TIN TỨC
  • Truyện
  • Nghĩa tình người dưng – Truyện ngắn Phùng Chí Cường

Nghĩa tình người dưng – Truyện ngắn Phùng Chí Cường

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-29 15:52:13
mail facebook google pos stwis
27 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cái Cẩm kể xong câu chuyện lúc nào Xoảng cũng không hay, không gian thì vẫn im lặng như tờ. Quay sang Cẩm, Xoảng thấy nó gục mặt vào hai lòng bàn tay, nó cứ nấc lên nghẹn ngào mà khóe mắt không thấy rỉ ra giọt nước mắt nào. Cũng chả biết nữa, có lẽ nước mắt của cái Cẩm đã lận hết vào bên trong rồi. Còn với Cẩm, tự nhiên nó cảm thấy người đàn ông ngồi cạnh nó lúc này sao mà gần gũi thế. Nhưng dù sao anh ta cũng chi là người dưng thôi!...

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Ông chủ thầu bận việc coi sóc công trình béo bở hơn tận dưới Quảng Ninh. một vài công trình phụ ở Hà Nội ông giao cho cô vợ trẻ chả biết tý gì về xây dựng trông nom. Chỉ mấy hôm tiếp xúc, anh thợ cả Chớp bắt được quả tóm cô ả đong đưa lúng liếng. Anh lẳng quả tình, ả vắng chồng ham của lạ bập luôn. Được thể anh Chớp tiêu tiền như ném qua cửa sổ. Xong hợp đồng xây cái tường bao và láng mấy trăm mét sân ở một trường đại học, anh Chớp để ra một túi xách tiền. Từ đấy anh tách ra nhận thầu riêng. Thế là tiền của người, thợ thì lấy ở quê, sức quê vốn rẻ, anh Chớp phất lên như diều gặp gió. Khi về làng anh thường đeo cặp kính tối, hai cái gọng kính to bè bè vắt từ đuôi mắt nhoằng lấy vành tai. Quần áo thì mặc cả cây bò, trông cứ như nhân vật “bố già” trong phim mafia của Ý. Mỗi lần cái xe “buôn nhột” to đoành của anh ẻn ẻn rẽ vào cổng làng, bọn trẻ con rần rần xô nhau đuổi theo. Nói nhỏ:…Các cụ cao niên trong làng Chim Cò này bây giờ mỗi khi găp anh Chớp, tự dưng lại thưa với bẩm, thế mới chết chứ!

… Xoảng là người ở cùng ngõ với nhà anh Chớp, mẩm bụng: ”Phải sang nhờ bác Chớp kiếm cho tý việc làm mới xong, chả nhẽ hàng xóm với nhau bác ấy chả giúp mình, công việc gì cũng được, miễn là có thêm tý tiền để mua ít ngô khoai lấp vào mấy tháng giáp hạt, chứ cái ngữ mình học nghề sao nổi mà đòi rút chân ra khỏi đồng ruộng!”. Trong nhà anh Chớp tối nay sao đông người thế, đèn măng xông thắp sang choang ra cả ngoài sân. Xoảng định quay về thì chợt anh Chớp nhìn thấy gọi lại: “Vào đây đã nào…gớm, sao thế?”. “Dạ em có tý việc muốn sang nhờ ông bác!”. “Cứ vào đây uống chén rượu, ăn điếu thuốc đã!”. Chớp chìa gói thuốc ba số 5, sau khi kéo Xoảng ngồi xuống bộ trường kỷ đen bóng, kê hơi lố ra ngoài hè. Vợ Xoảng thập thò chờ mãi ở ngoài cổng, một lúc sau mới thấy ông chồng lêu đêu của mình đứng dậy. Nghe anh Chớp cười rờn rợt, vợ Xoảng cảm thấy nhồn nhột như bị ai đó cù vào nách. “Thôi cứ yên tâm, khi nào có tin thì phải xuống ngay nhớ chửa. Xuống đó anh sẽ chiêu đãi chú một chầu tắm rửa.”. Nói xong anh Chớp lại phá lên cười. Xoảng nghĩ: “tắm rửa thì có gì phải mời nhỉ. Cứ như mời đi ăn cỗ vậy!”.

Gần một tháng sau khi nhận được tin báo, Xoảng có mặt trước một ngôi nhà bốn tầng xây ở ngoại vi thành phố. Ngôi nhà chi chit cửa sổ như chuồng chim bồ cu, ở trên có quả cầu bằng sắt không rỉ quay nhoắng nhoằng. Anh bạn mà Chớp gửi gấm Xoảng cho, lạnh lùng hất hàm rồi nói một lô xích xông, Xoảng nghe tối cả mặt mà chả nhớ gì, chỉ đại loại toàn là điều cấm; “Ông trông nhà cả ngày lẫn tối, cấm được ra ngoài. Cấm cho người lạ vào nhà. Đồ đạc ở đâu để nguyên đó, cấm xê dịch. Ăn cơm bụi, nước cũng bụi, cấm không được bật bếp ga nấu nướng…!”. Xoảng nghĩ “Cấm gì mà lắm thế, cứ như ở trên thiên đình không bằng. Không vì miếng cơm manh áo thì cái vilo này có các vàng, đây cũng chả thèm bước qua cửa. Đừng tưởng ở nha to mà ham!”. Tức tối trong người dâng lên đầy họng. “Đó là luật chơi ông anh hiểu chửa. Tôi trả tiền sòng phẳng, ông anh phải đáp ứng những gì tôi dặn, nếu được thì ở chơi trông nhà, còn không thi phắn cũng chả sao cả!”. Nói vậy nhưng anh ta vẫn xoa xoa vào vai Xoảng đấu dịu: “Gắng lên. Chỗ thân quen, đây tin tưởng cái lão Chớp “mèo mù vớ cá rán” kia tìm người hộ. Chỉ hơn tháng nữa bà chủ sẽ về, lúc ấy có xin ở lại cũng không dám đâu nha!”. Nói xong gã ngoác miệng cười hô hố trông rõ là du côn. Gã còn giơ chân đạp mạnh cánh cổng đánh rình một cái, rồi phóng xe đi thẳng không bỏ lại được câu chào.

Xoảng ngội bệt xuống bậc thềm, một cơn gió hầm hập nổi lên, cuốn theo bụi cát mù mịt…Bộp! một cục phân chim từ góc tường tấng 3 rơi bẹt xuống đầu. Bất giác Xoảng lấy tay vuốt vuốt. “Khỉ thật, mấy con chim sẻ sao lại nhằm trúng đâu tao mà bậy!”. Xoảng bực dọc vãy vãy cổ tay, cục phân chim bắn toẹt vào tường. Xoảng đứng dậy bước vào nhà, vừa đi vừa nghển cổ ngó ngó nghiêng nghiêng, cứ như đang khám phá vương quốc Ruxipút của thế giới người khổng lồ. Mọi thứ bên trong đều mới toanh, bóng loáng có thể soi gương được, tất cả dường như chỉ để trưng để ngắm mà thôi…Xoảng nằm xuống chiếc giường trong căn phòng thụt thò rộng bằng hai cái chiếu đôi. Bắt tay lên trán ngẫm nghi vẩn vơ rồi thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng tiếng chuông nhà thờ xóm giáo ở bên kia sông ngân lên róng riết, mấy con Dơi đang ngủ giật mình, tuột khỏi góc tường rơi bịch xưống nến nhà làm Xoảng tỉnh giấc. Từ hôm đó Xoảng chỉ có việc quay ra lại quay vào, quyét dọn lau chùi mấy cái cầu thang cùng số đồ đạc ngổn ngang trong các phòng, rồi đi tưới vài chục chậu cây cảnh trên sân thượng…

Mười hôm sau anh chàng đưa Xoảng đến lại đoảng qua, anh ta đỗ xe máy ngoài cổng rồi bấm chuông loạn xị. Xoảng lao từ trong nhà ra mở cổng. Hắn ta hất ngược cặp kính đen kít lên đỉnh đầu, nhìn Xoảng rồi nhếch mép cười khó hiểu. Không nói câu nào, hắn lại cùng chiếc xe bành bạch vù ga mất hút về phía đầu ngõ, bỏ lại một đụn khói đen ngòm.

Tròn một tháng: “Thế là chết mình rồi!” Xoảng rên lên não nuột, nghĩ lại mới biết mình đã bị lừa. Tự dưng lại trở thành người gác miếu không tiền mới chết chứ. May có ít lưng vốn mượn tạm của bà Sáu Thẹo bán thị lợn ở đầu làng trước khi xuống đây, nếu không thì chết đói cũng nên.

Bốn mươi ngày nữa trôi qua, Xoảng như người đi tu mà không phải tu thật. Rồi một hôm Xoảng nhận đưực cái giấy bưu điện báo: “Các con về ngay, bố mệt lắm, sắp mất” ký tên Đoàn Oe. Xoảng túm anh bưu điện lại: “Này, bác có nhầm không đấy?”. “Nhầm gì, đúng số nhà đúng ngõ, sao sai được!”. “Nhưng mà …tôi đâu phải chủ nhà”. Anh bưu điện nhìn Xoảng ái ngại. “…nếu không tôi báo lại cho người đánh điện”. Thật là tai họa rồi “Làm sao bây giờ anh Chớp ơi!”. Rên lên vậy nhưng xoảng biết, cơ sự này cũng đành bó tay thôi. Người thì sắp chết, cái ông Đoàn Oe trong tờ điện chắc đẻ ra chủ nhân của căn nhà này, còn cái gã thanh niên nhìn như dân đầu trôm đươi cướp kia, giờ cũng mất hút chẳng biết nơi nao mà tìm. Bất giác, Xoảng thò tay vào túi quần móc ra số tiền còn lại, đếm tới đếm lui còn vừa hai trăm ngàn cả thảy. Xoảng lượng tính đoạn đướng về quê cùa “các con” trong tờ điện: Thế này thì liều rồi, nhưng phải làm sao đây?...Chỉ có về mới biết chủ nhân của căn nhà này để rồi tính toán, để mà giả nhà chứ tình trạng tù giam lỏng thế này thì có mà héo!

Chuyển ba chặng xe, rồi đi bộ rã cẳng, cuối cùng Xoảng cũng tìm được đến địa chỉ ông Đoàn Oe ghi trong tờ điện, Đến đầu làng, Xoảng gặp một thằng con trai choai choai ngồi bắt chân chữ ngũ, đang uống rượu với bìa đậu phụ ở quán cóc ven đường: “Cháu ơi, cho chú hòi nhà ông Đoàn Oe ở đâu?”. “Oe hả? Oe xóm Lầy trên hay Oe xóm Lấy dưới?”. “Ông Oe bị bệnh sắp chết cháu ạ”. Thằng oắt con nhấp nhấp chén rựơu như ông cụ non trông ngứa cả mắt: “Oe trẻ ốm sắp chết nhà ở Lầy trên, còn ông Oe già mới cưới vợ tuần trước thì ở Lầy dưới, cứ thề mà lần khác ra!”.

“Chắc là ông Oe trẻ ở Lầy trên rồi” Xoảng đoán vậy. Quả không sai. Theo con đường đất đỏ hỏi thăm mãi mới tìm được đến nhà ông Đoàn Oe…Chờ cho khách uống cạn chén nước ông Oe mới phều phào: “Bác là gì với …hư..hừ…vợ chồng con Cẩm?”. Ông Oe hòi mà như không hỏi. Ông nghĩ dẫu người đàn ông kia là ai thì cũng chả quan trọng gì. Ông cô độc nên chỉ muốn có người để giãi bày, con Cẩm ruột thịt nhưng mấy năm nay nó có đoái hoài gì đến ông đâu. Thở lấy sức hai ba lần, ông Oe nói tiếp: “Thực tình tôi yếu quá, trong ngực lúc nào cũng réo ào ào, vài ngày nay còn ho ra máu nữa, tôi muốn gặp cháu nó để chốt lại trách nhiện của nó với dòng họ Đoàn trong cái làng này. Con Cẩm lại đi biền biệt mỗi lần có việc họ hàng chửi rát cả mặt…Gái thì gái chứ!”.

Xoảng dở khóc dở cười khi cứ được trọng vọng một lời bác hai lời bác. Vậy là chết mình rồi, vừa mất toi trăm bạc giờ thì tiền thoái lưỡng nan, biết nói sao với ông bố của bà chủ nhà mang tên loại gỗ quý này đây!…”Chị Vện ơi! vồ cho tôi con gà trống làm thịt để mời bác đây xơi rượu …hừ hứ…”, ông Đoàn Oe nói xong lại ho rũ rượi. Chị Vện cùng thằng con trai lùa bắt bằng được con gà trống thiến to nhất, gầy giơ xương…Bữa cơm chỉ có hai người. Cùng ăn với người ho lao nghĩ cũng ghê ghê, nhưng thấy chủ nhà hiếu khách nên cái sợ trong Xoảng cũng vơi đi đôi chút, ông Oe xúc từng thìa cơm khó nhọc. Tuy bệnh nặng nhưng từ trước giờ ông chả giám nhờ vả ai, chỉ có chị Vện là người họ hàng xa lại ở gần nhà, nên thỉnh thoảng mẹ con chị ấy sang thăm ông. Bây giờ ông thấy mình ốm yếu quá rồi, nên mới điện cho vợ chồng Cẩm về để trăng trối đôi điều. Ông Đoàn Oe thở phì phò nặn ra từng nhời: “Con Cẩm không về nhưng có bác tôi cũng cầm bằng, tôi đã quen cảnh sống cô độc rồi, mấy năm nay tôi muốn đi gặp mẹ con Cẩm dưới suối vàng!”. Đang nói ông Đoàn Oe tự dưng ôm mặt khóc tức tưởi. Tiếng khóc của người già khèn khẹt tắc nghẹn, nghe như tiếng vỡ của đồ sành sứ. Xoảng vội buông đũa bát đỡ dìu ông lại cái giường, rồi ra hiệu cho chị Vện dọn mâm cơm xuống bếp…

Đêm đó dù không muốn nhưng Xoảng vẫn phải cố nghe ông Đoàn Oe thuật lại gia cảnh của ông ấy. Cuối cùng cái điều Xoảng muốn biết chỉ gom vào trong lòng bàn tay: Vợ ông Đoàn Oe sáu lần vượt cạn chỉ đậu được mỗi mình con Cẩm, con bé nuôi nấng đã khó mà lớn lên tính tình lại ngang ngược, nghĩ mà nẫu cả ruột. Bọn con gái ở làng này thì đứa nào cũng chịu thương chịu khó làm ăn, thế mà con Cẩm chả chịu động chân động tay, quét cái nhà cũng không nổi, vậy nên tuy là con gái nhà quê nhưng da con Cẩm trắng như ngó cần. Khi nó mười bốn mười lăm tuổi bọn trai làng cứ hau háu nhìn nó như ma đói. Lúc cái Cẩm mười bảy tuổi thì mẹ nó bị cảm lạnh rồi mất. Vài năm sau hai cha con dù không ai nói với ai nhưng đều ước ao, làm sao con Cẩm ra phố có việc làm, rồi cố kiếm lấy tấm chồng ngoài đó cho mát mặt, Không ngờ thời gian sau nó dính với anh con trai ông thợ máy khâu ngoài phố thật. Chàng trai mê mẩn cái gót chân hồng của cái Cẩm. ba năm làm dâu ở nhà thợ may không có điều tiếng gì, nhưng có việc quan trọng nhất là sinh con nó lại không làm được, bác sỹ bảo nó bị hư dạ con hết cách chữa. Cái Cẩm  ngày càng phây phây ra còn anh chồng thì càng quắt lại. Vì không đẻ đươc nên Cẩm dần dần bị gia đình nhà chồng xa lánh. Anh chồng đáng nhẽ phải động viên chia sẻ cùng vợ, nhưng không, đằng này lại đá thúng đụng nia, gằn hắt rối chán đời rình lấy hết tiền và lấy hơn lạng vàng bỏ vào Nam, cái Cẩm buồn lắm. Vài tháng vài lần đi tìm chồng. Bẵng đi hai năm Cẩm trở về làng, trông nó sang trọng khác hẳn, cứ như một bà chủ, một đại gia vậy. Nó thuê thợ đập bỏ cái nhà cũ, xây cái nhà mới rộng rãi hơn cho bố, rồi Cẩm lại tiếp tục ra đi…

Ở chơi với ông Đoàn Oe hai ngày Xoảng rệu rạo xuôi Hà Nội mà ruột gan cứ rối bời. Hình anh gia đình ông Đoàn Oe và cô chủ có cái nhà bốn tầng, cứ vảng vất trong đầu Xoảng suốt cả chặng đường dài.

Một tuần sau:

 “…Cô về ngay kẻo không kịp, ông già yếu lắm. Xong việc rồi tôi giao lại cái nhà này cho cô. Vợ và con tôi đang khốn khổ ở quê kìa!”. Xoảng mệt mỏi giục người con gái đột nhiên đứng sừng sững ở trước mặt. Đúng là Cẩm! Cái Cẩm không thể tin những gì diễn ra với người đàn ông, đang dặt dẹo ngồi ở tầng một căn nhà của nó khi nó vừa từ bãi vàng Bắc Giang về. Cái Cẩm cứ há hốc miệng mà chả biết nói câu gì với anh ta cả…

Cẩm về đến nhà thì không kịp nữa. Cha nó đã chết được vài hôm, đám ma của ông Đoàn Oe dân làng phải tự lo lắng. Hôm đưa ông ấy ra đồng thật đau lòng, chẳng có đến một người đội khăn tang. Cái Cẩm đau xót lật đật đi ra khu nghĩa địa, rồi phủ phục khóc lóc thảm thiết bên ngôi mộ của cha nó. Cẩm đâu có biết bao nhiêu năm nay ông Đoàn Oe nhiều đêm thức trắng bởi ốm đau bệnh tật và cũng không biết bao nhiêu lần ông thầm gọi tên nó. Thế đấy. Nước bao giờ cũng chảy xuôi chứ có khi nào chảy ngược đâu.

Ở làng vài hôm, chợt cái Cẩm nghĩ đến Xoảng, nó lại xuôi Hà Nội, rồi nó đi chợ, tự tay nấu bữa cơm thịnh soạn mời Xoảng…Buổi tối hôm ấy trời đen kịt bởi đang vào đêm cuối tháng, ngưng gió không khí ngột ngạt, mấy cây phi lao trước nhà cứ như muốn ngoi lên đề hứng một tý gió trên cao. Xoảng và cái Cẩm ngồi ngoài thếm đến tận khuya. Buồn lắng…Giọng cái Cẩm rưng rưng xa lắc:

“…Ngày ấy đã lâu lắm rồi em vất vưởng ờ chỗ người quen đến nửa tháng để tìm chồng, nhưng tin tức về lão chồng vẫn bặt vô âm tín. Một hôm em đang nằm dính người trên gác của nhà chị bạn, thì nghe thấy tiếng vợ chồng chị ấy ở dưới nhà đang giẫy nảy, bởi mấy kiện hàng của chú em nặng hàng tạ từ nước ngoài gửi về. Chẳng biết nghe ai mách bảo, niken bây giờ là mặt hàng rất có lời chỉ sau buôn á phiện ở Việt Nam mà thôi, thế rồi cậu ấy đã nhờ ông ban Ivan gom cho vài tạ niken ở bên Nga. 5 tháng sau ông anh ở Hà Nội nhận được ba kiện hàng to tướng, đủ thứ tạp nham, nhưng cái đáng giá nhất là những tấm niken nặng trịch đóng cứng ngắc xung quang mấy thùng gỗ to đùng. Thời bấy giờ ở Việt Nam một cân niken đổi sang bốn chỉ vàng. Khi nhận hàng về nhà, vợ chông ông anh hồn xiêu phách lạc, bởi họ là những người công nhân thuần túy, chỉ quen cuốn thuốc là sợi chứ việc buôn bán có biết gì đâu, nhất là lại buôn thứ hàng lậu này. Em biết thế nên em lật bài ngửa với vợ chồng chị ấy luôn, làm cho hai người mặt cắt không ra hột máu. Dọa chán rồi sau em chốt lại: Thôi! Tôi sẽ lên Lạng Sơn ba ngày để tìm mối hàng, anh chị ở nhà chờ, nếu tiêu thụ được của nợ này đi thì coi như phúc bảy mươi đời rồi…Mười ngày sau nhờ mối mai móc nối, em bán được số hàng xếp chềnh ềnh trong nhà. Vợ chồng chị ấy mừng như mở cờ trong dạ, em sắm cho hai người một cái xe SimSơn còn nguyên trong hộp, một cái tủ lạnh 150 lít mới toanh, rồi quạt điện, bóng đèn. Trong nhà cứ sáng choang. Cùng một chút tiền mặt. Thế là hết ý, hết ước muốn luôn! Kiếm được khoản tiền lớn em mua hơn trăm mết đất xây nhà và thuê bọn ma cà bông lôi cổ ông chồng nửa người nửa ma, đang mơ màng với nàng tiên nâu trong con hẻm ờ phố chợ trời Yên Bái về. Thế là bỗng chốc em thành giàu có, mạc nhiên tứ đấy nhiều đừa phải cung phụng, quỳ lụy em, nhất là bọn đầu đường cuối bãi…Sau đó em làm chủ thu mua vàng cám ở Bắc Giang, hai năm sau làm ăn được em lại càng giàu hơn. Nghiệt nỗi lão chồng em ngựa quen đường cũ, nhân ngày em sang Trung Quốc du lịch, ở nhà hắn cuỗm tất cả vàng bạc biến vào Nam, giờ em cũng chả muốn tìm gã nữa. Nghĩ mà chán. Làm ăn để làm gì, giàu có để làm gì khi chỉ sống có một mình…Cái thằng đưa anh đến đấy là đệ tử ruột của em, tháng trước nó bị sốt rét ác tính ở bãi vàng, chết rồi!”.

Cái Cẩm kể xong câu chuyện lúc nào Xoảng cũng không hay, không gian thì vẫn im lặng như tờ. Quay sang Cẩm, Xoảng thấy nó gục mặt vào hai lòng bàn tay, nó cứ nấc lên nghẹn ngào mà khóe mắt không thấy rỉ ra giọt nước mắt nào. Cũng chả biết nữa, có lẽ nước mắt của cái Cẩm đã lận hết vào bên trong rồi.

Còn với Cẩm, tự nhiên nó cảm thấy người đàn ông ngồi cạnh nó lúc này sao mà gần gũi thế. Nhưng dù sao anh ta cũng chi là người dưng thôi!...

 P.C.C

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm