TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga

Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-10-03 00:35:09
mail facebook google pos stwis
21 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh,vn) - "Bỉ ngạn" theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà.  Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy. 

Nhà văn, Tiến sĩ Nguyễn Thị Việt Nga

 

Tôi gặp bỉ ngạn vào những ngày cuối tháng Chín, dưới chân núi Phú Sĩ.

Phía xa, ngọn núi xanh thẫm nhô lên khỏi những tầng mây trắng. Phú Sĩ vẫn mang vẻ tĩnh lặng gần như vĩnh cửu của một ngọn núi đã đứng đó từ rất lâu trước khi chúng ta có mặt và có lẽ vẫn còn đứng đó rất lâu sau khi mỗi đời người đi qua. Còn phía xa, dưới chân núi, trên những triền đất và dọc lối đi, bỉ ngạn đang nở. Đỏ rực. Không phải sắc đỏ dịu dàng của anh đào, cũng không phải sắc đỏ ấm áp của những bông hồng trà tôi gặp rất nhiều trên đất Nhật. Bỉ ngạn đỏ như thể mỗi bông hoa đang tự cháy. Những cánh hoa thanh mảnh cong ngược về phía sau, những sợi nhị dài vươn ra ngoài, chụm lại thành từng cụm hoa vừa mong manh vừa dữ dội. Khi hàng trăm, hàng nghìn bông cùng nở, mặt đất dường như được phủ bằng những đốm lửa.

Tôi đứng khá lâu trước thảm hoa ấy.

Có những loài hoa khiến người ta muốn ngắm. Có những loài hoa khiến người ta muốn chạm vào. Nhưng cũng có những loài hoa khiến ta bỗng muốn biết vì sao nó lại có mặt trên đời với hình hài như thế. Bỉ ngạn đối với tôi thuộc về loại thứ ba.

Ở Việt Nam, bỉ ngạn vẫn là một cái tên tương đối xa lạ. Nhiều người biết đến nó qua phim ảnh, truyện, những câu chuyện về một loài hoa tượng trưng cho tình yêu không thể đoàn tụ. Nhưng ở Nhật Bản, bỉ ngạn (higanbana) lại gần gũi hơn nhiều. Người ta có thể gặp nó ở bờ ruộng, ven đường, bên những nghĩa trang hay trên những triền đất khi tháng Chín về, khi mùa thu dịu dàng đến.

Tên khoa học của loài hoa đỏ thường được gọi là bỉ ngạn là Lycoris radiata, thuộc họ loa kèn đỏ Amaryllidaceae. Cây sống lâu năm nhờ phần thân hành nằm dưới đất. Điều đặc biệt nhất trong vòng đời của nó lại chính là điều đã làm nảy sinh biết bao nhiêu huyền thoại: mùa hoa và mùa lá tách biệt nhau. Cuối hè, đầu thu, từ mặt đất vươn lên những thân hoa xanh, qua ngày tháng, trên đỉnh cành bung ra những đóa đỏ. Khi ấy cây bỉ ngạn hầu như không có lá. Hoa nở rồi tàn. Sau đó lá mới phát triển và tiếp tục một chu kỳ sống khác của cây. Bởi thế mới có câu chuyện được lưu truyền rằng hoa và lá bỉ ngạn đời đời không gặp nhau. Người ta đã kể từ đặc điểm ấy biết bao câu chuyện tình buồn. Rằng hoa nhớ lá, lá nhớ hoa mà không bao giờ được nhìn thấy nhau. Rằng có những kẻ yêu nhau nhưng số phận bắt phải đứng ở hai phía của thời gian. Rằng bỉ ngạn là biểu tượng của tình yêu không thành, của chia ly, của ký ức đau buồn...

Những câu chuyện ấy đẹp. Nhưng tôi nghĩ có lẽ chúng ta cũng cần công bằng với bông hoa: phần lớn những diễn giải lãng mạn ấy thuộc về văn hóa dân gian, văn chương và những lớp huyền thoại được bồi đắp về sau. Bản thân cái tên “bỉ ngạn” còn dẫn chúng ta đến một tầng nghĩa cổ xưa và sâu hơn nhiều.

“Bỉ ngạn” theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà.  Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy. Bỉ ngạn không đơn thuần là nơi người chết đi về. Đó còn là một bờ khác của tồn tại. Từ bờ mê đến bờ giác. Từ phiền não đến giải thoát. Từ những ràng buộc của đời sống hữu hạn đến một cảnh giới mà con người hướng vọng. Có lẽ bởi thế mà giữa hai chữ “bỉ ngạn” luôn có một khoảng cách. Muốn đến bờ bên kia phải vượt qua một dòng sông. Và đứng trước hai bờ ấy, con người buộc phải nghĩ về hành trình của chính mình: Ta đang đứng ở đâu? Ta đang đi về đâu? Và trong khoảng thời gian được sống ở bờ bên này, ta sẽ sống như thế nào?

Ở Nhật Bản, những câu hỏi tưởng như thuần túy triết học ấy đã đi vào đời sống thường nhật qua một phong tục rất đặc biệt: O-Higan. Mỗi năm có hai kỳ Higan, vào xuân phân và thu phân. Riêng Thu Bỉ Ngạn kéo dài bảy ngày, lấy ngày thu phân làm ngày chính giữa, ba ngày trước và ba ngày sau. Năm 2026 này, Thu Bỉ Ngạn của Nhật Bản diễn ra từ ngày 20 đến ngày 26 tháng Chín, ngày 23 tháng Chín là ngày chính giữa. Trong thời gian ấy, nhiều ngôi chùa tổ chức pháp hội; người dân đi viếng mộ, tưởng nhớ tổ tiên và những người thân đã khuất. Tịnh Độ tông Nhật Bản xem đây là một phong tục Phật giáo đặc trưng của Nhật Bản, với lịch sử lâu đời.

Có một lý do nữa khiến xuân phân và thu phân mang ý nghĩa đặc biệt. Vào những ngày ấy, mặt trời lặn về chính Tây. Trong tư tưởng Tịnh Độ, Tây phương là phương của Cực Lạc. Bởi vậy, nhìn mặt trời lặn xuống chân trời phía Tây cũng là một cách hướng tâm tưởng về Tây phương Tịnh Độ. Truyền thống Phật giáo còn có phép quán tưởng mặt trời lặn, gọi là Nissōkan- Nhật tưởng quán. Thế rồi cũng vào những ngày ấy, bỉ ngạn nở. Một sự trùng hợp của tự nhiên đã dần trở thành một cuộc gặp gỡ giữa tự nhiên và tâm linh. Người sống đi trên những con đường có bỉ ngạn nở để đến thăm người đã mất. Sắc đỏ của hoa xuất hiện bên bờ ruộng, lối nhỏ, những vùng đất quanh nghĩa trang. Người ta sửa sang phần mộ, dâng hoa, chắp tay tưởng niệm tổ tiên. Bên kia đường chân trời, mặt trời thu phân đang lặn về phía Tây. Một loài hoa vì thế không còn chỉ là hoa. Nó đứng giữa người còn và người mất, hiện tại và ký ức, thử ngạn và bỉ ngạn. Ngay cả trong đời sống thi ca Nhật Bản, bỉ ngạn cũng đã có mặt trong những suy tưởng về người đã khuất và niềm mong mỏi gặp lại, trở thành nơi ký ức về một người thân yêu tìm được hình hài.

Bởi vậy, tôi nghĩ những câu chuyện về chia lìa quanh bỉ ngạn không phải hoàn toàn vô cớ. Chỉ có điều, đằng sau chia lìa còn có một tầng nghĩa khác: hy vọng về sự gặp lại. Bởi lẽ có bờ bên này thì mới có bờ bên kia. Có chia lìa nên con người mới mong đoàn tụ. Có người đã khuất nên mới có người đứng trước một nấm mộ, lặng lẽ nhớ thương. Và có lẽ, chính bởi đời người hữu hạn nên tình yêu mới có khả năng vượt qua cả giới hạn của một đời người.

Nhưng đứng dưới chân Phú Sĩ hôm ấy, điều khiến tôi nghĩ nhiều nhất về bỉ ngạn lại không phải là cái chết, mà là thời gian. Bỉ ngạn là một loài hoa kỳ lạ bởi sự xuất hiện của nó gần như một tín hiệu của mùa. Tháng Chín, bỉ ngạn đỏ hoa. Thu phân đã đến. Người Nhật từ xưa có câu “Atsusa samusa mo Higan made”: cái nóng, cái lạnh cũng chỉ đến Higan, để nói rằng đến thời điểm ấy, cái nóng gay gắt của mùa hè dần dịu xuống; khi xuân Higan đến, giá lạnh cũng dần lùi xa. Trong đời sống truyền thống, Higan vì vậy vừa là một dấu mốc tâm linh, vừa là một dấu mốc mùa vụ.

Tôi bỗng nghĩ: người hiện đại chúng ta biết thời gian bằng những con số. Một chiếc đồng hồ trên cổ tay. Một con số trên màn hình điện thoại. Một tờ lịch được bóc đi. Một cuộc hẹn sắp đến. Một năm tài chính sắp kết thúc... Nhưng thiên nhiên có những chiếc đồng hồ khác. Một chồi non nhú lên báo rằng mùa xuân đã về. Một tiếng ve gọi mùa hạ. Một chiếc lá đổi màu báo những ngày cuối thu. Và ở Nhật Bản, có một thời điểm những bờ ruộng, những con đường, những triền đất bỗng cháy lên bởi sắc đỏ của bỉ ngạn. Không cần nhìn lịch, người ta cũng biết một mùa đang đi qua. Thiên nhiên không có tiếng tích tắc của đồng hồ. Thiên nhiên có những mùa hoa. Có lẽ vì thế mà đứng trước bỉ ngạn, tôi bỗng thấy thời gian không còn là một khái niệm. Thời gian có màu. Màu đỏ.

Mùa thu đã đi đến thu phân. Một năm lại đang đi về phía cuối. Một mùa hoa nữa lại đến. Và cũng có nghĩa là trong đời mỗi người, một quãng thời gian nữa vừa lặng lẽ đi qua. Chúng ta thường sống như thể mình còn rất nhiều thời gian. Có những điều muốn làm nhưng nghĩ rằng để ngày mai. Có những lời yêu thương muốn nói nhưng cho rằng còn nhiều dịp khác. Có một người muốn gặp, một nơi muốn đến, một cuốn sách muốn đọc, một việc có ích muốn làm, một lời cảm ơn còn chưa kịp nói. Rồi ngày nối ngày. Mùa nối mùa. Cho đến một lúc nào đó, ngoảnh lại, ta mới hiểu thời gian chưa từng dừng lại để chờ mình. Có lẽ đó cũng là một cách hiểu về vô thường...

Vô thường không nhất thiết phải bắt đầu từ cái chết. Nó hiện diện ngay trong từng phút giây của sự sống. Bông hoa đang nở đã mang trong mình khả năng của sự tàn phai. Mùa thu vừa đến đã âm thầm đi về phía mùa đông. Một đứa trẻ lớn lên đồng nghĩa với tuổi thơ của nó đang từng ngày ở lại phía sau. Và mỗi buổi sáng ta thức dậy với thêm một ngày để sống cũng đồng thời là một ngày trong quỹ thời gian đời mình đã được sử dụng.

Nhưng nhận ra vô thường để làm gì? Để buồn ư? Tôi không nghĩ vậy. Tôi nhìn lại những bông bỉ ngạn trước mặt. Chúng vẫn đỏ đến nao lòng. Một mùa hoa ngắn ngủi, nhưng không một bông hoa nào vì biết mình sẽ tàn mà nở ít đi. Bỉ ngạn không dè sẻn sắc đỏ. Nó không giữ lại một phần rực rỡ cho ngày mai. Khi đến mùa phải nở, nó nở đến tận cùng. Những cánh hoa mảnh mai bung ra. Những sợi nhị vươn dài vào khoảng không. Hàng nghìn bông hoa nhỏ bé đứng cạnh nhau biến cả một vùng đất thành biển đỏ. Bỗng nhiên tôi thấy bỉ ngạn không còn là một loài hoa buồn. Trái lại, đó là một loài hoa có một thái độ sống mãnh liệt. Biết hữu hạn mà vẫn rực rỡ. Biết sẽ tàn mà vẫn nở hết mình. Và kỳ lạ hơn nữa: khi bỉ ngạn nở, những chiếc lá không còn ở đó. Người ta đã nhìn sự vắng mặt ấy để kể câu chuyện về chia lìa. Nhưng tự nhiên có lẽ đang kể một câu chuyện khác. Lá đã sống phần đời của lá. Nó nhận ánh sáng, nuôi cây, tích lũy năng lượng vào phần thân hành nằm dưới đất. Khi lá lui đi, sự sống mà nó góp phần tạo nên không mất đi. Đến một mùa khác, từ nơi tưởng như trống vắng ấy, thân hoa bật lên. Vậy thì phải chăng không phải mọi sự vắng mặt đều là mất mát? Có những điều đã không còn trước mắt nhưng vẫn sống trong ta. Một người thầy đã đi qua đời mình nhưng để lại một cách nghĩ. Một người thân không còn nữa nhưng những lời dặn dò vẫn theo ta trong những lựa chọn quan trọng. Một tình yêu đã thuộc về quá khứ nhưng khiến ta trở thành một con người sâu sắc hơn. Một thất bại tưởng như chỉ mang đến đau đớn nhưng nhiều năm sau mới hiểu chính nó đã cho ta sức mạnh. Giống như lá bỉ ngạn. Không còn nhìn thấy, nhưng chưa chắc đã mất đi.

Tôi lại nhìn lên Phú Sĩ. Ngọn núi vẫn đứng đó. Dưới chân núi, bỉ ngạn đang cháy đỏ. Tôi chợt nhận ra trước mắt mình là hai hình ảnh hoàn toàn đối lập của thời gian. Một ngọn núi khiến con người nghĩ đến sự trường tồn. Một mùa hoa nhắc con người về khoảnh khắc. Đời người không thể dài như đời núi. Chúng ta giống mùa hoa hơn. Có một ngày bắt đầu. Có một khoảng thời gian để hiện hữu. Rồi có một ngày phải rời đi. Nhưng có lẽ điều quan trọng chưa bao giờ nằm ở chỗ mùa hoa dài bao nhiêu. Điều quan trọng là trong mùa hoa của mình, ta đã nở như thế nào.

Một ngày rất gần thôi, thảm bỉ ngạn dưới chân Phú Sĩ sẽ không còn đỏ nữa. Những cánh hoa mảnh mai sẽ tàn. Những thân hoa sẽ trở về với đất. Rồi một chu kỳ khác bắt đầu. Lá sẽ lại mọc lên, lặng lẽ làm công việc của lá. Và khi một mùa thu khác trở về, từ lòng đất những thân hoa lại vươn lên tìm ánh sáng.

Phú Sĩ vẫn ở đó.

Thời gian vẫn đi.

Và con người vẫn đứng ở bờ bên này của cuộc đời, nhìn về một bờ bên kia mà không ai biết chính xác bao giờ mình sẽ tới. Nhưng có lẽ chúng ta không cần phải biết. Điều cần biết là hôm nay mình vẫn đang ở đây. Vẫn còn một người để yêu thương. Một công việc ý nghĩa để làm. Một điều tốt đẹp để dâng hiến. Một lời cần nói. Một nơi cần đến. Một buổi chiều để nhìn mặt trời lặn. Và một ngày để sống cho trọn vẹn...

Tôi từng nghĩ bỉ ngạn là hoa của chia lìa. Sau một mùa hoa dưới chân Phú Sĩ, tôi lại muốn nghĩ khác. Có lẽ bỉ ngạn trước hết là hoa của sự sống. Bởi một loài hoa mang trong tên mình ý niệm về “bờ bên kia” lại chọn cách hiện diện ở “bờ bên này” bằng sắc đỏ mãnh liệt đến thế. Như muốn nói rằng: biết có bỉ ngạn không có nghĩa là quay lưng với thử ngạn. Biết đời người hữu hạn không phải để buồn về cái chết, mà để hiểu giá trị của từng ngày đang sống.

Nếu thời gian là hữu hạn, câu trả lời đẹp nhất trước sự hữu hạn ấy không phải là tiếc nuối. Mà là sống cho đầy. Nếu đã được nở, hãy nở hết mình. Nếu đã được sống, hãy sống sao cho không hoài phí một phút giây. Một ngày rất gần thôi, thảm bỉ ngạn dưới chân Phú Sĩ sẽ không còn đỏ nữa. Những cánh hoa mảnh như tơ sẽ khép lại. Những thân hoa đã cháy hết mình trong nắng thu sẽ cúi xuống, trở về với đất. Con đường hôm nay rực lên như có lửa rồi mùa hoa sẽ đi qua.

Chỉ Phú Sĩ vẫn còn đó. Ngọn núi xanh thẫm đứng im trong chiều, dường như thờ ơ với những cuộc đến và đi của thế gian. Dưới chân núi, bao mùa bỉ ngạn đã nở rồi tàn. Bao mùa thu đã qua. Bao con người từng đứng ở nơi này, ngước nhìn đỉnh núi, cúi nhìn một bông hoa, rồi lặng lẽ đi hết phần đời của mình. Nghĩ đến đó, tôi bỗng thấy lòng chùng xuống. Hóa ra thời gian không đi qua chúng ta bằng những tiếng động lớn. Nó đi rất khẽ. Khẽ như một cánh hoa rơi. Khẽ như bóng chiều dịch trên sườn núi. Khẽ đến mức nhiều khi ta chỉ nhận ra một mùa đã hết khi mùa hoa của nó không còn nữa. Và đời người cũng vậy. Có bao nhiêu ngày chúng ta đã đi qua mà không thực sự biết mình đang sống? Bao nhiêu buổi sáng thức dậy, vội vàng bước vào những lo toan rồi quên mất rằng được nhìn thấy ánh sáng của một ngày mới vốn đã là một điều kỳ diệu? Bao nhiêu người ta thương mà cứ nghĩ còn ngày mai để nói một lời yêu thương? Bao nhiêu dự định đẹp đẽ vẫn nằm đâu đó trong lòng bởi ta tin rằng phía trước mình còn rất nhiều thời gian? Nhưng thời gian có bao giờ hứa hẹn với ai đâu. Mùa thu không vì một người còn lưu luyến mà đi chậm lại. Dòng sông không vì một người đứng nhìn mà ngừng chảy. Và bỉ ngạn cũng không vì sợ ngày tàn mà thôi nở. Nó chỉ lặng lẽ làm điều duy nhất một bông hoa có thể làm: đem tất cả phần sống của mình để nở. Có lẽ vì thế mà càng nhìn bỉ ngạn, tôi càng không thấy đây là một loài hoa của cái chết. Tôi thấy sự sống. Một sự sống biết mình mong manh nên càng tha thiết. Biết mình ngắn ngủi nên càng rực rỡ. Biết phía trước là chia lìa mà vẫn không thôi dâng hiến. Và cả những chiếc lá đã khuất đi kia nữa. Chúng không đứng bên hoa trong ngày hoa rực rỡ nhất, nhưng phần sống của chúng vẫn còn đâu đó dưới lòng đất, âm thầm nâng những thân hoa đi lên. Có lẽ trong đời người cũng có những sự hiện diện như thế. Có những người không còn đi bên ta mà vẫn ở lại trong cách ta nghĩ, cách ta yêu thương, cách ta đối đãi với cuộc đời. Có những tháng năm đã đi rất xa mà một ngày bất chợt ngoảnh lại, ta mới hiểu chính chúng đã âm thầm làm nên con người mình hôm nay.

Vậy thì mất và còn, gặp gỡ và chia lìa, có lẽ cũng chẳng bao giờ có một đường ranh thật rõ. Như thử ngạn và bỉ ngạn. Như hai bờ của một dòng sông. Con người đứng ở bờ này, nhìn về bờ kia, nhưng giữa hai bờ ấy chính là một đời sống đang chảy. Và điều quan trọng có lẽ không phải là ta sẽ đến bờ bên kia vào ngày nào. Mà là trong những ngày còn được đứng ở bờ bên này, ta đã sống ra sao.

Tôi cúi xuống nhìn một bông bỉ ngạn. Sắc đỏ ấy bỗng làm tôi nhớ đến một ngọn lửa nhỏ. Một ngọn lửa biết gió rồi sẽ đến mà vẫn cháy. Biết đêm rồi sẽ xuống mà vẫn sáng. Biết mùa hoa rồi sẽ hết mà vẫn dốc hết mình cho một lần nở.

Phía xa, Phú Sĩ im lặng.

Phía gần, bỉ ngạn đỏ đến nao lòng.

Giữa cái tưởng như vĩnh cửu của núi và cái ngắn ngủi của một mùa hoa, tôi bỗng hiểu rằng con người có lẽ chẳng cần ao ước mình trường tồn như núi. Một đời người, suy cho cùng, cũng chỉ là một mùa hoa giữa vô cùng năm tháng. Nhưng ngắn ngủi thì có sao? Bỉ ngạn chỉ có một mùa ngắn ngủi để đỏ. Và nó đã đỏ đến tận cùng. Một ngày nào đó, khi mùa thu này đã rất xa, có thể tôi sẽ quên một con đường, quên một buổi chiều, quên cả những đám mây từng trôi qua đỉnh Phú Sĩ hôm nay. Nhưng có lẽ tôi sẽ còn nhớ mãi màu đỏ ấy, màu đỏ của những bông hoa mọc lên từ nơi những chiếc lá đã đi qua, nở đúng lúc mùa thu chạm đến một nửa hành trình, như một lời nhắc nhở dịu dàng mà khắc khoải của thời gian rằng chúng ta đang sống. Và vì đang sống, xin đừng đợi đến một ngày ngoảnh lại mới tiếc những mùa hoa đã đi qua. Hãy yêu thương khi còn có thể yêu thương. Hãy dâng hiến khi còn có thể dâng hiến. Hãy đi những con đường mình muốn đi khi đôi chân còn có thể bước.

Hãy nói những lời cần nói khi người mình thương vẫn còn ở đó để nghe. Bởi chẳng ai biết mùa hoa của đời mình dài bao lâu. Chỉ biết rằng hôm nay, dưới chân Phú Sĩ, bỉ ngạn đang nở. Đỏ rực. Như chưa từng biết đến ngày tàn.

Tháng 9/2026

N.T.V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm