TIN TỨC

“Biển gọi ta về” - Giai điệu tình yêu nồng nàn, tha thiết

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-07-07 15:38:46
mail facebook google pos stwis
3183 lượt xem

PHẠM VĂN HOANH

“Biển gọi ta về” (Nhà xuất bản Hội nhà văn -2023) là Tuyển tập thơ văn sáng tác về biển đảo Lý Sơn - Quảng Ngãi của nhiều tác giả trong và ngoài nước do nhà thơ Hồ Nghĩa Phương - nguyên Phó chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật Quảng Ngãi cùng một số bạn bè của anh tuyển chọn.

Tuyển tập “Biển gọi ta về” gồm có 147 bài của 67 tác giả với những câu thơ, câu văn giàu hình ảnh, ngân vang như những nốt nhạc của những giai điệu tình yêu nồng nàn, tha thiết đối với biển đảo Lý Sơn.

Tình yêu biển đảo Lý Sơn được các nhà thơ, nhà văn thể hiện mỗi người một vẻ. Tác giả Nguyễn Mậu Công yêu Lý Sơn tha thiết và xem như khúc ruột quê hương: “Lý Sơn khúc ruột tình quê/ Muôn đời biển hát khúc mê tình nồng” (Tình em Lý Sơn - Nguyễn Mậu Công). Với lời thơ chân thành Nguyễn Mậu Công đã khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu biển đảo quê hương. Tác giả Hồ Nghĩa Phương bằng giọng văn mộc mạc chân tình đã dẫn dắt người đọc đến với Lý Sơn qua bút kí “Lý Sơn trong mắt du khách”. “Tôi lên đỉnh Thới Lới từ sáng sớm vào mùa có sương mù, không thể ngắm Lý Sơn toàn cảnh, bù lại tôi được no mắt về khung cảnh sương phủ mờ không khác gì Đà Lạt,Sa Pa Cảnh đẹp ấy rất dễ khiến ta nao lòng trong không gian mông mênh bảng lảng đầy sương khói nhất là lúc đi qua cung đường quanh co dốc cao từ chân núi lên gần đỉnh Thới Lới, nơi ấy có Cột cờ Tổ quốc tung bay trước gió, Cột cờ mặt hướng ra quần đảo Hoàng Sa”. (Lý Sơn trong mắt du khách - Hồ Nghĩa Phương). Với thủ pháp so sánh đoạn văn đã miêu tả không gian Lý Sơn vào một buổi sáng sớm có sương mù không khác gì một bức tranh thủy mặc khiến người đọc như tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp thơ mộng của huyện đảo. Đọc bút kí “Lý Sơn trong mắt du khách” ta thấy cái tài của Hồ Nghĩa Phương trong cách lựa chọn từ ngữ cũng như các thủ pháp nghệ thuật để đẫn dắt người đọc đi tham quan toàn cảnh Lý Sơn. Tác giả Đỗ Minh Tâm thì ngợi ca vẻ đẹp tuyệt vời của Lý Sơn bằng những lời thơ mộc mạc: “Lý Sơn thạch cổng Tò Vò/ Hang Câu thơ mộng cánh cò lả lơi/ Đỉnh cao Thới Lới nắng ngời/ Hòn Mù Cu đẹp tuyệt vời thân thương” (Biển đảo Lý Sơn - Đỗ Minh Tâm). Với thể thơ lục bát, Đỗ Minh Tâm đã vẽ nên bức tranh đảo Lý Sơn đẹp, thơ mộng với những thắng cảnh như cổng Tò Vò, Hang Câu, núi Thới Lới… Cũng viết về vẻ đẹp của núi Thới Lới, nhưng tác giả Trần Cao Chương lại có cái nhìn khác: “Núi Thới Lới vươn mình làm lá chắn/ Nghiêng đôi vai trĩu nặng một vùng trời” (Tự tình với Lý Sơn - Trần Cao Chương). Núi Thới Lới là một trong năm ngọn núi lửa đã tắt từ lâu, hình thành nên Cù lao Ré (đảo Lí Sơn). Núi nằm về phía Đông hòn đảo, là một thắng cảnh độc đáo với hồ nước trên đỉnh, hang đá dưới chân. Nét độc đó đã tạo cảm hứng để các văn nghệ sĩ sáng tác. Trong bài “Tỏ tình với Lý Sơn” Huỳnh Tịnh viết: “Lãnh hải biển đảo chân trời/ Sóng xô gành đá bời bời tình tôi/ Lung linh tươi đẹp rạng ngời/ Tình yêu dâng hiến trọn đời Lý Sơn.” (Tỏ tình với Lý Sơn - Huỳnh Tịnh). Những câu thơ được viết từ cảm xúc chân thành đã đem đến và đọng lại trong lòng độc giả tình yêu với biển, đảo thân thương, để người đọc mong ước được một lần về thăm Lý Sơn. Tác giả Huỳnh Nhân từ đất liền đã mơ ước một lần về thăm Lý Sơn, hòn đảo được mệnh danh là “Vương quốc tỏi”. “Anh chưa một lần về thăm Lý Sơn/ Để nghe hương tỏi thoảng bay triền cát/ Thăm mẹ già ngồi đợi con tóc bạc/ Khi chiều dần buông…” (Về Lý Sơn - Huỳnh Nhân).  Dưới ngòi bút giàu xúc cảm của một người con nơi đất liền, hình ảnh biển đảo và người mẹ nơi biển đảo Lý Sơn hiện lên sống động, gần gũi, thân thương. Nhắc đến “mẹ già ngồi đợi con bạc tóc” tôi lại nghĩ đến những người mẹ, người vợ ngày xưa có con, có chồng tham gia vào Hải đội Hoàng Sa theo lệnh Triều đình ra đảo Hoàng Sa, Trường Sa canh giữ chủ quyền đất nước. Hành trình ra biển lớn của họ đầy thử thách cam go và tốn rất nhiều mồ hôi. xương máu… Ca dao xưa có câu: “Hoàng Sa trời nước mênh mông/ Người đi thì có mà không thấy về”. Thấm thía chất bi tráng ấy nên rất nhiều người khi đọc “Những chàng trai Lý Sơn ngày ấy” của Hà Quảng đã không cầm nổi nước mắt: “những chàng trai mười tám đôi mươi/ sung vào đội lính Hoàng Sa/ người ra đi biết có thể không về/ người ở lại cũng ngậm ngùi chờ đợi/ trên chiếc thuyền bồng bềnh lướt sóng” (Những chàng trai Lý Sơn ngày ấy - Hà Quảng). Cũng viết về Hải đội Hoàng Sa, Trần Hữu Sơn lại viết về sự tri ân của nhân dân đối với các anh: “Khao lề tế lễ lính Hoàng Sa/ Đã mấy trăm năm giữ đảo nhà/ Vì nước quên thân tròn trách nhiệm/ Cù Lao, Mộ Gió khói sương pha” (Niệm khúc Mộ Gió - Trần Hữu Sơn).

Trong tuyển tập thơ văn này, còn có những bàì thơ, truyện ngắn viết về tình yêu biển đảo gắn liền với tình yêu lứa đôi. Các tác giả: Phạm Văn Hoanh (Chớm yêu - truyện ngắn), Trần Dzạ Lữ (Có một tình yêu - thơ), Lucinda Nguyễn (Kỉ niệm thời con gái - truyện ngắn), Như Hoài (Sóng - thơ), Lê Đỗ (Làm sao tìm lại - thơ)… Đọc các tác phẩm này chắc chắn ta sẽ không quên những mối tình thời học sinh trong trắng ngây thơ. Đa số những tác phẩm viết về tình yêu lứa đôi đều mượn hình ảnh biển, sóng, bến bờ và thuyền để thể hiện cảm xúc. “Đừng hỏi tại vì đâu/ Con sóng lòng lao xao/ Đừng hỏi xin đừng hỏi/ Cớ gì ta yêu nhau/ Sóng cũng hằng khát khao/ Vỗ về con nước lỡ/ Bến bờ yêu rộng mở/ Thuyền tình thì mênh mông” (Sóng - Như Hoài), “Em và anh/ Hai đầu nỗi nhớ/ bâng khuâng chiều/ thao thiết nỗi niềm riêng/ một chiều trên phố biển bình yên” (Em về với biển - Phan Lan Hương), “Con sóng nào rạn vỡ giữa màn đêm/ Cuốn niềm riêng tan theo dòng bọt biển/ Bụi thời gian ghi sâu ngàn lưu luyến/ Chuyện thuở ban đầu đâu dễ quên sao!” (Ngày ấy - Huỳnh Tân Lâm). Đúng vậy “Chuyện thuở ban đầu đâu dễ quên sao!”. Nói như Thế Lữ “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy/ Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên”. Nhân vật San và Luyến trong tuyện ngắn “Cánh hạc lưng trời” của Nguyễn Đông Thạch đã mấy chục năm rồi mà giờ gặp lại vẫn như mới hôm nào. “Xin cảm ơn cuộc đời rộng lượng, xin cảm ơn mặt đất hiền hòa đã giữ lại em làm chỗ trú ngụ an lành cho những năm tháng cuối đời của anh, dẫu rằng trong kiếp này anh và em không được sống bên nhau”. (Cánh hạc lưng trời - Nguyễn Đông Thạch).

Ngoài ra còn có một số tác phẩm viết về tình cảm gia đình, kỉ niệm tuổi học trò bên mái trường Lí Sơn...

Tuyển tập thơ văn “Biển gọi ta về” với cách thể hiện giản dị, ngôn từ, hình ảnh mộc mạc nhưng giàu cảm xúc đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc.

N.V.H

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm