TIN TỨC

“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-22 21:14:40
mail facebook google pos stwis
203 lượt xem

NHẬT CHIÊU

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.

 

Nhà văn Nhật Chiêu phát biểu về tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”

 

Tất cả các nhà văn rất đều băn khoăn đến cuộc sống hiện đại với tất cả các mặc định của nó. Khi mà tôi đọc “Quyển bàn tay nhỏ dưới mưa” điều mà tôi trân quý là nhà văn Trương Văn Dân có một quan tâm dường như rất là sâu sắc với cuộc sống đương đại của chúng ta với những vấn đề phức tạp và kỳ lạ của nó. Có lẽ chưa có một thời đại nào mà cuộc sống lại phức tạp và kỳ lạ như cuộc sống hiện đại hay là hậu hiện đại của chúng ta.

Vào thế kỷ 18, thế kỷ của ánh sáng, thế kỷ khoa học tiến lên như vũ bảo và mọi người tin chắc khoa học sẽ giải quyết mọi vấn đề, sẽ đưa con người đến bến bờ hạnh phúc. Thế kỷ 18 tin chắc nịch vào điều đó, thế kỷ ánh sáng, ánh sáng là khoa học và lý trí, thì niềm tin đó chẳng bao lâu bị đổ, …đổ một cách thê thảm mà nhân loại trải qua những khủng khoảng, có nhiều nguyên nhân nhưng phần lớn là do khoa học gây ra ví dụ như việc chế tạo bom nguyên tử đã đưa đến bao nhiêu thảm họa như chúng ta đã biết (2.35).

Tất nhiên các nhà khoa học không có ý dùng khoa học để mà gây sát thương hay gây khủng bố. Tất cả các nhà khoa học không ai nghĩ như vậy thế mà thảm họa đã có, từ đó lòng tin vào ánh sáng khoa học, ánh sáng của lý tính là đưa chúng ta đến bến bờ hạnh phúc tan vỡ hoàn toàn. Nhiều nhà văn trên thế giới đã lên tiếng phản ánh tình trạng mà chúng ta tự hủy diệt mình với khoa học, với cái sự gọi là tiến bộ. Từ đó rất nhiều tác phẩm nhằm phê phán thời hiện đại hoặc hậu hiện đại của chúng ta. Khi tôi đọc “Bàn tay nhỏ dưới mưa “ thì vấn đề được văn chương thế giới quan tâm sâu, phản ánh rất là nổi bật trong “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Có những trang tôi vừa đọc vừa rùng mình, lý do thế này, có những nhà khoa học tự hào chế được bom mà khi làm bốc cháy cơ thể thì không cách nào dập tắt được. Trương Văn Dân miêu tả rằng họ đã mở tiệc mừng vì họ đã tạo ra một hóa chất làm cho một cơ thể sống bị hỏa thiêu không thể dập tắt được lửa dù lăn xuống nước, lăn xuống đất. Những trang đó làm ta rợn tóc gáy, con người mất nhân cách và đạo lý đến mức độ nào… và điều đáng quý những trang viết ấy không nhắm vào một xứ nào, một phe phái nào, một thế lực nào.

 

Tiểu thuyết "Bàn tay nhỏ dưới mưa"

 

Không ai có thể dành cái đó về phía mình, cả Phương Đông cũng như Phương Tây không thể giành ý này nhằm bênh vực họ hay nhắm vào kẻ địch của họ, vì không có kẻ địch nào ở đây, không có những người hoàn toàn tốt, không có người hoàn toàn xấu, chỉ có khoa học đang gây những khủng khiếp như vậy.

Và những quan tâm về môi trường sinh thái, những quan tâm rất đặc biệt, và đặc biệt hơn nữa khi Việt Nam chưa nổi lên sự tìm hiểu vấn đề phê bình môi trường sinh thái. “Bàn tay nhỏ dưới mưa” được viết trước khi ý tưởng phê bình sinh thái được đề cập rộng rãi ở VN, viết trước khi mà các tác phẩm chuyên khảo về sinh thái ở VN bắt đầu xuất hiện. Như vậy là những vấn đề quan đâm về tự tại, về sinh thái, về khoa học và đạo lý có thể nói là có tầm sâu trong quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, và sau này khi mà tôi được đọc nhiều tác phẩm khác của nhà văn Trương Văn Dân, kể cả những dạng ở dạng còn ở bản thảo (như tiểu thuyết Trò Chuyện Với Thiên Thần), mà chưa biết khi nào mới phát hành, thì tôi cũng thấy nhà văn Trương Văn Dân tiếp tục đeo đuổi những suy tưởng đó, anh lại tiếp tục băng khoăn rằng con người đi về đâu, chúng ta đang đi về đâu, đó là câu hỏi thường xuyên trong tác phẩm của anh giữa thời đại mà khoa học, nhân danh tiến bộ... (6p45-6p47). Anh luôn luôn tìm cách đặt câu hỏi đó, đặt lại câu hỏi đó, tất nhiên anh không có một trả lời thỏa đáng nào cả, bởi không thể có cách giải quyết vấn đề đơn giản nào, mà không có nhà văn nào có quyền năng mà trả lời câu hỏi “Chúng ta đang đi về đâu”, mà nếu mà không khéo thì cả hành tinh này đi về, tận sâu vào hố đen. Nếu tình hình không cải thiện, thì không một tầng ozone hay tên lửa nào có thể bảo vệ được hành tinh này. Những băn khoăn chúng ta đang đi về đâu trên hành tinh đang đi về đâu cũng không biết, thì câu hỏi đau đáu, chúng ta sẽ gặp đi gặp lại hết những tác phẩm này đến tác phẩm khác của anh Trương Văn Dân, đó là điều tôi thấy đáng quý cho đến giờ phút này.

Người đầu tiên giới thiệu tác phẩm đầu tiên của anh Trương Văn Dân trong bản sách, tôi theo dõi bước đường của anh. Tôi hi vọng những tác phẩm sau này của anh gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ về một câu hỏi cơ bản (nhân bản). Thật ra chúng ta sinh từ đâu không quan trọng bằng chúng ta đi về đâu. Một người có ngày sinh, ngày sinh đó không quan trọng. Thực ra sinh từ đâu? Sinh ở xứ nào? Sinh ở địa phương nào? có gì quan trọng đâu bằng vấn đề là chúng ta đi về đâu?

Tôi cho rằng Trương Văn Dân là người tâm huyết với câu hỏi “Chúng ta đi về đâu ?”. Anh cố gắng tìm một vài cách, một vài cách thôi trả lời câu hỏi đó và điều đó khiến cho người ta tìm đọc tác phẩm của anh và người ta yêu anh.

N.C

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm