TIN TỨC

Bài ca thế kỷ 21

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-31 13:00:52
mail facebook google pos stwis
637 lượt xem

TRƯƠNG VĂN DÂN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”,  tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.

 

Tập thơ Bài ca thế kỷ 21, NXB Thuận Hóa 1.2026

 

Cũng trong năm đó, sự kiện Tết Mậu Thân (1968) thì thơ có thêm chủ đề thân phận và nỗi đau của con người trước cuộc chiến. Chừng vài chục bài thơ lẫn lộn được chép cẩn thận trong một tập giấy pelure nhiều màu.. cho đến cuối năm 1971 nó cũng theo tôi qua Ý du học và hơn 40 sau, năm 2008 lại cùng tôi quay về Việt Nam.

Tất nhiên đó là những bài thơ xoàng, chỉ dành cho một vài bạn thân đọc chứ chưa bao giờ công bố.

Năm 1973, bài thơ “Vết thương hồng trên cánh chim câu” được hội sinh viên sáng tác ở Paris đưa vào tuyển tập, tiếc là sau đó bị thất lạc. Rồi  khi làm trưởng ban báo chí của Hội sinh viên Việt Nam tại Milano, tôi viết văn xuôi, chỉ thỉnh thoảng mới lạc vào vườn thơ. Có lẽ đến năm 1987 tôi có viết bài thơ cuối cùng rồi vì công việc mưu sinh nên hoàn toàn bỏ bút.

Mãi đến 1994 được đọc truyện ngắn “Những ngày đánh mất” của Dino Buzzati tôi hiểu được ý nghĩa sâu sắc về thời gian, xưa nay cũng là nỗi ám ảnh thường trực của tôi. Xúc động, tôi  liền dịch ra tiếng việt rồi gửi  cho tạp chí Thế Giới Văn ở Mỹ. Bài được đăng và còn được chủ bút khích lệ nên từ đó tôi mới dịch rồi viết, và bắt đầu cầm bút trở lại. Nhưng chỉ viết văn xuôi.

Tiếng thơ như đã ngủ im  từ những ngày thơ ấu bỗng một hôm thức dậy.

Thức dậy vì cuộc chiến  Nga – Ukraine!

Tôi viết về cuộc chiến này nhưng cũng là viết cho quê hương tôi, cho tất cả những cuộc chiến tranh từ trước đến nay ở bất cứ nơi đâu mà tôi đều cảm thấy vô nghĩa.

Tâm hồn tôi đau đớn khi nhận thấy bao nhiêu người đã chết trong cuộc chiến tranh này, với biết bao kẻ bị tàn tật và bao nhiêu gia đình mất nhà cửa. Tự dưng, như đất bằng dậy sóng, hàng vạn con người bị ném vào lò lửa chiến tranh, nhiều người trong số họ sẽ không bao giờ trở về nhà vì đã biến thành tro bụi. Nhiều người bị tàn tật và hóa điên vì những gì đã chứng kiến.

Hình ảnh hằng ngày trên TV… cùng những bài nhận định về nguy cơ chiến tranh thế giới thứ ba có thể nổ ra… đã bật trong lòng tôi những câu chữ. Nó giống như con sò đã nuốt nhầm hạt cát làm mình đau phải tự vệ bằng cách đem máu thịt của mình phủ lên và hóa thành các vần điệu “có thể gọi là thơ”. Nó cần thiết như một trị liệu pháp.

Thơ  hay không thơ, mới hay cũ, cách tân hay không… tôi chẳng quan tâm..  và kết quả là bài thơ  “Thế chiến 12 đoản khúc” ra đời.

Bạn Trần Ngọc Châu gọi đó là “Tiếng lòng không thể không viết. ”

Sau đó thì những bài “thơ” khác được tiếp tục viết. Nó mở đầu cho những suy tưởng về thân phận con người  trong cõi sống vào đầu thế kỷ 21.

Tôi không viết cho Ukraine hay Nga mà viết cho quê hương tôi, cho các các dân tộc khác đã bị  bằm nát trong thế kỷ này, từ Trung Đông cho đến Châu Á và lan sang cả Đông Âu. Như Iraq, Libya, Afghanistan, Syria, Crimea,…Màu máu đỏ của nhân loại có khác gì máu đã  mấy ngàn năm từng nhuộm đỏ đất nước tôi?

Nhìn những đoàn người tị nạn với hành trang ít ỏi, áo quần không đủ ấm dưới nắng cháy da hay mưa tuyết…,  tôi không thể không nghĩ đến những thảm kịch tương tự mà người dân nước tôi đã từng gánh chịu.

Nạn nhân đó cũng chính là tôi và  tất cả những người từng bất lực chứng kiến những khổ đau, mất mát... Ukraine chỉ là chất xúc tác để những cảm xúc buồn đau trong tôi lan rộng, nên viết về họ cũng là viết cho tất cả những cuộc chiến đã và đang xảy ra.  

Bởi những hình ảnh chết chóc ở bất cứ nơi nào cũng giống nhau.

Những cái xác bị thiêu cháy thì da đen da vàng da trắng cũng chỉ là một khối thịt hóa thành than. Một sự bình đẳng đến nghẹn ngào và đau đớn!

Có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ quên hình ảnh những đoàn người gồng gánh, địu con chạy nháo nhào khỏi các vùng chiến sự ở quê tôi. Có cụ già héo quắt, đôi mắt hoảng loạn, ôm cái xác trên tay. Có đứa bé thơ day vú mẹ cạn sữa dần, khóc đến khản giọng mà không hề hay biết người mẹ đã chết thảm bên đường di tản.

Trên Tivi sáng nay tôi thấy một người cha đang vuốt ve khuôn mặt  đứa bé gái và nức nở bảo mọi người hãy nhìn xem cháu xinh đẹp biết bao. Cháu như đang ngủ nếu không có tấm vải liệm màu trắng. Trên một góc phố khác có cậu bé đang vật lộn trong mưa dầm mình trên con đường ngập lụt, cõng trên vai thi thể cứng đờ của một đứa em đã chết mà cậu chưa sẵn sàng xa nên không chịu bỏ lại phía sau.

Bỗng dưng tôi thấy trên khuôn mặt đờ đẫn của những đứa trẻ này khuôn mặt của chính tôi, của cả loài người đang quằn quại trong tuyệt vọng

Với lương tâm con người, những gì đang xảy ra ở Ukraine là không thể chịu đựng. Để duy trì quyền lực, bán buôn vũ khí… người ta sẵn sàng chà đạp lên hàng ngàn xác chết của người già, phụ nữ và trẻ em vì tội lỗi của họ “là người Ukraine”. Cái hố sâu thù hận giữa Nga và họ đột nhiên biến thành một vực thẳm không thấy đáy và có thể sẽ tồn tại trong nhiều thập kỷ, nhiều thế hệ.

Tôi đã khóc. Dù biết tiếng khóc ấy không làm ai no, không xoa dịu được những vết thương. Không an ủi được người đau khổ.  

Bỗng dưng tôi nhớ đến những cái tên lạ lùng của những đứa trẻ ở quê tôi.  Cha mẹ đặt tên con là gạo, là cơm, là nhà, là xóm, là làng…  với mong ước  lớn lên chúng sẽ có miếng ăn, có nhà để ở, có quê hương nguồn cội.  Các sư cô hay các “ma soeur” còn đặt tên các bé ở các trại mồ côi  là mẹ, là cha, anh, chị … để nó quên đi thân phận mồ côi, bị bỏ rơi hay được nhặt trước cổng chùa. Rồi đến tên các thôn xóm là An Lạc, Phú Hòa, Thạnh Mỹ.. với ước vọng bình an, giàu có, hiền hòa, … bởi chiến tranh đã tàn phá mọi thứ, chỉ còn lại một đống tro tàn.   

Hơn 50 năm qua, từ khi còn là một thiếu niên mới lớn, đến giờ đã trở thành một người qua tuổi 70 nhưng nỗi đau xưa trong lòng tôi vẫn còn âm ỉ như một căn bệnh không thể chữa lành.

Khi một người bị giết người ta luôn tìm hiểu nguyên nhân và truy lùng thủ phạm. Thế nhưng khi có hàng triệu người bị giết thì mọi người lại dửng dưng! Chẳng lẽ không ai là  kẻ sát nhân? Hay tất cả chúng ta đều là đồng phạm vì đã câm miệng, thờ ơ?                     

Các bài thơ của tôi viết trong tập thơ Bài ca thế kỷ 21 -Thơ về thảm họa và các cuộc chiến tranh với ước mong là thế giới không còn chiến tranh, khẩn thiết kêu gọi mọi người cùng tưới mầm hòa bình, hóa giải mầm mống bạo lực, tham lam và sợ hãi. Vì chỉ do sợ hãi và nóng giận chúng ta mới chế ra bom hạt nhân, vì tham lam và mê muội nên chúng ta sản xuất vũ khí để kích động xung đột. Chiến tranh chỉ đến từ tâm trí chúng ta, nó đến từ sợ hãi, giận dữ và nghi ngờ rồi tự làm khổ mình và gây đau thương cho người khác.

Chúng ta đang sống trong một thế giới chia cắt và hận thù. Đã có nhiều người đánh mất niềm tin nên trong mùa Giáng Sinh đã đem đặt Chúa Hài Đồng giữa đống đổ nát của một trận bom.

Nhưng xin đừng bi quan mà  hãy lan tỏa tình yêu vì  đau thương và thống khổ đã có quá nhiều trên trái đất này.

Có thể câu chữ vụng về của tôi giống như tiếng gào trên sa mạc, nhưng tôi thiết tha kêu gọi những người có quyền lực và lợi ích hãy chấm dứt ngay những cuộc chiến tranh.

Tôi ước mơ được làm người, để sống với nhau, sống cùng nhau và sống cho nhau.

 Bởi chiến tranh nào giải quyết được gì?  Hơn 2500 năm trước đức Phật đã  dạy:

“Chiến thắng gây hận thù,

Thất bại chuốc khổ đau,

Ai từ bỏ thắng bại,

An tịnh liền theo sau”. (Tương Ưng Bộ kinh, Samyutta Nikàya I-102)

 Và những ai muốn sống an lạc tránh sợ hãi và khổ đau, hãy từ bỏ sát sanh:

“Hận thù tiêu diệt hận thù

Ðời này không thể có,

Từ bi diệt hận thù,

Là định luật nghìn thu”. (Pháp Cú, Dhammapada, 5)

Có lẽ khi đến một tuổi nào đó, chừng 70/ 80 lòng ta đã lạnh, tim ta đã khô, chuyện gia đình xã hội, cơm áo gạo tiền sau bao năm tháng đã  không còn đè nặng trên vai, thơ như lối thoát, như cái phao giúp ta khỏi chết chìm trong biển đời trước khi bay về miền mây trắng?

Cuối cùng, tôi muốn gửi đôi lời tới những người đã đọc tập thơ này… Xin các bạn đừng quên, dù sao trái đất này cũng là thế giới tươi đẹp của chúng ta, nó xứng đáng được chúng ta đấu tranh để bảo vệ. Thờ ơ trước cái ác và đóng cửa lương tri liệu có phải là một điều không kém phần tàn ác?     

Đời sống là một thiên đường khi chúng ta biết sống với nhau. Được sống trong một thế giới văn minh, trong một nền văn hóa có tình người rực rỡ. Bất kỳ  nguồn gốc chúng ta ở nơi đâu trên trái đất, không phân biệt màu da, tôn giáo, ngôn ngữ, thói quen hay truyền thống… Chúng ta hãy nắm tay để đi cùng nhau chống lại chiến tranh để không còn ai bị hành hạ hay bắn giết chỉ vì tham vọng của một nhóm người  và tôi tin chắc không có điều gì không làm được khi mọi người đều chung tay hành động 

Cần phải chứng minh là chúng ta đang có phương tiện tinh thần để chống lại sự tiêu diệt nền văn minh.

Chiến tranh chỉ là sự hủy diệt! Xưa nay chưa ai thấy có cuộc chiến nào nhằm khôi phục lại nhân quyền, tự do hay công bằng xã hội mà chỉ là sự tranh giành quyền lực, kẻ chiến thắng là ông chủ mới, chưa chắc tốt hơn ông chủ cũ mà nó vừa đạp đổ.

Cho dù bạn ủng hộ bên nào, bạn vẫn có thể yêu cầu ngừng bắn, thả con tin và ngừng giết chóc cũng như tiếp cận viện trợ không hạn chế.

Trong mọi quan hệ luôn có điều đúng điều sai nhưng tôi nghĩ không có lý do nào có thể biện minh cho bạo lực và chém giết. Sự hung hãn chỉ để phô bày tính yếu đuối của con người, nó chỉ đập phá chứ  không bao giờ  xây dựng được điều gì tốt đẹp. 

Tôi luôn mơ xây một bức tường in các tranh vẽ, bài thơ hay và có chủ đề chống chiến tranh ở khắp nơi trên thế giới. Đặt bên những bức tượng  ở nơi trang trọng nhất thành phố: Nó nhắc nhở mọi người đừng bao giờ quên những tội ác và đau khổ,  để chúng ta không trở thành nạn nhân trong tương lai.

Chúng ta không thể quên vì sự lãng quên ấy tạo điều kiện cho cái mầm ác trỗi dậy rồi tiếp tục chiến tranh nhân danh những điều tốt đẹp.

Tôi mong các bạn không lùi bước trước cái ác và cùng đứng lên, bên nhau và vì nhau cho đến chừng nào chúng ta còn sống. Nếu bạn còn chần chừ thì xin hãy tưởng tượng  là bạn đang sống bình yên ở một nơi nào đó rồi bỗng nhiên có một quả phi tiễn từ xa bay tới làm căn nhà đổ sập và người thân của bạn đang nằm dưới gạch đá hoang tàn . Bạn không thể chờ được nữa! Hãy cùng chúng tôi góp phần phản đối để ngăn chặn chiến tranh trước khi quá muộn

Bạn ơi, nên nhớ rằng chúng ta luôn thuộc về số đông, chúng ta là một sức mạnh to lớn có thể làm thay đổi mọi thứ. “Chúng ta có thể loại bỏ chiến tranh. Chúng ta có thể nấu thép xe tăng, tàu chiến thành tàu du lịch hay gom hết vũ khí trên trái đất đúc thành những chiếc chuông nhỏ và phân phát cho tất cả mọi người, mời tham gia vào một cuộc đại diễu hành vòng quanh thế giới để kêu gọi hòa bình.

Đồng loạt, đồng loạt những tiếng thơ trong Bài ca thế kỷ 21 – Thơ về thảm họa và các cuộc chiến tranh cũng là những tiếng chuông cùng lúc gióng lên, ngân vang trong không gian, truyền đến mọi quốc gia trên quả địa cầu để tỉnh thức tâm thiện của loài người.

Milano  12.2022

T.V.D

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm