khát vọng sống bị chà đạp. Tương tự, trong Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, con tàu không chỉ là phương tiện vận chuyển. “Con tàu” và “Tây Bắc” trở thành biểu tượng của khát vọng lên đường, đi xa, đến với nhân dân, với cuộc đời và tìm lại nguồn cảm hứng sáng tạo:

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu.

Hoặc trong bài thơ Ánh trăng (Nguyễn Duy), ánh trăng vừa là một hình ảnh thiên nhiên vừa trở thành biểu tượng của quá khứ nghĩa tình, của những năm tháng gian lao, của nhân dân và những giá trị từng gắn bó với con người nhưng đôi khi bị lãng quên trong cuộc sống hiện tại.

Điều đáng chú ý là, không phải cứ hình ảnh nào xuất hiện trong thơ cũng là biểu tượng. Một hình ảnh trở thành biểu tượng khi nó được đặt trong một hệ thống ngữ cảnh khiến người đọc nhận ra phía sau hình ảnh cụ thể ấy là một lớp nghĩa rộng hơn. Vì vậy, có thể hình dung quá trình này như sau: Từ sự vật - hình ảnh nghệ thuật - hình tượng - biểu tượng - và cuối cùng là ý nghĩa khái quát.

Tuy nhiên, quá trình trên không phải lúc nào cũng diễn ra theo một công thức cứng nhắc. Có những biểu tượng đã được cộng đồng sử dụng lâu dài; cũng có những biểu tượng chỉ thực sự xuất hiện trong một khoảnh khắc sáng tạo của nhà thơ. Và đây chính là điểm quan trọng để chúng ta bước vào thế giới của thơ cổ điển, thơ tượng trưng, siêu thực.

 

Biểu tượng là “chìa khóa” để giải mã thế giới thơ

Nếu chỉ đọc thơ bằng nghĩa trực tiếp của câu chữ, người đọc rất dễ bỏ qua phần sâu sắc nhất của tác phẩm. Bởi thơ thường nói ít mà gợi nhiều. Một hình ảnh có thể chứa đựng cả một hệ thống tư tưởng, cảm xúc và văn hóa. Có thể xem biểu tượng như một chiếc chìa khóa để mở cánh cửa thế giới thơ. Nhưng mỗi thời đại, mỗi phong cách thơ lại có cách tạo ra và sử dụng biểu tượng khác nhau.

Với thơ cổ điển thời trung đại, biểu tượng thường mang tính ước lệ, quy phạm. Trong văn học trung đại, đặc biệt dưới ảnh hưởng của mỹ học cổ điển, nhiều hình ảnh thơ đã được cộng đồng văn hóa sử dụng lâu dài và trở thành những “mã” nghệ thuật quen thuộc. Đó là những hình ảnh như tùng, trúc, mai gợi người quân tử; liễu, đào thường gợi tuổi trẻ, người đẹp hoặc mùa xuân; con cò gắn với người nông dân, người phụ nữ; chim bằng, chí tang bồng, tung hoành gợi khát vọng lập công, lập nghiệp; trăng, rượu, hoa trở thành những hình ảnh quen thuộc của đời sống tao nhân mặc khách... Đặc điểm của hệ thống này là người sáng tác và người tiếp nhận cùng chia sẻ một “mã văn hóa”. Khi đọc “tang bồng”, người đọc trung đại có thể liên tưởng đến chí làm trai; đọc “tùng”, “trúc” có thể liên tưởng đến phẩm chất người quân tử.

Trong Tỏ lòng, Phạm Ngũ Lão viết: “Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu/ Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”. Hình ảnh người tráng sĩ “cầm ngang ngọn giáo” và khí thế “nuốt trôi trâu” được xây dựng theo một hệ thống mỹ học đề cao chí khí, tầm vóc và lý tưởng của con người thời đại. Ở Nguyễn Công Trứ, những hình ảnh về chí làm trai, nợ tang bồng, công danh, tung hoành cũng nằm trong hệ thống biểu tượng ấy:

Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc,
Nợ tang bồng vay trả, trả vay.
Chí làm trai nam bắc đông tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.

Đặng Dung trong Cảm hoài viết: “Thời lai đồ điếu thành công dị/ Vận khứ anh hùng ẩm hận đa”. Con người xuất hiện trong mối quan hệ với thời thế, công danh và chí lớn. Cách biểu đạt ấy chịu ảnh hưởng rõ rệt của tư duy cổ điển: đề cao lý trí, trật tự, khuôn phép, lý tưởng và những giá trị được cộng đồng thừa nhận.

Nói cách khác, trong thơ cổ điển, biểu tượng thường mang tính cộng đồng cao hơn tính cá nhân. Nhà thơ sử dụng những hình ảnh mà người đọc đã quen với ý nghĩa của chúng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến thơ trung đại đôi khi tạo cảm giác ước lệ, khuôn sáo hoặc xa cách với người đọc hiện đại. Nhưng cần hiểu rằng đó không đơn thuần là sự “khô khan”. Đằng sau hệ thống hình ảnh ấy là cả một “mã văn hóa” mà người xưa cùng chia sẻ.

Bước sang thơ hiện đại, đặc biệt là thơ tượng trưng và những khuynh hướng thơ có yếu tố siêu thực, quan hệ giữa hình ảnh, ý nghĩa và biểu tượng có sự thay đổi đáng kể. Nếu biểu tượng cổ điển thường được hình thành qua sự quy ước và sử dụng lâu dài của cộng đồng, thì biểu tượng hiện đại có thể được nhà thơ tạo ra trong chính khoảnh khắc sáng tạo. Một hình ảnh có thể không có ý nghĩa tượng trưng cố định từ trước. Nó trở thành biểu tượng nhờ trực giác, liên tưởng, cảm xúc, tiềm thức, vô thức và thế giới nội tâm riêng của nhà thơ.

Đây là lý do thơ tượng trưng thường chú ý đến nhạc tính, cảm giác, liên tưởng và sự giao thoa giữa các giác quan. Chẳng hạn, trong Nguyệt cầm, Xuân Diệu viết:

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh

Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần...

Trăng, đàn, âm thanh, cái lạnh và cảm giác không còn tồn tại như những sự vật tách biệt. Các giác quan dường như giao thoa với nhau. Ánh sáng có thể được cảm nhận như âm thanh; âm thanh có thể tạo ra cảm giác về màu sắc, nhiệt độ, không gian... Đó chính là một biểu hiện của ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, một thủ pháp thường gặp trong thơ tượng trưng.

Ở Đàn ghi ta của Lor-ca, Thanh Thảo viết:

những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt...

“Tiếng đàn” vốn là âm thanh nhưng lại được hình dung thành “bọt nước”. Một âm thanh vô hình được chuyển thành một hình ảnh có hình khối, màu sắc và trạng thái. Đến phần sau bài thơ, hình ảnh: “giọt nước mắt vầng trăng/ long lanh trong đáy giếng” lại tạo nên những liên tưởng không hoàn toàn tuân theo logic thông thường. Ở đây, người đọc không thể chỉ hỏi hình ảnh này có nghĩa gì theo từ điển, mà phải hỏi những hình ảnh này gợi cho ta cảm giác, liên tưởng và tầng nghĩa nào.

Thơ Hàn Mặc Tử cũng là một trường hợp đặc biệt. Trăng, máu, hồn, ánh sáng, bóng tối, vườn, gió... trong thế giới thơ ông nhiều khi không còn được hiểu theo nghĩa thông thường. Chúng liên tục biến đổi, kết nối với nhau bằng những liên tưởng mạnh và bất ngờ. Thơ tượng trưng và thơ siêu thực không đơn giản là thơ “khó hiểu”. Cái khó nằm ở chỗ quan hệ giữa hình ảnh và ý nghĩa không còn được tổ chức hoàn toàn bằng logic lý trí thông thường.

Cũng nên thấy sự khác nhau giữa thơ cổ điển và siêu thực thông qua biểu tượng. Nếu thơ cổ điển thường đi từ quan sát - chiêm nghiệm - khái quát rồi đến biểu tượng, thì ở nhiều sáng tác tượng trưng, siêu thực, nhà thơ có thể đi từ cảm giác - trực giác - liên tưởng bất ngờ - hình ảnh - biểu tượng. Có khi chỉ một khoảnh khắc “lóe sáng” của cảm xúc hoặc trực giác đã tạo ra một hình ảnh thơ mà chính nhà thơ cũng không cần giải thích theo một chuỗi lý luận lý trí thông thường. Vì thế, khi đọc thơ tượng trưng, siêu thực, không nên cố “dịch” từng câu thơ thành một câu văn xuôi có nghĩa duy nhất. Cần chú ý đến âm thanh, màu sắc, nhịp điệu, cảm giác, sự liên tưởng và mối quan hệ giữa các hình ảnh.

 

Từ biểu tượng đến cách đọc thơ cổ điển, siêu thực

Từ đây, có thể kết luận đại khái, hình tượng giúp chúng ta nhận diện thế giới nghệ thuật, biểu tượng giúp chúng ta đi từ hình ảnh cụ thể đến tầng nghĩa khái quát. Tượng trưng cho thấy cách nhà thơ dùng hình ảnh để gợi một thế giới ý nghĩa phía sau cái được nhìn thấy. Siêu thực đẩy sự liên tưởng đi xa hơn logic thông thường, hướng đến những vùng của tiềm thức, vô thức, giấc mơ và những kết nối bất ngờ.

Còn chủ nghĩa cổ điển, lãng mạn, tượng trưng, siêu thực là những cách tổ chức thế giới nghệ thuật khác nhau, trong đó quan niệm về con người, lý trí, cảm xúc, hiện thực và tưởng tượng cũng khác nhau. Có thể khái quát bằng một sơ đồ sau:

HÌNH TƯỢNG

↓

BIỂU TƯỢNG

↓

CÁCH TẠO NGHĨA

↙         ↘

CỔ ĐIỂN     TƯỢNG TRƯNG – SIÊU THỰC

↓         ↓

Ước lệ – quy phạm   Liên tưởng – trực giác

Cộng đồng      Cá nhân

Lý trí        Cảm giác/tiềm thức

Mã văn hóa      Mã nghệ thuật riêng

↓         ↓

Đọc theo quy ước  Đọc theo liên tưởng

Thới An, TP.HCM, 10/2026

T.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm