TIN TỨC

Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-19 16:06:44
mail facebook google pos stwis
18 lượt xem

TRẦN TRUNG SÁNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người.  Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.

 

Bìa tập sách Tùy bút “ Mắt đá, Mắt cỏ cây và Mắt thức” của Phan Trang Hy

 

Phan Trang Hy là một trong những tác giả văn xuôi của TP Đà Nẵng, đã xuất bản  một số tác phẩm như: “Người thầy dạy búp bê” (2009), “Người hay là những cơn mơ mạo danh” (2015), “Phóng sinh chữ nghĩa” (2018), “Phạm Duy và lời ca lắng đọng”(2021)…  Với ngòi bút giàu tính nhân văn, hầu hết, các tác phẩm này phản ánh đa chiều những lát cắt của đời sống xã hội và tình cảm con người.

Mới đây, càng bất ngờ hơn, tai buổi ra mắt tập sách mới Tùy bút “ Mắt đá, Mắt cỏ cây và Mắt thức” của Phan Trang Hy (Nxb Văn học, tháng 5/2026), cái tựa đề lập tức gợi nhớ đến họa sĩ Bửu Chỉ - người đã dấn thân vào cuộc đấu tranh trong phong trào sinh viên Huế (từ 1968) khi trả lời phỏng vấn trên một tờ báo Pháp: “vì sao tranh ông chỉ thấy những gương mặt người mà không thấy  chùa chiền hay giáo đường?”, ông nói: "Tôi không vẽ giáo đường, bởi vì trong con mắt con người đã có giáo đường".

Và như thế, ở Phan Trang Hy dù qua bất cứ đề tài nào,  mảng tản văn và tùy bút của ông luôn mang đậm cái tôi chiêm nghiệm, dung dị, đong đầy hơi thở Phật giáo thiền định và tình cảm quê hương sâu nặng. Bản chất là một nhà giáo, những trang tản văn của ông không lạm dụng kỹ thuật câu chữ phức tạp mà hướng tới sự mộc mạc để khơi gợi cảm xúc từ những điều bình dị nhất. Những nét đặc trưng nổi bật trong phong cách tản văn của ông đáng nhớ nhất là: Chất thiền và tư duy chiêm nghiệm triết lý. Cụ thể, tác giả thường xuyên hướng ngòi bút vào thế giới nội tâm để tìm kiếm sự an yên.

Qua các bài viết như Nhất chi mai - chất người muôn thuở, ông mượn các điển tích, thơ thiền hay triết lý nhân sinh của Phật giáo để tự soi rọi bản thân, chia sẻ nỗi đau trần thế và hướng con người tới sự bao dung, tu tập. Đề tài hoài niệm, gắn liền với thời gian và không gian kỷ niệm. Văn phong của ông đặc biệt giàu cảm xúc khi viết về các cột mốc thời gian đặc biệt như những ngày cuối năm, mùa Giáng Sinh hay khoảnh khắc đón Tết, luôn mở ra một khoảng không gian ấm áp, kết nối câu chuyện của quá khứ và hiện tại. Ông dành nhiều trang viết xúc động để ca ngợi tình yêu thương của người mẹ và các giá trị gia đình. Tiêu biểu có tùy bút Bao la tình mẹ hay Thảo thơm rằm tháng Bảy, nơi ông nhắc nhở người đọc về chữ hiếu, sự sẻ chia giữa con người với con người theo đúng truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người.  Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.

Thể hiện qua thái độ "bình tâm nhìn vạn vật". Tác giả không đứng ngoài để miêu tả cảnh vật một cách vô cảm, mà ông quan sát sự biến chuyển của cuộc đời với tâm thế chánh niệm. Một nhành mai nở, một kiếp người vô thường hay một góc phố rác đều được nhìn nhận bằng con mắt bình đẳng, không phán xét, thấu hiểu quy luật thành - trụ - hoại - không của nhà Phật. Đó là chất thiền trong tùy bút ông vậy.

 

Nhà văn Phan Trang Hy tại buổi ra mắt sách Tùy bút “ Mắt đá, Mắt cỏ cây và Mắt thức”

 

Nâng đỡ cái nhìn triết lý đó bằng những hình tượng nghệ thuật lung linh, lãng mạn. Trong tùy bút Nhất chi mai - chất người muôn thuở, hoa mai không chỉ là một loài cây, mà là biểu tượng của cốt cách thanh cao, sự kiên cường sinh sôi giữa mùa đông giá rét. Chất trữ tình thấm đượm trong cách ông cảm nhận hương vị thời gian, màu sắc của ký ức, biến những triết lý khô khan thành những bức tranh ngôn từ đầy nhạc điệu. Đó là chất thơ trong tùy bút ông vậy.

Nằm ở dòng cảm xúc hoài niệm chảy trôi không ngừng. Văn xuôi của ông đầy rẫy những khoảng không gian hoài cổ: tiếng chuông nhà thờ đêm Giáng Sinh, mùi khói trầm ngày Tết, hay dáng hình lam lũ của người mẹ. Sự rung động tinh tế, nét buồn man mác trước sự trôi chảy của thời gian đã gieo vào lòng độc giả sự đồng cảm sâu sắc.  Ông đối diện với quá khứ và những mất mát bằng tinh thần buông bỏ và tự tại. Thay vì oán trách hay tuyệt vọng, ngòi bút của ông hướng về sự bao dung, xem nghịch cảnh là chất liệu để tu tập tâm thức. Nỗi đau trong văn ông luôn được xoa dịu bằng tình yêu thương vô điều kiện và niềm tin vào bản tính thiện lương của con người.

Bằng nhịp điệu văn xuôi chậm rãi và những khoảng lặng (nghệ thuật cấu trúc), Phan Trang Hy tạo ra một "không gian vô ngôn" trong cấu trúc tác phẩm. Các câu văn của Phan Trang Hy thường không dồn dập, kịch tính mà có xu hướng chậm rãi, mô phỏng nhịp thở của người thiền định. Ông biết cách tạo ra những khoảng lặng sau mỗi câu chuyện, bắt người đọc phải dừng lại để tự chiêm nghiệm, "nghe" thấy tiếng lòng của chính mình. Điều phối nhịp điệu chậm rãi đó bằng nhạc tính của ngôn từ. Cách ngắt nhịp uyển chuyển, sử dụng các từ láy nhẹ nhàng (như đau đáu, thảo thơm, ấm áp) tạo nên một giai điệu du dương riêng biệt. Sự kết hợp này biến văn xuôi của ông có xu hướng "thơ hóa", khiến người đọc cảm thấy như đang thưởng thức một bài thơ dài được viết dưới dạng văn xuôi.

Sự gặp gỡ lớn nhất giữa thơ và thiền trong văn Phan Trang Hy nằm ở sự tối giản. Ông không dùng những từ ngữ đao to búa lớn hay cấu trúc câu phức tạp để phô diễn kỹ thuật. Ngôn ngữ của ông quay về sự nguyên sơ, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân miền Trung nhưng lại hàm chứa dung lượng ý nghĩa rất lớn. Đó chính là tinh thần "Ý tại ngôn ngoại" (Ý ở ngoài lời) của thơ ca truyền thống và cũng là cốt lõi của thiền học — dùng cái hữu hạn của ngôn từ để gợi mở cái vô hạn của tâm tưởng.

T.T.S

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm