- Truyện
- Người được chọn - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
Người được chọn - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
Nhà chị Hai thuộc diện nghèo nhất xã đảo Thành An, huyện Cần Giờ. Phía đông xã có con sông Thị Vải hẹp, sâu nhất nước ta. Sông Lòng Tàu rộng mênh mông ở phía nam; đoạn bao quanh xã ở phía tây nông choèn nối vào sông Thị Vải ở phía bắc biến khu vực thành xã đảo. Núi Giồng Chùa nằm ở ấp Thiềng Liềng, thấp nhất nước trong tất cả các ngọn núi đá được đặt tên. Đất chật, người đông, nước ngọt phải chở từ xa đến bằng ghe qua bến tàu duy nhất.
Hồi còn trẻ, chị học rất giỏi Tiếng Anh. Chồng ép chị vượt biên ra nước ngoài bảo lãnh cho gia đình. Từ xã, theo sông Thị Vải ra đến phao số không chưa đến ba chục cây số, không có đường bộ tiếp cận khu vực; nơi đây trở thành điểm xuất phát của những người vượt biên.
Để che mắt bộ đội biên phòng, chiếc ghe khởi hành từ bến tàu của xã, ngược sông Thị Vải về phía thị trấn Phú Mỹ. Dọc đường, ghé vào những bến tạm bằng gỗ đước của bà con giữ rừng phòng hộ đón các gia đình từ ngã ba Ông Trịnh, từ Phú Mỹ được người dẫn đường đưa ra bờ sông theo những lối mòn nhỏ đắp bằng bùn khô giữa rừng đước ra mé sông. Chỉ người dân bản địa, cán bộ rừng phòng hộ, cán bộ địa chính xã đi không bị lạc. Đón năm gia đình, nhồi nhét chật hầm ghe; chủ ghe xuôi ra biển.
Nhìn rừng đước hun hút hai bên bờ, chị nhớ con quặn thắt. Qua Rạch Ngã Năm, nhìn mặt nước xanh thẫm lặng yên, chị lao xuống dòng sông. Đây là khúc sông sâu nhất. Tầng nước mặt chảy lờ đờ. Do độ sâu hơn 40m, nước lạnh buốt và chảy rất xiết ở dưới sâu. Lo sợ chị quay về báo chính quyền vây bắt, những người vượt biên trên tàu nhắm vào chị nổ súng. Chị lặn xuống dòng nước lạnh cóng. Nước đang lên, dòng chảy ngầm cuốn chị đi ngay tức khắc vào phía Rạch Ngã Năm ở phía bờ Phước Hòa – Vũng Tàu. Súng bắn về phía bờ Sài Gòn, nơi họ cho rằng chị sẽ bơi về lại quê hương…
Con tàu xa dần về hạ lưu. Chị về đến nhà, ôm con vào lòng, không dám nhìn mặt chồng. Số vàng cưới, đồ dùng có giá đem bán để có tiền cho chị đi, giờ mất sạch.
Ngại chính quyền xã phát giác, sợ đám người tổ chức vượt biên trả thù, gia đình chị dọn vào đất liền làm ăn sinh sống. Năm sau, chồng chị lao lực, ốm rồi mất, để lại cho chị căn nhà trống trải cùng đứa con trai nhỏ.
***
Thường thì sau giờ làm việc buổi chiều, ghé chợ mua hoa quả, đường sữa, Anh vào bệnh viện thăm chị Hai. Mỗi lần nhập viện, chị nằm ở phòng cấp cứu khoa tim mạch. Đến đó, anh hỏi chị muốn ăn gì, ra căn tin bệnh viện mua. Anh nghèo, tiền thăm nuôi ở mức mua thức ăn trong khoảng thời gian anh không ghé thăm.
Khoa tim mạch có tình cảm đặc biệt với chị Hai. Chị là bệnh nhân nặng, rất nghèo, chỉ dùng tiêu chuẩn bảo hiểm y tế, không có người nhà thăm nuôi. Anh là người duy nhất thăm nuôi chị Hai và chỉ là người quen. Mỗi khi bác sỹ cần ký giấy tờ cho chị Hai, đều được anh xác nhận lại như vậy trước mặt chị. Chị nghe, dửng dưng, không buồn, chẳng giận…
***
Anh quen với chị Hai từ thời làm công tác giải tỏa dự án. Chị làm ở Ủy ban xã. Cũng là người xa xứ, anh được chị tận tình giúp đỡ. Từ chuẩn bị phòng họp, hỏi giúp số điện thoại những người có đất đang làm ăn xa, trình ủy ban xã ký xác nhận giấy tờ giúp Ban điều hành… đến khuyên bà con trong diện giải tỏa giao đất, anh đều nhờ chị.
Công tác giải phóng mặt bằng phức tạp, giải quyết các sai sót về đo đạc, cấp phép, mua bán, tranh chấp đất đai… lũy kế từ trước đến nay. Luôn đụng đến quyền lợi lớn nhất của người dân trong diện đền bù giải tỏa. Vốn hiền lành, chất phác, thẳng thắn, anh luôn minh bạch, hết lòng với bà con bị ảnh hưởng. Anh nói đúng pháp luật, đúng sự thật và chân thành khuyên bà con điều hơn lẽ thiệt.
Có một lần, bà Bảy gặp anh ở Ủy ban, trước mặt chị Hai, bà bức xúc:
- Có con Hai đây biết, nhà tui hơn trăm mét vuông ở mặt lộ, các chú đền không đủ tiền mua nhà năm chục mét vuông ở bên trong ruộng.
Kinh nghiệm cho anh biết những người phụ nữ dữ tính, bức xúc, nói năng đốp chát như bà Bảy, nếu không bị áp đặt mà được tôn trọng, lắng nghe, được đối xử minh bạch, chân tình lại chính là những người dễ vận động họ đồng ý nhận tiền bồi thường, dỡ nhà giao đất. Anh cầm tay bà:
- Ở đời, ai cũng phải gặp một lần tai nạn. Dì coi như đây là tai nạn. Nhà của con ở thành phố, lấy vào cả chục mét đất có được đền bù đâu, còn không được trừ vào sổ đỏ để giảm thuế. Dì Bảy chấp hành quyết định di dời của Nhà nước, con đường rộng thêm. Con cháu sau này đi trên đường rộng là được hưởng phước của dì Bảy đó.
Bà Bảy vẫn ấm ức:
- Lần nào họp, cán bộ cũng leo lẻo: “Bồi thường thỏa đáng”.
Đụng chạm đến quyền lợi, ai mà không bức xúc, chỉ có thẳng thắn, minh bạch mới tin nhau, thêm chân tình, mới xây dựng được tình người, sau đó, sẽ trao đổi, thảo luận được với nhau. Anh cười trừ:
- Thì cháu nhắc lại: “Bồi thường theo giá Nhà nước quy định”.
Bà Bảy bắt bẻ:
- Sao Nhà nước tính với dân rẻ vậy?
Anh ôn tồn:
- Giá đất, Nhà nước tính theo giá trị đất đóng thuế. Dì xem biên lai thu thuế đất của nhà mình; giá đất tính thuế rẻ như bèo. Nhà cửa, Nhà nước tính theo giá xây dựng mới, không trừ phần trăm hư hỏng do lâu ngày. Chi phí di dời, ăn ở đều tính đủ. Còn giá đất dì Bảy tính do cò nhà đất đưa ra. Ở diện giải tỏa, cò sẽ tính giá bằng không vì không mua bán được. Đầu tuần, Dì mang chứng minh thư, sổ đỏ ra Ủy ban nhận tiền bồi thường giúp cháu! Khi nào chuyển nhà, nhắn chị Hai gọi cháu nhờ anh em xuống phụ…
Ở quốc gia nào và thời nào, luôn có bộ phận dân nghèo chịu thiệt thòi trong công cuộc tăng trưởng kinh tế. Trong các dự án, họ được gọi chung bằng cái tên: “những người dễ bị tổn thương”.
***
Thằng Lộc lấy vợ, con dâu của chị đẹp kiêu sa, sanh cháu gái đầu lòng đẹp như bông hoa rừng mọc bên suối. Chị đã nghèo, không phải cán bộ có chức vị quan trọng nên anh không thể đặt vấn đề “bồi dưỡng” cho chị. Anh chỉ còn cách mua sách vở, đồ chơi, hàng tháng lĩnh lương, cho cháu bé ít tiền để “mua những thứ bé thích”. Nhờ dư luận từ những người dân bị ảnh hưởng của dự án nên anh được cả nhà quý mến.
***
Dự án hoàn thành, anh chuyển công tác về một cơ quan ở thành phố gần gia đình. Quê hương thứ hai của chị bước vào thời hậu dự án. Núi mồ côi thành công trường khai thác đá, cát. Rừng ngập mặn bị triệt phá hoàn toàn cho các khu công nghiệp, kho bãi thành hình. Dòng Thị Vải xanh mướt đôi bờ nay san sát các bến cảng chuyên dụng xã dầu nhớt, chất thải biến mặt nước xanh đổi sang màu đen, bốc mùi hôi thối. Mảnh đất nhiều vùng sinh thái, đa dạng sinh học tồn tại hài hòa với con người qua bao đời nay, trở thành phế tích. Chúng ta không đủ trình độ để giảm thiểu tối đa rủi ro khi làm dự án. Báo cáo đánh giá tác động môi trường trở thành cuốn văn bản khoa học viễn tưởng. Mẹ thiên nhiên giãy giụa trong cơn hấp hối. Bờ bên kia, quê chị, dù nghèo, vẫn giữ được mầu xanh cho ốc đảo, đêm đến ánh điện lung linh thành hạt ngọc xanh giữa mầu đen của nước bao quanh.
***
Mấy năm sau, anh nhận được điện thoại của chị. Vào thăm, trước mắt anh là mộtngười tàn tạ, chỉ còn có đôi mắt rực cháy khát vọng sống. Chị bị bệnh tim giai đoạn cuối, luôn bị rung nhĩ, đau đớn, ngạt thở do tim không bơm đủ máu.
Chị thường hỏi anh có còn nhớ những cán bộ ở ủy ban thời dự án đang dang dở. Anh hỏi nhiều về bà con chòm xóm. Những người có thu nhập cao trong các khu công nghiệp tràn về đẩy giá đất lên; như con lũ lớn đẩy những cư dân bản địa trôi dạt muôn phương. Một số bị nhấn chìm, số còn lại trở thành các ốc đảo của tình người. Con người trở nên nghi kỵ, lo đối phó nhau, khiến quỹ thời gian dành cho mưu sinh bị vắt kiệt.
Ô nhiễm môi trường, ô nhiễm văn hóa không từ một gia đình nào.
Người ngoài ấp mở chiếu bạc, cá độ, đánh đề, cho vay nặng lãi… Những người anh quen, nhiều người đã chết, kẻ nhảy lầu tự tử do bị người thân, ruột thịt lừa gạt... Ấp nhỏ ven núi ngày xưa, hiền hòa, đầy tình người là vậy mà khi đường rộng, khu công nghiệp lớn, bến cảng nước sâu thành hình đã biến những cư dân bản địa vốn nghèo khó thành những người dễ bị tổn thương của xã hội hiện đại văn minh.
Văn hóa bị ô nhiễm. Nhà quá nghèo, chồng lam lũ không đủ miệng ăn, vì quá đẹp, con dâu của chị được một người giàu sang rước mất. Con trai của chị lấy vợ hai. Đẻ được đứa cháu trai trong bầu không khí ô nhiễm, mắc bệnh hiếm về não, không có thuốc đặc trị, thế giới chưa có phác đồ điều trị. Con dâu bị bệnh tắc nghẽn phổi mạn tính, thành người tàn phế. Chị bị bệnh tim; không có nhiều tiền để thuốc men, bệnh cứ âm thầm nặng dần, phải bỏ việc ở ủy ban xã vào thời điểm xã chuyển thành phường…
***
Anh không hiểu tại sao, sáng nay, khi nghe chị Hai điện đã nhập viện, anh xin nghỉ việc ở cơ quan vào ngay bệnh viện thăm chị.
Anh cũng không hiểu tại sao và vì lẽ gì mà anh có mặt trong phòng cấp cứu đúng những giây phút đó vì về nguyên tắc, anh không được phép vào phòng cấp cứu trong giờ làm việc, nhất là anh cũng không phải người nhà của bệnh nhân…
Lúc đó, cửa phòng cấp cứu khóa. Anh đi vòng quanh cho đến lúc quay lại cửa phòng đúng vào lúc một người đàn ông trung niên cặp thẻ từ mở cửa phòng đưa bình thép đựng oxy vào và hỏi anh sao không vào. Anh bước qua cửa; gạt tay cô y tá: “Chú vào thăm bệnh nhân không có người nhà thăm nuôi”. Nhận ra người quen, cô y tá chỉ vào chiếc giường cạnh cửa sổ.

Minh họa: AI.
Chị Hai ngồi, mặt tím tái, hổn hển thở.Bác sỹ bảo “lau nước nóng sẽ đỡ”... Anh lục túi tìm khăn, chị thều thào:
- Khăn giặt chưa khô, để ở phòng...
Anh rút khăn mùi soa tưới nước nóng lau mặt cho chị. Chị gạt đi:
- Đừng lau - đoạn quay qua bà già nuôi chồng ở giường bên nhờ: - chị Chín cài giúp cúc áo cho em…
Lúc đó anh mới thấy bộ ngực xám ngoét không mang áo ngực. Anh lấy khăn giấy thấm mồ hôi trên trán, lau vệt ghèn ở mi mắt trái cho chị; động viên:
- Chị cố gắng thở sâu, máu đủ ô xy sẽ hết lạnh.
Chị thều thào:
- Em rút điện đèn chiếu…
Vậy là chị đã hết lạnh, nên muốn tắt đèn hồng ngoại sưởi ấm. Nhịp thở của chị trở lại bình thường. Anh lấy hộp sữa, vặn nắp cắm ống hút vào:
- Chị uống sữa cho lại sức.
Chị lắc đầu, quay về phía bà Chín nhờ đỡ lưng, nằm xuống nghỉ mệt. Mặt chị vẫn tím bầm màu đen. Chị bảo:
- Đau quá, bóp ngón chân …
Anh bóp các đầu ngón chân, động viên:
- Gắng thở sâu, máu xuống đến ngón chân sẽ hết đau.
Chưa đầy phút, tiếng “bục” phát ra từ ngực chị Hai. Dù không có kiến thức về tim mạch, anh hiểu ngay tiếng tim vỡ. Đầu chị ngoẹo sang phía bên phải, đôi mắt mở to, tròng đen hướng về phía anh, đứng lại. Anh bật dậy gọi thất thanh:
- Cứu… cứu chị Hai.
Các Bác sỹ và y tá, điều dưỡng lao tới. Anh bị đuổi ra khỏi phòng để các bác sỹ cấp cứu bệnh nhân ngừng tim.
Qua khung kính mờ, anh thấy các bác sỹ đang ấn vào ngực, xoa bóp tim…
Đã hơn 5 phút trôi qua, bóng người vẫn chuyển động trong khung kính mờ. Dù không có kiến thức về bệnh tim, anh tin chắc chị Hai đã ra đi. Bà con xung quanh giục anh gọi người nhà đến để tránh bị đưa xuống nhà đại thể, phải làm thủ tục nhiêu khê, đóng nhiều tiền. “Tiền”, Anh bực mình rủa thầm: đến chết vẫn bị tiền hành hạ; sao không cầu có phép màu làm chị Hai sống lại. Đã nhiều lần anh nhắc nhưng chị Hai không chịu đưa số thoại của con trai chị. Không hiểu sao, khác với bà con xung quanh, tự nhiên anh thấy bình tĩnh lạ thường. Anh tìm số điện thoại của ông Lãm chủ tịch ủy ban xã thời anh còn ở dự án, gọi xin số điện thoại của cháu Lộc.
- Tôi cho anh số điện thoại bà Hai để anh hỏi – ông Lãm trả lời.
Anh nhờ ông Lãm ghé nhà chị Hai, lấy số điện thoại của bất cứ người nào trong nhà chị Hai cũng được. Anh có việc gấp, rất cần sự trợ giúp của người nhà chị Hai.
- Bà Hai không còn ở địa phương. Bả bán nhà lấy tiền mua nhà cho con để gia đình nó ở gần nơi làm việc. Cách nay hơn năm, Bả có ghé Ủy ban nhờ đòi lại số tiền cho người quen vay để có tiền lời chữa bệnh. Bả không làm giấy tờ cho vay, bị giựt nợ. Ủy ban có mời hai người hòa giải; không thành. Từ đó đến nay hổng biết bả ở đâu…
Cửa phòng cấp cứu mở ra, anh được gọi vào. Cô y tá giao cho anh quả bóng Ambu (quả cầu cao su để bóp ô xy) lòng thòng một đầu dây nối với nguồn ô xy gắn trên tường, đầu kia luồn vào miệng chị Hai; hướng dẫn anh bóp theo nhịp thở. Ngực chị Hai phập phồng theo nhịp tay của anh nhưng mắt chị nhắm nghiền và da mặt đen sạm. Anh tranh thủ một tay bóp quả bóng Ambu, tay còn lại kéo chăn đắp kín nửa trên thân thể chị xám ngắt không chút vải che thân, nhặt vội mấy sợi tóc vương trên trán chị Hai. Da thịt chị nhớt nhát, lạnh ngắt. Cô y tá đi vào phòng trực, lại đi ra cùng bác sỹ trẻ, bảo anh ngưng bóp. Đường sin trên màn hình máy chuyển thành đoạn thẳng. Bác sỹ ấn vào nút in, một đoạn băng được máy in ra là đường thẳng. Đoạn băng được cắt ra mang vào phòng trực. Anh tiếp tục bóp quả cầu, đường thẳng trở thành hình sin. Lát sau, cô y tá bước ra bảo anh dừng tay, nói:
- Người nhà nộp hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân để làm giấy chứng tử.
Anh lấy chiếc điện thoại cùi bắp trong túi áo ngực vứt cạnh thi thể chị. Không có số điện thoại của cháu Lộc trong danh bạ điện thoại. Anh bấm vào số điện thoại của ông Lãm, nhờ ông thông báo cho cháu Lộc biết mẹ của cháu đã mất:
- Anh bảo cháu Lộc gọi lại vào số máy của tôi theo tin nhắn tiếp đây ...
Nửa tiếng sau, nhân viên nhà xác đến cùng cô y tá tháo ống dẫn khí từ miệng chị Hai và đám dây nối các điện cực, trên người chị. Anh tháo đôi tất chân, phụ đưa thi thể chị Hai lên xe đẩy. Anh theo chị ra khỏi phòng cấp cứu, nơi mà chắc chắn anh không bao giờ quay trở lại để thăm nuôi chị như bao lần chị nhập viện.
Chuông điện thoại của Anh vang lên, tiếng cháu Lộc thất thần vọng ra trong máy. Anh báo giờ giấc, bệnh viện nơi chị Hai mất, dặn cháu mang theo sổ hộ khẩu, tiền để thanh toán. Cháu Lộc nghẹn ngào:
- Nhà cháu không đủ tiền chữa bệnh cho con. Mẹ bỏ nhà về quê ở với bà ngoại...
Anh cắt lời:
- Con chỉ cần đưa mẹ về đến xã đảo Thành An, ở đó, còn nghèo khó lắm. Ai ra đi đều được bà con góp tiền, công sức lo hậu sự như nhau. Người nơi khác lỡ ra đi ở quê ngoại của con, không có người thân đến nhận cũng được lo như người sinh ra lớn lên ở đó. Tục lệ ngàn đời, tình làng, nghĩa xóm đến nay chưa bị phôi phai. Nếu gia đình con không lo được, báo cho bà con ở xã đảo biết để đón mẹ con về.
Cần Giờ tháng 11 năm 2024