TIN TỨC

Lời gửi những bông tuyết – Tản văn của Huỳnh Như Phương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-12-01 11:03:06
mail facebook google pos stwis
1915 lượt xem

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

Những bông tuyết đầu mùa rơi nhẹ trên sân bay Sheremetievo-2 ngày đầu tiên tôi đến Moskva. Từ sân bay về trung tâm thành phố, tuyết vẫn bay lửng lơ trên bầu trời ban mai mù xám, bám vào cửa kính xe buýt và những mái nhà trầm lặng hai bên đường trước khi tan chảy.

Sau một ngày tạm trú ở trạm đón tiếp, chúng tôi được chuyển về ký túc xá của Viện Hàn lâm, thường được gọi là Đôm 5 (nhà số 5), ở góc ngã tư đường D. Ulianov và N. Vavilov. Kéo cánh cổng nặng nề để vào bên trong tòa nhà, tôi biết mình sẽ “tu” ở đây suốt bốn năm ròng. Đó là một tòa nhà bảy tầng, có cấu trúc chữ V nhìn ra hai mặt đường của ngã tư; thang máy, phòng ốc đều cũ kỹ nhưng ấm áp nhờ hai lớp cửa kính, lò sưởi và hệ thống nước nóng cung cấp thường xuyên. So với ký túc xá ở nhiều nơi khác, nơi đây thật tiện lợi: có hội trường, thư viện, phòng chơi bóng bàn, mỗi tầng đều có nhà bếp; nhà ăn ở tầng trệt mở cửa từ sáng đến tối với giá cả rất mềm; trạm xe buýt, xe điện và sạp báo ngay trước cổng; bên kia đường là hiệu sách Akademkniga; đi bộ một đoạn ngắn gặp cửa hàng thực phẩm và tạp hóa, đi thêm một trạm xe là bách hóa tổng hợp Moskva cung cấp khá đủ các mặt hàng thiết yếu dù lúc đó nước Nga bước vào thời kỳ đình trệ về kinh tế.


Thầy giáo và học trò năm 1990

Sau này, khi kinh tế mở cửa, người Việt ở Nga bung ra kinh doanh, Đôm 5 bị ít nhiều sự cố, còn thời tôi ở mọi sinh hoạt đều tương đối ổn định, ai làm việc nấy, không va chạm gì nhau. Ban quản lý và các bạn nghiên cứu sinh đến từ các nước cộng hòa đối xử với chúng tôi ân cần và tử tế. Thời gian đầu tôi ở cùng phòng với Nariman đến từ Baku, nhờ anh mà tôi cải thiện được vốn tiếng Nga của mình. Do quan hệ của hai cơ quan nghiên cứu, số người đi học ở đây chủ yếu từ các viện của Hà Nội, nhóm nghiên cứu sinh đi từ miền Nam sống chan hòa với với các đồng môn cùng thế hệ ở miền Bắc, hầu như chưa bao giờ xung đột về quan niệm hay lối sống và vẫn còn giữ liên lạc thân tình cho đến bây giờ. Xuất thân từ ngành Văn, những người đến nghiên cứu hay thực tập cùng thời ở Viện Hàn lâm sau này đều chuyên tâm và có nhiều đóng góp cho nghề nghiệp: Nguyễn Thị Huế, Trần Nho Thìn, Trần Ngọc Vương, Trịnh Khắc Mạnh, Vũ Thanh (văn học dân gian và cổ điển); Phan Trọng Thưởng, Vũ Tuấn Anh, Trần Đăng Suyền, Nguyễn Bích Thu, Tôn Thảo Miên (lý luận và văn học hiện đại); Lê Sơn và Lê Tây (văn học nước ngoài); Mai Văn Hai, Mai Quỳnh Nam, Vũ Phạm Nguyên Thanh (xã hội học)… Thành ra, đây như là một “viện nghiên cứu” thu nhỏ: trong thời chưa có internet và điện thoại di động, không dễ liên lạc thường xuyên với thầy giáo hướng dẫn, đang viết mà cần kiểm tra kiến thức gì, thì chỉ cần gõ cửa phòng chuyên gia, sẽ được giải đáp. Những đổi mới về đời sống xã hội ở nhà, nhất là sinh hoạt văn hóa văn học, đều được Đôm 5 cập nhập thông tin nhanh nhất. Do sự dễ dãi của nội quy ở đây so với những nơi khác mà Đôm 5 cũng là nơi gặp gỡ các bậc thầy, bậc đàn anh và văn nghệ sĩ từ trong nước sang tham quan hay công tác ở Moskva.

Tôi đã sống qua bốn mùa đông trên nước Nga. Những bông tuyết thơ mộng ngày đầu rồi sẽ thành những tảng băng dày trên lối đi làm trượt bước chân, những cơn gió tuyết quất vào mặt ở trạm chờ xe buýt. Mũ lông, áo bành tô, giày da được trang bị kỹ đến mức nào cũng không ngăn nổi cái rét thấm vào da thịt những người phương Nam chỉ quen nắng ấm. Cùng với đó là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương không lúc nào nguôi. Có lúc tôi đã tự trách mình, sao lại nông nổi chọn chuyến đi dài ngày này, vì một chút danh vọng hão huyền, để mẹ già và vợ con ở nhà thời đất nước khó khăn. Nhiều khi đi giữa đường phố Moskva mà lòng quặn thắt nhớ câu hát trong bài Thuyền viễn xứ (ý thơ Huyền Chi, nhạc Phạm Duy): Chiều nay gửi tới quê xưa/ Biết là bao thương nhớ cho vừa/ Trời cao chìm rơi xuống đời/ Biết là bao sầu trên xứ người.

Để nguôi mỗi nhớ quê, mỗi năm đến Tết âm lịch, khi Việt Nam đón giao thừa thì cùng lúc ấy, 8 giờ tối Moskva, đơn vị nghiên cứu sinh, thực tập sinh chúng tôi tổ chức một bữa liên hoan hoành tráng ở nhà ăn Đôm 5 mừng năm mới. Chúng tôi vào rừng tìm những cành cây khô, gắn giấy màu thành những nụ hoa đào. Khách mời là các thầy cô giáo và một số bạn bè ở Viện Hàn lâm và trong ký túc xá. Bánh chưng, dưa hành củ kiệu, chả giò, thịt kho, súp gà nấu măng khô, rượu sâm banh, những bài hát Nga – Việt và vài phong pháo lẻ gợi nhớ không khí quê nhà, giúp quên đi nỗi buồn xa xứ.


Thầy giáo N. K. Ghei nay 98 tuổi

Nước Nga cưu mang nhiều người Việt, nhưng thú thật một số người mình cũng làm phiền dân sở tại không ít. Thật may mắn, cho đến ngày rời xứ sở bạch dương, bản thân tôi chưa gặp phải một biểu hiện kỳ thị nào. Ngày đầu nhập học, bước qua khoảng sân đầy tuyết của Viện Văn học thế giới, thường gọi tắt là IMLI, có tượng ông M. Gorky vai phủ tuyết nghiêng đầu nhìn xuống nhân gian, tôi được dành một chỗ ngồi trong căn phòng nhỏ, nơi những tên tuổi trước chỉ nghe danh, nay mới gặp mặt – những nhà nghiên cứu uy tín trong nghề: N. Ghei, Yu. Borev, G. Belaya, V. Kozhinov, S. Botcharov… Trừ dịp về phép, suốt bốn năm, tôi không bỏ một buổi sinh hoạt khoa học thứ ba hàng tuần nào. Mỗi lần họp như thế là một cuộc thảo luận sôi nổi, có khi dẫn đến tranh luận, nhưng đều mở rộng tầm nhìn trong nghề nghiệp mà tôi theo đuổi. Có những hôm họp xong, thầy trưởng ban A. Mikhailov mời mọi người qua tầng hầm trụ sở Hội Nhà văn Liên Xô uống cà-phê tiếp tục câu chuyện văn chương.

Thầy giáo hướng dẫn tôi là Giáo sư Nikolai Konstantinovitch Ghei, từng tham gia chiến tranh vệ quốc, sau làm việc ở Viện, đồng thời dạy ở Trường Đại học quốc gia Moskva, đã qua Việt Nam và vào thăm TP. Hồ Chí Minh. Thầy bảo thầy có ấn tượng sâu sắc với văn hóa Việt Nam khi đi thăm các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh nước ta. Thầy thường nhắc tôi nên liên hệ những vấn đề lý thuyết hiện đại với văn học dân gian và cổ điển Việt Nam và chê tôi viết luận án theo văn phong phê bình hơn là văn phong nghiên cứu vốn đòi hỏi sự điềm tĩnh, chân phương. Mỗi lần được thầy thông qua một chương luận án, tôi lại tự thưởng cho mình một buổi chiều lang thang trên phố Arbat gần Viện, với một ly kvas kèm thịt nướng sau khi dạo xem các cửa hàng đổ cổ và sách cũ hai bên con đường lát đá như còn in dấu chân của các nhân vật trong tiểu thuyết Những đứa con phố Arbat của A. Rybakov.

Hàng năm, vào cuối tháng tư, tuyết bắt đầu tan, trên các ngả đường thành phố người ta trồng hoa mới trong các bồn hoa, dọc các vỉa hè. Trong rừng Nga cây đâm chồi và xanh lên từng ngày, vạn vật như sống lại trong màu áo mới. Anh Trần Nho Thìn và tôi cặm cụi trong phòng đọc của Viện Thông tin Khoa học xã hội, nơi mượn sách nhanh và có chỗ ngồi thuận tiện hơn Thư viện quốc gia. Bên ngoài, gần quảng trường J. Tito, là vườn hoa rực rỡ trong nắng xuân. Lo viết luận án không kịp, chúng tôi ngắm hoa qua cửa kính và chỉ rời trang sách trong giờ ăn trưa.

Sang hè, tôi kịp nộp luận án và làm thủ tục đúng hạn để chờ bảo vệ. Phòng quản lý nghiên cứu sinh thưởng cho tôi một phiếu đi nghỉ ở thành phố Sochi bên bờ Biển Đen. Nhưng tôi xin đổi món quà đó để lấy một giấy phép mời vợ và hai con sang thăm nước Nga. Đó là một chuyến đi nhiều kỷ niệm đẹp của gia đình tôi. Sau đó ít lâu, bảo vệ xong, tôi giã từ xứ sở bạch dương cũng vào một ngày tuyết đầu mùa rơi nhẹ nhàng nhưng sân bay thì hỗn loạn, báo hiệu những biến động sắp xảy đến trên đất nước Nga.

Ba mươi năm qua, tôi vẫn giữ liên lạc với những người thầy và bạn Nga ngày ấy. Anh Bùi Mạnh Nhị và tôi có dịp tiếp giáo sư N. Nikulin, nhà Việt Nam học hàng đầu, ở Thành phố Hồ Chí Minh trong chuyến đi Việt Nam cuối cùng trước khi ông từ trần. Thầy N. Ghei nay đã 98 tuổi, ngoài những chuyên khảo sâu sắc về nghệ thuật ngôn từ, thầy còn công bố một tác phẩm tự truyện mà thầy gọi là “tiểu thuyết – tưởng niệm”, viết về số phận con người qua những biến thiên lịch sử. Bà Inessa Zimonina, người làm luận án về Chinh phụ ngâm và đã nhiều lần sang thăm Việt Nam, dịch giả tài năng đã chuyển ngữ tác phẩm của Khái Hưng, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Đoàn Giỏi, Thu Bồn… sang tiếng Nga, sau vài năm cùng chồng qua sống ở Israel, đã trở về Moskva vì hai người đều nhớ nước Nga. Anh Anatoli Sokolov, người bạn chung thủy với văn học Việt Nam, chuyên gia về Phan Bội Châu, vẫn tiếp tục nghiên cứu về giao lưu văn hóa Nga – Việt và có những phát hiện thú vị về những người Nga đầu tiên đến Sài Gòn. Hầu như tháng nào anh cũng gửi email hay gọi điện thoại cho tôi. Trong một lá thư gần đây, anh viết: “Tôi vừa nghe tin ở Việt Nam xuất hiện lại một số ca nhiễm coronavirus trong cộng đồng nhưng đã kịp thời kiểm soát được và chưa phải áp dụng lại biện pháp giãn cách xã hội. Thật mừng cho đất nước anh. Ở Nga số ca nhiễm Covid-19 vẫn còn nhiều, nhưng rất may là trước khi mùa đông đến, vaccine đã được sản xuất kịp thời để ưu tiên chủng ngừa cho những người có nguy cơ cao như bác sĩ, y tá, người già. Tôi đã chuyển ra ngoại thành ở hẳn với mẹ tôi để chăm sóc cho bà, lúc nào cần mới vào thành phố để đến Viện Đông phương học. Tôi vẫn theo dõi thường xuyên sinh hoạt văn hóa ở Việt Nam và tìm đọc thông tin về sách mới xuất bản. Gần đây tôi có hứng thú đọc truyện trinh thám Việt Nam và dự định sẽ viết một khảo luận về đề tài này…”. Mỗi lần nhận thư A. Sokolov tôi lại thấy nước Nga như gần lại, dù đã 30 năm xa.

Ra Hà Nội, thỉnh thoảng tôi được bạn cũ Đôm 5 mời ăn ở quán Nga để nhớ lại hương vị xalát, xúc xích và súp bắp cải Nga thời đi học. Đến Nha Trang và ngay ở Sài Gòn vẫn có thể tìm thấy những nhà hàng ẩm thực Nga rất ngon. Chỉ có những bông tuyết là không thể nào tìm lại được.

Nhưng những bông tuyết đầu mùa năm ấy vẫn bay hoài trong trí nhớ.

Nguồn: https://vanvn.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm