TIN TỨC

Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-07-01 10:06:52
mail facebook google pos stwis
167 lượt xem

BÙI PHAN THẢO

Đôi khi những ý nghĩ lóe lên lúc guitarist Châu Đăng Khoa ngồi trầm tư nơi góc quán, bên ly cà phê; ông giữ lại, ngắm nhìn chúng, trao cho chúng một số phận trong hành trang chữ nghĩa của ông.

Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui

Chân dung nhà thơ – guitarist Châu Đăng Khoa.

Nén mình, tạo sức bật cho người đọc

Truyện ngắn Châu Đăng Khoa nhuốm màu lãng đãng, chất thơ bàng bạc và nhiều truyện đẫm chất triết lý phương Đông cùng không gian mờ ảo, nhân vật sống giữa thiên nhiên, kỳ hoa dị thảo hay trong cõi người chật chội, chớp mắt nhân gian và biến ảo cùng ngôn từ cùng lối tư duy mạch lạc trí huệ… Còn thơ của ông, cũng không kém phần đa dạng, từ những góc nhìn diễu nhại về những khía cạnh đời sống đến luận giải về những bất toàn bằng ngôn ngữ đặc trưng, chất riêng của Châu Đăng Khoa không lẫn lộn người khác. Ông nhìn cuộc sống, nhìn tình yêu, nói đến cuộc sống, tình yêu bằng 6 dây guitar trên 10 ngón tay tài hoa và một tâm hồn nghệ sĩ, bằng cái cười và cả sự lặng im, lặng im đến nỗi nghe từng sóng âm dội lên lúc câu chữ hiện hình lên trang giấy.

Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Nhật Chiêu nhận xét: “Thơ Khoa là những “giọt đắng” của đời đang “chìm lên” trong một ngôn ngữ xoáy lốc. “Chìm lên” là cách nói của Khoa. Thử hình dung ta ném một hòn cuội vào nước. Có gì đó đang chìm lên và lan tỏa. Đó là trò chơi của ta và nước. Cũng như thế, đây là trò chơi của Khoa và thơ”.  

Bìa tập thơ “Eo óc cung bậc” và tập thơ “Lúc guitar ngủ”

Nhà thơ Nguyễn Liên Châu, người bạn thân của Châu Đăng Khoa, nói rằng: “Nhạc của Khoa trùng vi biểu cảm nên khó hát. Thơ của Khoa ngồn ngộn xúc cảm nên khó đọc. Khoa luôn nén mình, tạo sức bật cho người đọc - người nghe tự òa vỡ. Sự đồng cảm lên đỉnh sau cuộc thấm giọng. Thơ Khoa luôn là những ca từ buộc người đọc tự hát”.

Đẩy suy tưởng đến tận cùng

Với tôi, là người em thân thiết của ông, tôi cảm nhận rõ thơ Châu Đăng Khoa có sắc màu hiện đại, ngôn ngữ mới mẻ, cấu tứ độc đáo, thi ảnh đẹp, giàu liên tưởng… Ông thường đẩy đến tận cùng những suy tưởng để thông điệp bật lên, để thơ như khắc khảm trên từng phiến đá sau những miệt mài, mê đắm, hoang mang. Đôi khi những ý nghĩ lóe lên lúc ông ngồi trầm tư một mình nơi góc quán, bên ly cà phê sớm chiều; ông giữ lại, ngắm nhìn chúng, trao cho chúng một số phận trong hành trang chữ nghĩa của ông.

Đời người nặng nhọc, đời nghệ sĩ tài hoa nào mà chẳng lao đao nên đôi khi những câu thơ không gọt giũa nhẵn nhụi mà xù xì, gai góc: “Ngày ngắn/ đời nhăn/ ủi hoài không phẳng”; “Chưa xếp giống loài nào/ thú lạ/ ai cũng nói vậy/ nó xếp đời nó vào xó”; “Lá vàng đã từng xanh/ dẫu xanh hay vàng/ vẫn mật hương bất tận/ đời người đau hơn“…

Qua tư duy của Châu Đăng Khoa, ngữ nghĩa được làm mới, cho dù đó là ngôn ngữ đời thường của dân Sài Gòn rặt như ông: “Lụm cái bông”, “đứt bóng”, “minh mông”, “khựi tiếng guitar tòa loe”… Ông biết chắc mình sẽ đi đến tận cùng: “cây guitar không cô độc/ âm nhạc lên trời xòe đôi cánh trắng/ như cánh cò thôi”.

Ở nơi khởi đầu của một guitarist lừng danh là bến sông Bình Đông với bụi ô rô nơi chàng thiếu niên ngồi tập đàn từ sáng sớm đến chiều tối, đến trọn cuộc đời nhìn lại vẫn buốt gió sông trong chiều đã “thu thu xưa”:

“Một vốc ngậm ngùi bến sông cũ/ nắng chiều thăm thẳm xưa xưa thu” (Sống sót tiếng đàn)

Có phải chăng vì những buổi chiều thẳm sâu đó đã khiến Châu Đăng Khoa với 6 dây huyễn hoặc, với 7 nốt nhạc Tây phương đầy biến ảo và buồn:

“Ném nốt Si xuống thung lũng

lòng sân không nghe vọng âm

đạp nốt La rớt về hẻm núi

tiếng thét vang nội thương thùng đàn

nốt Mi ngoái nhìn tìm quá khứ

nụ hôn đầu chìm lỉm biển trần gian

nốt Fa vấp té vườn miểng chai

giấc mơ hài hòa lòi xương gãy sụm

bụm hai tay phía sau

nốt Sol sợ són nước sơn đời

bò đến cội bồ đề

nốt Re bỗng nhiên quên hết

dúi tay bản ngã

nốt Do vùng vẫy

bản ngã cầm không biết ném đâu

bảy âm thả trôi đồng cỏ

nhạc lẫy lừng bên kia nguyên sơ

mọi sự khởi đầu từ rất nhỏ

mà khởi đi đâu ... (Đi đâu)

Tiếng đàn đồng vọng cùng thơ

Cũng tiếng đàn đó, qua ngôn ngữ thơ mềm mại hơn, lại thấy một Châu Đăng Khoa trên đường gió bụi cùng bạn bè hay lúc độc hành, người không trúng nắng mà tiếng đàn đã nhận thay người những vệt nắng trưa:

“Ban trưa tiếng đàn trúng nắng

ngã lăn xuống triền vàng hoa

có chú ong tìm sự sống

đậu hôn mật đàn guitar

ong múa guitar cười

đồi hoa không quạnh quẽ

dẫu vắng bóng người

dẫu còn xa lắm đường ơi”… (Tiếng đàn trúng nắng trưa)

Châu Đăng Khoa đã đưa những miên trường gần lại, ít ra là với cái nhìn và sự thấu cảm của một thi sĩ: “ném ly cà phê vào huyền tưởng/ một cổ xưa nguyên thủy vọng về” (Cà phê 2)

Người yêu thơ Châu Đăng Khoa cũng thường chú ý sắc màu trong thơ của ông, những thi ảnh đầy ý nhạc, những sắc màu thiên nhiên và ý thức nghệ sĩ phối trộn. Chỉ một màu tím, không là màu tím hoa sim của thơ Hữu Loan hay tím màu thời gian của Đoàn Phú Tứ, màu tím tháng sáu của Châu Đăng Khoa tím cả tịch dương:

Một đời yêu

vỏn vẹn gọn mỗi chiều 

tím hoa cà nụ hôn đầu dịu dịu

líu ríu chờ nhau tím pensée

bài tụng ca tháng 6 

Tchaikovsky mạn thuyền sóng vỗ

biếc tím màu hạnh ngộ

tím nồng nàn lavender

thăm thẳm tích hoa ngô đồng tím

rịm buốt dải bờ

sóng vỡ

tím tịch dương (Tháng sáu tím)

Một bài thơ ngắn, lúc mùa xuân đang về, người đọc thấy và cảm nhận mùi hoa khắp phòng, một chút hơi người. Không thấy hoa đâu, bởi những cánh hoa đã không còn ở lại, với nỗi đau lúc biệt ly mà không thể nói thành lời:

Tết trống

căn phòng ngát hương

phút người vương ngọt ấm

 ôi…!

những cánh hoa biệt xứ

đau – không biết nói” (Khúc buồn)

Những đóa hoa buồn, những đóa hoa ẩn ức, cả những ẩn dụ bỗng bật khóc, đó là thơ Châu Đăng Khoa, lạ, độc đáo khác người:

Đôi cánh run

lạnh sương chảy dọc hình hài

nhánh gai xòe những đóa hoa ẩn ức

nức nở từng ẩn dụ

tiếng hót bỗng khan một lời tình” (Khan)

Chỉ là chiếc bóng thôi, nói với nhau rằng: “Khi nào bỏ anh hãy nói/ Dạ”… Và đến khuya, một tờ giấy trắng:

“Phía bên kia

cái bóng …

cái bóng

mãi mãi là bóng

anh à

đã đến lúc em giữ lại hình em” (Mọi điều đều giản dị)

Nghe im lắng ngoài song cùng giọt sương mai

Trong thơ Châu Đăng Khoa, không diễn giải dài dòng, câu chữ ngắn gọn, súc tích, kiệm lời, nén ý. Đọc kỹ, nghĩ kỹ mới thấm, để hiểu thêm về con người nhạc sĩ – nhà thơ đầy ý thức sáng tạo, ngắm, soi cuộc sống:

“Im lặng cảm nhận nồng nàn

nhắm mắt bao dung điều biết trước

nắng đâu hiểu gì về hẹn ước

mù sương cỏ mây hoa không có lưỡi

khóc cười tự tâm

tâm ý thích nghi nên lòng gió cuốn

Tình chiều tàn rớt xuống sớm mai thôi   (Ngắm)

Trăng trong tự nhiên vòng quanh trái đất, trăng khuyết lại tròn, Châu Đăng Khoa thấy trăng nở, khi nhặt hoa rơi bên cội, khi nhắm mắt một làn hơi:

“Tập tiếng guitar về ban sơ 

dòm con kiến bò bỗng hoảng sợ 

tre nứa cạ nhau từ muôn thuở 

giản dị âm còn xa lắc lơ 

từng cánh hoa mục đời dưới cội 

rã tan hòa bụi đất phù sinh 

đúng bình minh cười khẩy một tiếng 

mở mắt ra trăng nở một mình (Trăng nở một mình)

Cũng vầng trăng đó, màu trắng trong đêm uyên nguyên một nụ cười, để khi đôi môi không biết khóc cười thì chỉ đôi mắt rằm mới hiển hiện linh thiêng:

“Đôi mắt rằm sáng trăng

nụ cười nguyên thủy

mùa đông không vị kỷ

tự nó đã như là ...

thần linh phán từ vô âm

đôi môi không biết cười

tất nhiên không biết khóc

chỉ từ sâu trong mắt

khóc cười hiện linh thiêng” (Trắng và trăng)

Đọc thơ Châu Đăng Khoa, ngẫm ngợi và nhắm mắt lại cho một hình dung, người đọc dễ có sự đồng cảm với nhà thơ sau những thanh âm con chữ vang vọng. Chừng như bên vách núi, tiếng gió, tiếng đàn, câu thơ lững lờ theo bóng mây, lữ khách cũng quên một cố quận xa lắc xa lơ:

“Chiều thương tiếng đàn va chân núi
âm ba chìm sương lam quê xa
nhạc đi không về lại
lữ khách quên nhà
có gì đâu bối rối
một tiếng chuông chiều
gói đủ niềm riêng”…  
(Trong gió xuân phai)

Châu Đăng Khoa làm thơ cũng để được là mình, trọn vẹn với tình yêu guitar, với cuộc đời. Bên cây guitar, ông vẫn đầy những ý tưởng của người sáng tạo, của một triết gia và trái tim thơ vẫn dào dạt chảy những dòng ấm nóng. Với Châu Đăng Khoa, ông không có tuổi, thời gian lắm khi không làm ông bận tâm. Ngày và đêm chỉ có ý nghĩa với người đời còn mải miết bon chen, còn với ông, chỉ có một không gian sáng tạo, lúc đêm dài ông thầm nghe im lắng ngoài song để nhạc vang lên, để thơ thức giấc, sống cùng giọt sương mai thanh khiết…

TP HCM, tháng 6-2026

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm