TIN TỨC
  • Truyện
  • Án ma ni thiên ý - Truyện ngắn Ny An

Án ma ni thiên ý - Truyện ngắn Ny An

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-10 19:28:55
mail facebook google pos stwis
425 lượt xem

Ở gần cuối xã Xay Xát, đi qua khỏi con dốc sỏi đá bụi bay xám mặt sẽ tới Quán Phật. Hai lùm thiết mộc lan um tùm đứng trước ngõ hút tài lộc, nở bông ngào ngạt mỗi tối. Quán Phật nằm giữa khu vườn thuốc nam, lắp camera từ ngõ vào tới cửa và phòng khách. Bờ tường gắn lưới thép B40 ngăn khu vườn với dải cát trắng trải dài đầy dứa dại, cây bụi và xương rồng gai nhọn tua tủa.

Minh họa: Đặng Tiến

Thầy Nghiêm ngủ phè cánh nhạn tới khi mặt trời treo tít ngọn cau, mở cửa Quán Phật vào đầu giờ chiều, cỡ chạng vạng sẽ đóng cổng. Riêng chủ nhật thầy Nghiêm đón khách cả ngày. Cuối tuần, người ta tranh thủ dừng công ăn chuyện làm để cầu cạnh giúp đỡ, thầy Nghiêm đâu nỡ lắc đầu. Từ bữa treo tấm biển ghi rõ lịch làm việc trước ngõ, tưởng vắng khách mà hoá ra người tới càng đông. Họ xếp hàng đợi sẵn từ tờ mờ sáng, bốc số theo thứ tự đàng hoàng. Giờ giấc ổn định, thùng tiền luôn đầy ắp những tờ polymer xanh đỏ vào cuối ngày.

Trọ trẹ học nói, Ý đã làm quen với Quán Phật. Thầy đặt Ý trên chiếc ghế đẩu, ngồi ngay ở cửa đón khách tới. Kẻ bẹo má, người xoa đầu, hôn hít hoặc ôm chầm lấy. Họ xin chút may mắn từ Ý, như kiểu chỉ cần rờ tới đụng trúng thôi, cái hên sẽ lây lan truyền sang người họ. Lớn thêm một chút, Ý được thầy Nghiêm giao vài việc lặt vặt phụ giúp cho quán.

Như mọi ngày, Ý múc từng muỗng chu sa đỏ nâu bằng hạt mè vào cối đá, dùng chày đá nghiền cho thiệt mịn. Từng muỗng cà phê bột chu sa được Ý cho vào bịch ni lông nhỏ và dùng thùm diêm kít kín miệng. Lại múc mấy cục thần sa óng ánh nâu hồng vào cối, dùng chày ấn mạnh và lặp lại công đoạn nghiền bột, đóng gói.

Trải bạt trên nền sân, Ý bày thớt dao ra cắt hương nhu, ngải cứu, kinh giới, lá sả, long não hương, … thành khúc ngắn rồi rải đều lên mẹt tre. Cả ngày Ý bê mẹt lá thuốc chạy theo nắng, nắng chiếu tới đâu đem phơi chỗ đó. Lá thuốc khô quắt queo như mái tóc Ý, mùi nắng cháy đứng cách cả mét còn ngửi thấy. Đợi trời chập choạng, khi thầy Nghiêm đóng cổng ngưng nhận khách, Ý chia từng thứ lá thuốc vào túi ni-lông năm lạng. Mỗi túi cho thêm ít vỏ quế, gai bồ kết, một gói bột chu sa và thần sa.

Thầy Nghiêm dặn khách rất kĩ về cách xông nhà tẩy uế, xua phong long, đuổi tà ma. Đốt ít than trong chậu đất nung, rải lớp lá thuốc cho ngun ngún đỏ, rắc thêm ít bột chu sa và thần sa lên, quạt nhẹ cho khói bay khắp không gian. Bê chậu thuốc xông trong buồng ngủ, hóc hẻm, từ nhà bếp lên phòng khách, cho khói len lỏi vào từng ngóc ngách căn nhà. Xông xong, đem vứt chậu thuốc ra ngoài ngã ba đồng.

Có bà khách quen tên Lắm cứ cách hai, ba tháng ghé tới Quán Phật mua thuốc xông. Người bà ta như được ướp bởi thứ mùi hắc hắc của bột chu sa thần sa cháy. Thân hình phục phịch, tóc xoăn búi gọn trong cái kẹp có lưới bọc kèm chiếc nơ màu mè to tướng. Cỡ chục năm rồi, lần nào tới bà Lắm cũng xách theo mớ trái cây, bánh kẹo cho Ý. Bà ta quý thầy Nghiêm vô cùng, cúng bao nhiêu là tiền. Bà ta tin rằng nhờ bài thuốc xông nhà của thầy Nghiêm mà bả làm ăn ngày càng phất lên.

Công nhận bà Lắm chịu mùi khói xông giỏi thiệt. Lá thuốc ngún lửa toả khói trắng đục nghi ngút vờn lượn cộng với mùi thần sa nồng hắc xộc thẳng vào mũi khiến Ý hắt xì nguyên tràng dài, vọt nước mũi nước mắt khắp nơi. “Án ma ni bát mê hồng. Án ma ni bát mê hồng.” Câu chú “án ma ni” thầy Nghiêm đọc khi xông nhà cứ ám vào chập chờn mê tỉnh mỗi đêm hè nóng bức của Ý.

“Con nhỏ án ma ni kìa bây!” - “Người ta là Thiên Ý, là Ý ma ni nha ha ha!” - “Ê đụng vô nó coi chừng bị ếm bùa méo miệng đó!”… Một đứa nói, hai đứa nói, ba đứa nói, chục đứa cười hùa theo. Bao nhiêu ruồi nhặng vo ve bên tai Ý hệt như âm hồn bất tán. Hơn một lần Ý nhen nhóm suy nghĩ đáp trả, nhưng nỗi uất ức chưa kịp thoát ra khỏi cổ họng đã bị sự sợ hãi chặn ứ lại. Lời của bọn nhóc choai choai trong xã đâu hẳn là sai, Ý cãi kiểu chi đây.

Ở cái tuổi đáng lí phải nói với nhau những lời tốt đẹp ngây thơ, lẽ ra nên cười đùa vui vẻ, thì có vài đứa trẻ đã học cách mạt sát nhau. Mượn cớ bồng bột, chúng gieo vào đời người khác những vết thương ngày một lớn, nở thành bông hoa ác có hàm răng nhọn gặm nhấm mọi hồn nhiên. Không phải trò trẻ con nào cũng vô hại.

Ý chỉ biết run rẩy cúi gằm mặt mà đi, chiếc mũ lưỡi trai sụp xuống che kín mắt mũi. Nơi nào phát ra âm thanh của bọn chúng, Ý sẽ chọn đường ngược lại. Từng câu dao găm của đám con nít quỷ cứ đâm sâu vào lòng Ý. Đáng sợ hơn mấy lời cười cợt, là ánh nhìn ghê tởm từ ai đó. Có đứa tránh Ý như tránh tà, né như né hủi, nên gặp chúng ở đâu Ý đều chọn lủi trước.

Sau mỗi lần như thế, Ý luôn về nhà trong nước mắt, thấm ướt vạt áo cũ mèm. Cặp mắt sưng húp đau điếng, mũi nghẹt cứng, đầu ong ong. Ý rửa mặt bằng thứ nước mặn chát trong câm lặng, len lén sau hè tránh để thầy Nghiêm nhìn thấy. Thầy biết thầy đập chết. Ý tự hỏi, sau khi chết, con người ta sẽ đi về đâu? Liệu có thành vong hồn vất vưởng đeo bám theo ai đó và bị thầy Nghiêm quất roi gai trục xuất khỏi người họ. Liệu có được đầu thai ở kiếp sau hay tới một thế giới nào khác, nơi Ý không phải nghe thấy những lời cay độc đó. Thiệt ra, nếu như được chết, Ý không muốn quay lại cuộc đời này thêm một lần nào nữa. Ý thà biến mất mãi mãi.

Đâu ai biết Ý đang chịu đựng điều chi. Thầy Nghiêm chỉ để tâm thùng tiền đã đầy chưa, trong thẻ thêm mấy con số 0, đổ vàng cất, mua đất đầu tư hay gởi ngân hàng lợi hơn, chọn Nha Trang hay đi Đà Lạt nghỉ dưỡng. Nên dù cơn ấm ức đang dâng lên nghẹn cổ, Ý phải nén đẩy xuống bụng, đạp xe lên thị trấn đi mua đồ cúng về để thầy Nghiêm làm lễ cắt duyên âm cho con gái bà Xuyến, người đã tới lui Quán Phật xin giúp mấy bận.

Vì đi đường vòng tránh mặt đám nhóc khá tốn thời gian nên bữa nay Ý về trễ hơn thường ngày. Gặp cơn mưa giông giữa chừng, trời tối rất nhanh. Bốn bề lạnh tanh ghê rợn. Ý đạp xe trong mịt mờ. Con đường ngoằn ngoèo tít tắp hướng về xã Xay Xát chỉ xuất hiện vài nhà dân lọt thỏm trong bạt ngàn cát trắng và những cánh đồng rít gió. Chiếc đèn pin cầm tay hắt sáng yếu ớt. Thảng hoặc có xe máy chạy ngang qua, chút ánh sáng chớp nhoáng từ đèn xe giúp tim Ý bớt đánh lô tô trong lồng ngực.

Đằng sau có một chiếc xe đang chạy rà rà theo Ý. Nó vượt lên ngang hàng, đẩy một cái. Ý té lộn nhào, lòng bàn tay và đầu gối chớm đau, hình như đã tươm máu. Đèn pin văng ra xa, lăn xuống bãi cỏ bên mép đường. Có gì đó đè lên người Ý. Rẹt! Rẹt! Bộ đồ Ý đang mặc bị xé rách toạc. Cả thân dưới của Ý cũng toác ra, đau thấu trời. Nhanh như bị một con thú lao tới cắm phập vào người, Ý chẳng kịp giằng co hay đẩy ra bỏ chạy. Ngay cả câu chú “Án ma ni bát mê hồng” mà thầy Nghiêm bày, Ý hoảng quá nên chưa kịp đọc. Là ma quỷ hay con người, tới lúc bò dậy tự ôm thân mình xước xát, Ý vẫn không thể xác định được.

***

“Nam mô… tu rị, ma ha tu rị,… án ta phạ bà phạ, án tam đà la,…

Thỉnh mời hương linh có duyên ái luyến với nữ chủ Phạm Thị về hướng hiển. Nay tôi thành tâm sửa biện lễ vật hương hoa, trà quả, kim ngân, tơ hồng. Dâng lên trước án, kính thỉnh linh hồn trước hưởng đàn thí thực, sau làm lễ cắt duyên.

Nam mô…

Thiên có luật thiên, địa có luật địa. Hương linh và nữ chủ đây âm dương cách biệt, ngả đường chia hai. Cuộc đời sắc sắc không không, duyên xưa đã hết, tình này phải xa. Kể từ phút rày, nguyện hồn thiêng về tam giới, nữ chủ xin bái biệt tại đây. Đốt nén nhang thơm, gửi hồn nương nhờ Kinh Pháp mà siêu thăng Tịnh Độ.

Phụng vì Pháp giới lục độ thập loại Cô hồn, Âm hồn Thổ Mộc tà tinh, Vô tự Âm linh đẳng chúng. Lễ bạc tâm thành, thỉnh phú hương diên, đồng lâm chứng hưởng.

Nam mô bộ đế lị, già rị đa lị, đát đá nga đá da.

Nam mô…”

Bài khấn của thầy Nghiêm dài thiệt dài, Ý phải đổi chân đứng trụ hơn chục lần cho đỡ mỏi. Nghe riết nên Ý thuộc được dăm câu, ngoại trừ đoạn chú cứ lùng bùng lỗ tai, ù ù đầu óc. Mười mấy năm sống trong kinh kệ, thần chú đủ loại mà Ý chưa ngộ đạo. Kiểu như vịt nghe sấm, nghểnh cổ nghiêng đầu âm thanh từ tai này lọt qua tai kia chui tọt ra ngoài, rớt xuống cát trắng khô cong như mấy ngày nắng hạn gặp cơn mưa giông chẳng đọng nổi nước.

Lần nào thầy cúng, Ý đều phải đứng gần đó để thầy sai vặt, rót li trà, bới dĩa xôi, cắm đèn cầy, xếp mâm lễ. Hoặc đôi khi đâu cần làm chi, sự hiện diện của Ý như minh chứng cho “phép thần thông” thầy sở hữu. Ý là Thiên Ý, là phước trời ban mà thầy cầu được cho gia đình này. Khuya má chuyển dạ máu loang ướt nền đất, nhà xa trạm y tế xã, bốn bề cát trắng quạnh hiu, ba thắp nhang khấn xin tứ phía, nào Bà Tổ Cô, nào Thần Phật phù hộ độ trì, hai má con mới trụ qua hết đêm. Sau bữa đó, ông bán thuốc dạo chuyển sang làm thầy cúng, thầy bói. Căn nhà lá xây thành Quán Phật mái ngói núp sau lùm cây âm âm u u. Ba bắt Ý gọi mình là “thầy” giống như những vị khách ghé nhà. Ý chưa một lần được gọi tiếng ba…

Bó nhang to tướng trên tay thầy Nghiêm vái bốn phương, khói mù mịt toả ra xung quanh cay xè mắt. Thầy mặc áo dài nâu, tóc chải vuốt gọn ra sau, trải chiếu lát trước bàn cúng, quỳ thẳng người. Đồ lễ được xếp gọn gàng trên chiếc bàn inox hình chữ nhật phủ khăn vải vàng. Có mấy món chay đơn giản, xôi ngọt, chè đậu, trái cây, nước trong, trà lài, rượu trắng, bảy sợi chỉ hồng, bảy bông đồng tiền đỏ, giấy tiền vàng bạc âm phủ.

Lễ vật mỗi bận cúng sẽ khác nhau, tuỳ thuộc vào số tiền khách bỏ phong bì hoặc chuyển khoản. Cỡ hai, ba chục triệu với nguyên con gà và cái đầu heo thiệt to, đồ mã đầy đủ áo mão ngựa xe, thuyền vàng và thỏi vàng. Tầm năm, bảy triệu chỉ được “ăn” chay, bánh trái. Điều này chắc mỗi Ý biết rõ, bởi chính tay mình đã chuẩn bị theo lời dặn của thầy.

Thầy Nghiêm cầm chiếc kéo có buộc hai nơ đỏ ở cán để cắt đôi sợi chỉ tơ hồng và ném về hướng Tây Nam. Miệng thầy liên hồi những câu chú lạ kì mà Ý tò mò làm sao thầy có thể nhớ hết. Chị Phạm Thị, nhân vật chính hơn Ý bốn tuổi, quỳ gối chắp tay run run bên cạnh, lầm rầm khấn vái. Nghe thầy nói, cái vong âm vừa cản trở đường tình duyên của chị, vừa khiến chị thất thần mê muội nên học hành sa sút, thành ra mới rớt tốt nghiệp. Không tiễn nó đi thì chị hết cửa lấy chồng. Bà Xuyến má chị theo lời thầy Nghiêm rót đầy một li rượu cho chị uống, một li rải hắt xuống nền.

Ý quay ngược đầu vào nhà nhìn chiếc đồng hồ trên tường. Kim giờ kim phút cứ túc tắc chạy, ơ hờ mặc kệ chuyện thế gian. Dù hít no mùi nhang, bụng Ý vẫn biểu tình ác liệt, đành dùng tay ép chặt lại. Phía bụng dưới, cơn đau dữ dội ập đến khiến Ý phải ôm chặt khuỵu xuống. Đang trong lễ cúng, thầy cấm Ý rục rịch lên tiếng. Có lần Ý lén trốn ra sau hè ăn vội chút cơm nguội chan nước cá, thiếu người rót rượu cúng, thầy đã hùng hổ đá văng chén cơm đang đưa ngang miệng Ý. Trời đánh tránh bữa ăn, nhưng thầy Nghiêm đâu phải trời.

Gần mười giờ tối, thầy Nghiêm rút nhang đem cắm ngoài đường, đốt mớ vàng mã và vứt hết mâm cúng nơi ngã ba sỏi đá. Trong khi đó, hai má con bà Xuyến đang xoa nước tỏi khắp người, mùi cay nồng hoà cùng hương trầm trên bàn thờ Phật chui vào mũi Ý ngưa ngứa.

***

Bà Bẩm ngơ ngẩn đi chân không từ trong nhà ra hiên, leo lên xích đu sắt, một chân thả xuống đất làm trụ đong đưa, một chân chống lên, tay ôm lấy đầu gối. Làn da bà nhăn nhúm đen sì. Lòng bàn tay lấm chấm từng nốt thâm đen, loang lổ tróc lở từng mảng hệt như con rắn đang lột lớp da bên ngoài.

Hồi đêm qua trời mưa giông nhưng chẳng làm dịu bớt cơn nóng. Đang đầu mùa nắng, trời đứng gió hầm hập. Con chó lác bị cọng xích gỉ sét cột cổ nằm yên dưới chân bà Bẩm, há mõm thè lưỡi thở hò hè. Nó đưa mắt liếc khách nhưng tuyệt nhiên không ngồi dậy sủa inh ỏi như vốn dĩ phải làm. Hoặc nó đã quá quen với việc người lạ bước vào lãnh thổ của mình. Hoặc nó phải ngoan ngoãn im lặng sống, nếu không sẽ bị thầy Nghiêm cho vào bao tời cột túm đầu lại vứt ngoài bãi tha ma. Đám con mới mở mắt của nó đã bị bắt đem bán sạch còn đâu.

Bà Bẩm ngó Ý trân trân rồi quay đi nhìn mơ hồ trước mặt, mí mắt không chớp. Mọi ngày khách vào, bà giữ nguyên vẻ mặt đờ đẫn, tới con ngươi cũng nhác di chuyển. Từ cái đêm vật lộn với thần Chết để sanh Thiên Ý, mười mấy năm bà như người cõi trên. Dù Ý có gọi “má” bao nhiêu lần, bà Bẩm đều như không nghe thấy. Tự dưng bữa nay khách vừa buông câu chào, bà Bẩm bỗng quay qua, trên khuôn mặt nhăn nhúm đột nhiên tuôn hai hàng nước mắt. Nước mũi chảy theo, dính nhễu đầy miệng cằm. Bà khóc tức tưởi như bị ai đánh. Rồi bà cười khằng khặc quái dị, ngửa cổ nhìn lên trên. Mặt trời đã bị tán cây um tùm che khuất, nhưng cái nóng vẫn hừng hực nhảy xổ khắp nơi.

Người trần mắt thịt đâu ai hiểu được bà Bẩm đang nghĩ chi trong đầu. Họ chỉ thấy sợ bà, da gà cứ nổi lên mỗi lúc bà lảm nhảm mấy câu quái gở, dù xung quanh bà chẳng có vầng hào quang hay bóng đen nào lẩn quẩn. Có lẽ, con người luôn sợ những điều mà họ không hiểu rõ, không nắm bắt được. Như bận kia, bà khiến một cô gái tới Quán Phật cầu siêu phải chạy thục mạng khi trợn mắt toàn tròng trắng, chằm chặp níu tay khóc: “Má đừng bỏ con ngoài đàng, má mang con về nhà đi”.

Có những đêm hàng xóm mất ngủ vì bà Bẩm lên cơn. Giữa khuya thinh vắng, côn trùng đang rỉ rả kêu dường như sợ quá im bặt lặng lẽ bò đi nơi khác. Bà mang chiếc chuông đồng bóng loáng to bằng cái bát ra ngồi ở hiên, vừa cầm dùi gõ vừa rì rầm một mình. “Coong! Coong! Coong!”, âm vọng vào đêm sâu ngân dài nghe rợn tóc gáy.

Ban ngày bà Bẩm hay bắt ấn chỉ vào mặt người khác. Cứ hễ nhìn thấy bà nhấn ngón tay cái lên ngón tay giữa đang gập lại và giữ thẳng ba ngón còn lại, Ý liền kéo bà vào buồng trong, tránh để khách thấy. Đôi lúc thầy Nghiêm ra hiệu cho Ý mặc kệ bà Bẩm trỏ ấn nói sảng nói xàm trước mặt họ. Bởi sự doạ dẫm vô tình đó khiến người yếu bóng vía sợ hãi mà nhanh rút tiền ra. Nhờ sự điên dại của bà Bẩm, Quán Phật ngày càng nổi danh. Ngay cả người ở huyện khác hay ngoài phố cũng lặn lội vào Quán nhờ thầy Nghiêm coi giúp.

Hồi Ý nhỏ xíu, có lần thầy thắp nhang vái gọi hồn về nhập vào bà Bẩm. Ý tưởng như không khí trong phòng đặc quánh lại, bị thế lực vô hình nào đó hút hết sạch, càng lâu càng ngạt thở, muốn đứng lên bỏ chạy nhưng chẳng tài nào nhấc nổi chân. Khí lạnh phả vào mang tai, chạy dọc sống lưng khiến Ý rùng mình, mồ hôi túa ra ướt mèm tóc mai. Bà Bẩm cứ ú ớ, thầy Nghiêm ngồi bên cạnh cắt nghĩa.

Bận đó thầy Nghiêm làm phép trục vong cho con trai của bà Lắm khách quen. Thầy ép cậu uống thứ nước thuốc có vẻ rất đắng, chỉ thấy cậu nhăn mặt chực chờ mửa ra nhưng bị bụm miệng bắt nuốt ngược vào. Một tay thầy cầm bó nhang nhả khói trắng ngun ngút. Một tay nắm chặt cành dâu to dài kèm lá tre và cả gai xương rồng, thầy quất tới tấp lên lưng cậu. Miệng thầy ngậm búng nước phun phì phì. Đợi nhang trên tay thầy Nghiêm cháy hết, khói nhạt mùi, bà Bẩm té xuống đất ngoắt ngoẻo, thân hình cậu thanh niên tươm máu dính đầy áo, thầy mới ngưng đánh. Không khí trong nhà trở lại bình thường, Ý liền gấp rút hít lấy hít để.

***

Ngoài cắt duyên âm, thầy Nghiêm còn trợ duyên cho mọi người. Thời đại công nghệ mà, phải cập nhật xu hướng, phải đa năng mới có thêm khách. Ai tới coi chuyện gia đạo hay tình duyên gì thầy đều xin số điện thoại, kết bạn trên ứng dụng Zalo và theo dõi. Cứ hễ gặp trai đơn gái chiếc trên hai, ba chục tuổi, thầy liền mai mối, kết nối. Thầy coi tuổi coi mệnh sẵn, cần tránh xung khắc để dễ đi lâu dài. Kể ra thầy khá mát tay, nhiều cặp thành đôi, lấy nhau xong quay lại trả lễ cảm tạ thầy rối rít. Cũng có khi rã đám vì gái trách trai vừa nghèo vừa cục súc, vũ phu, trai thì chê gái đã xấu lại đòi hỏi tùm lum.

Má con bà Xuyến cắt duyên âm xong vẫn quay lại thêm vài bận, hỏi nhờ thầy Nghiêm xin một mối duyên tốt. Bà Xuyến biểu, con gái có học cho lắm làm cao tới đâu, sau ni lấy chồng cũng phải ở nhà chăm chồng chăm con. Đã thế cứ lấy chồng từ bây chừ, đỡ tốn tiền, tốn thời gian làm chuyện vô bổ. Chừ đang trẻ còn ngon, dễ kiếm được mối ưng ý. Đừng tìm mấy thằng đẹp mã làm chi, thân trai chỉ cần có cái nghề trong tay, nhà có chút tiền, ba má dễ tánh là ổn. Bà nghèo cả đời rồi, chỉ ước mong con gái mình được làm dâu gia đình nào có của ăn của để.

Thầy Nghiêm dùng bút lông nhúng mực đỏ hí hoáy viết mấy chữ Hán như vẽ bùa lên tờ giấy tiền vàng bạc rồi ịn chặt lên cánh tay con gái bà Xuyến. Miệng thầy lẩm nhẩm đọc câu chú vừa đủ mình thầy nghe. Khoảng ba mươi giây, thầy gỡ tờ giấy bạc ra, chữ đỏ đã in trên da chị gái kia. Rồi thầy lật tới lật lui quyển sổ ghi chép, ngón tay trỏ rà kĩ từng dòng. So ngày sanh tháng đẻ, may quá có thằng con trai của bà Lắm là hợp tuổi với con gái bà Xuyến.

Thằng con bà Lắm đúng kiểu cà lơ phất phơ chẳng nghề ngỗng chi, được cái má nó giàu. Đúng như tên gọi, bà Lắm là kẻ lắm tiền lắm đất. Bà có ba sào đất ruộng, nửa tỉa đậu phụng, nửa gieo mè đen. Vườn rộng thênh thang, nhà mái ngói ba tầng, lát gạch bông từ trong bếp ra tận ngõ. Được mỗi thằng con cưng, bà Lắm thiếu điều đội nó lên đầu. Hơn ba chục tuổi, thằng quý tử vẫn phè phỡn ăn chơi. Bà thương nó hồi nhỏ bị vong ám, lớn lên lại mắc ho hen mãn tính. Mà nó cần chi lo lắng, của cải vợ chồng bà làm ra, nó tiêu cả đời chưa hết.

Trong khi bà Xuyến nghe thầy Nghiêm thao thao giới thiệu về gia sản nhà bà Lắm, thì chị con gái cầm điện thoại săm soi vẻ ngoài của thằng đàn ông hơn mình trên một con giáp. Có vẻ hai má con đàng gái đều ưng đàng trai, người cần tiền có tiền, người muốn ngoại hình cũng đáp ứng vừa đủ. Đợi thầy Nghiêm đánh tiếng với má con bà Lắm, có khi dăm bữa nửa tháng sẽ thành đôi. Nhìn con gái bà Xuyến mơn mởn đào tơ giữa đám đàn bà xã Xay Xát khô ran bởi nắng gắt, tới thầy Nghiêm còn ưng nữa là má con bà Lắm.

Ngồi trò chuyện, tư vấn tình cảm cỡ một tiếng đồng hồ, bà Xuyến rón rén rút từ trong bọc ni-lông giắt ở lưng quần ra tờ năm chục ngàn đồng hơi phai màu, sè sẹ nhét vào thùng tiền. Thầy Nghiêm vờ như không nhìn thấy, vẫn cười nói như bình thường. Thầy hay hồ hởi biểu, tiền lễ là tuỳ tâm. Nếu “tâm” của khách ít thì thầy nói ít, giúp đỡ ít, “tâm” nhiều được ban phước nhiều. Từ lần đầu gặp, thầy thừa biết bà Xuyến nghèo, thông qua bộ đồ hoa hòe vải dỏm và mười đầu móng tay dính đầy đất cát. Nhưng nghèo hay giàu, thầy luôn có cách ngọt nhạt riêng, cỡ nào đã ghé tới một lần thì chắc chắn sẽ tới lần nữa.

***

Tháng cuối cùng của mùa hè, nắng xối lủng đầu, đất cát ở Xay Xát giòn rụm khen khét như miếng bánh tráng nướng lửa lớn. Con chó lác bắt đầu mọc lông trở lại, nằm ngoài hiên há mõm đớp gió cho bớt nóng. Thầy Nghiêm ngồi trong nhà, lè lưỡi thấm nước miếng lên đầu ngón tay đếm tiền lia lịa. Thầy đang tính đóng cửa Quán Phật vài bữa để lên Đà Lạt nghỉ mát, hồi phục sức khoẻ. Thực ra, thầy đã quá ngán ngẩm bản mặt rồ dại của người đàn bà mười mấy năm không làm tròn nghĩa vụ làm vợ. Thầy muốn được thao thức suốt đêm bên cạnh một làn da mướt rượt trong tiết trời mát lạnh của xứ sở cao nguyên.

Dạo rày, Quán Phật vắng tiếng tụng kinh gõ mõ mỗi khuya. Thay vào đó là tiếng rên khóc hờ hờ dội vào màn đêm thanh u rùng rợn. Có vẻ bà Bẩm lên cơn nhiều hơn, nặng hơn. Bà bất chợt ôm mặt Ý ngó kĩ lông mày, bóp véo mũi, sờ nắn tay chân, ấn nhẹ vào bụng rồi cười hớ hớ. Trận cười đứt quãng thay bằng tiếng khóc rưng rức hệt như con chó lác bữa bị thầy Nghiêm đá vào cái bụng chửa làm phọt chó con ra ngoài.

Đêm qua đất trời cựa quậy, sấm chớp rạch xé nền mây âm u nhưng mãi không mưa. Ý nằm lăn lộn trong buồng bởi mồ hôi tủa ra ẩm rịt khắp người. Tưởng như gầm trời là cái nồi hấp cỡ lớn, tới người bình thường còn nóng muốn điên nữa là kẻ bất ổn như bà Bẩm.

Nhiều hồi Ý thấy xót xa khủng khiếp, mỗi lần đút cơm cho má luôn nghĩ tại mình nên má mới thành nông nỗi đó. Nhưng lắm lúc Ý dằn dỗi tủi thân ghê gớm. Ước chi Ý có thể giống mấy đứa trẻ khác, có một người má tỉnh táo chăm sóc, dỗ dành, tỉ tê trò chuyện. Ý mang nước mắt vào cả cơn mơ, thấy mình được má ôm trong lòng vuốt ve mái tóc xơ rối, tới khi choàng tỉnh nhận ra má vẫn là bà Bẩm xa cách và quỷ dị.

Quá trưa, Quán Phật mở cửa đón khách. Bà Lắm ghé tới, đi bên cạnh là một anh chàng cao lớn. Anh ta cười phớn phở, những lọn tóc xoăn bồng bềnh lắc lư trông khá lãng tử. Nhìn đường nét hao hao, Ý đã biết anh ta là con trai bà Lắm. Hơn chục năm nay anh ta chưa từng ghé lại Quán Phật, chắc còn ám ảnh cây roi gai trên tay thầy Nghiêm. Nhớ tới chị gái con bà Xuyến, hai người đúng kiểu trai xinh gái đẹp xứng đôi. Có lẽ, thầy Nghiêm sắp được thêm một khoản kha khá. Y như rằng, Ý đoán trúng chóc. Má con bà Lắm tới coi ngày tổ chức đám cưới. Lấy nhanh hốt lẹ chớ bà mót cháu nội lắm rồi.

Thằng con trai của bà Lắm liếc nhìn sang Ý đầy vẻ nhả nhớt. Anh ta cất giọng, tiếng thở nặng nhọc ngắt quãng như thể có thứ chi đó vướng ở cổ họng. “Em Ý càng lớn càng đẹp gái thầy hỉ. Phải ẻm đủ tuổi, chưa biết chừng thầy với má con có thể thành sui gia.”

Li trà mời khách chợt tuột khỏi tay Ý, rớt xuống quyển sách coi ngày giờ của thầy Nghiêm, nước lênh loáng trang giấy. Thầy giơ tay lên tính xáng bạt tai, nhưng trước mặt khách phải kìm lòng rụt lại, rít qua kẽ răng biểu Ý đi xuống nhà dưới. Ý tá hoả tam tinh bụm miệng chạy ra sau hè, bàn tay xương xẩu không ngăn nổi cơn cồn cào lộn từ ruột lên. Cả người Ý run bần bật, hai mắt rơm rớm ướt. Bên tai chỉ nghe được mỗi tiếng khò khè hệt như lúc cái bóng mất hút vào màn đêm tối hù sau cơn mưa giông hai tháng trước.

Từ phía trong khu vườn, nhìn qua lưới thép mắt cáo trên bờ tường, mặt trời đang tha hồ nhả lửa xuống nổng cát trắng sáng loá. Cát cháy, cây bụi cháy, lưới thép cháy, lòng người cũng rần rật cháy. Bà Bẩm lù lù xuất hiện sau lưng Ý, trên tay cầm chặt cái kìm cắt sắt, ánh mắt đầy sự quyết tâm như một người đột nhiên sực tỉnh từ cơn mê lâu ngày.

Nguồn: Văn nghệ Quân đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm