TIN TỨC

“Bình yên từ phía quê nhà” của Nguyễn Văn Hòa

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-01-11 23:11:29
mail facebook google pos stwis
1665 lượt xem

Cầm cuốn tản văn nho nhỏ trên tay: “Bình yên từ phía quê nhà”, giữa chốn nhộn nhịp của đất Sài Gòn, mà trong lòng tôi cảm thấy có một điều gì đó rất đỗi là chân quê, rất đỗi là an yên trong tâm hồn của một con người, khi bản thân chúng ta luôn quay cuồng với những tất bất hơn thua, cố gắng, lăn lộn ngoài đời sống, để đi tìm những giá trị vật chất hay tinh thần nhằm thỏa mãn những ham muốn khát vọng ở đời thường, thì khi đọc bình yên từ phía quê nhà, chúng ta dường như, hoặc đã có trong tay liều thuốc cho sự tự chữa lành, cho việc quân bình, cân bằng lại trong cuộc sống.

Tập tản văn“Bình yên từ  phía quê nhà” của Nguyễn Văn Hòa- NXB Hội Nhà Văn

Nguyễn Văn Hòa là một thầy giáo dạy văn, và cũng là một là một người viết lý luận phê bình văn học, bén duyên với việc viết văn, tôi nghĩ rằng, chắc có lẽ do Nguyễn Văn Hòa đã gặp được nhịp cảm xúc khi bắt gặp ở đâu đó những ý tưởng, những điều ghi dấu từ rất lâu về những những thể lệ của những cuộc thi viết về tết,  về những hương vị, truyền thống xưa. Tôi nhớ có lần tôi đọc trên báo, tản văn “Bên hiên nhà thơm mùi giấy hẩm” thì tôi biết rằng tác giả bài viết phải là người có một tâm hồn,  mà chiều sâu rất đỗi hồn quê, Nguyễn Văn Hòa chắt lọc từ ký ức của tuổi thơ, của quê nhà, của tình mẹ cha, mà khi đọc những trang văn trong tập sách, chúng ta càng thêm trân quý những giá trị của truyền thống của tình yêu thương gia đình của những phong tục tập quán  của người Việt.

Nguyễn Văn Hòa Hòa viết: “Với tôi ngôi nhà chính là nơi gắn kết tất cả các yêu thương, dù trong cuộc sống áo cơm đầy những buồn vui được mất, nhưng lúc trở về bước qua bậc cửa thân quen lại thấy lòng mình bình yên đến lạ. Và với không gian này tôi lại càng trân quý, và yêu thích hơn cuộc sống hiện tại. Tôi luôn gieo mầm cảm xúc chân thành vào lũ trẻ để chúng biết sống chậm lại biết trân trọng những thứ bình dị quê nhà. Và cứ như thế mỗi sớm mai thức dậy, uống một chén nước đầy hơi khói ấm, nghe mùi khói, mùi gỗ, mùi vị của bình yên trong nếp nhà thân thuộc, lòng lại thấy bao dung với đời với người hơn.”. Phải chăng là khi đọc những tản văn nhỏ xinh trong cuốn sách “Bình yên từ phía quê nhà” chúng ta lại càng nuôi dưỡng hơn, tâm hồn của mình, nuôi dưỡng những giá trị, tưởng chừng như rất là đơn sơ, mộc mạc, nhưng lại là những giá trị mang tính chất trân quý vô cùng. Những giá trị của tình yêu thương, ông bà, cha mẹ, quê hương, làng xóm, ngôi nhà. Và đây chính là, cái giá trị cốt lõi nhất, để hình thành nên tính cách của những con người, sống có ích cho chính bản thân, biết yêu thương, giữ gìn giá trị truyền thống của gia đình, quê hương và xã hội

Đọc tản văn của Nguyễn Văn Hòa, chúng ta cảm thấy rằng những nét đẹp bình dị của nhà quê, của những kỷ niệm xưa cũ, đã mang lại cho con người những chiều sâu của tâm hồn, của ký ức, để từ đó người ta sống nhân văn hơn giá trị hơn.  Nguyễn Văn Hoà miêu tả về nét đẹp của người cha trong lao động, chăm sóc mái nhà: “Trong ảnh, cha đang ngồi trên mái của ngôi nhà cũ đang làm ở công đoạn cuối cùng là canh lại những tấm lá tranh ở giữa hai mái lá cho thật kỹ, để khi trời mưa nước suối nhỏ giọt theo mái lá không thấm xuống chỗ những cây cột, cây kèo.”. Đọc những lời văn này, khóe mắt tôi rưng rưng xúc động,  chúng ta cảm thấy cái tình của người cha, cái sự quan tâm lo lắng cho một gia đình, cái trách nhiệm trụ cột của gia đình, nó quan trọng đến mức độ nào, và mang tính chất yêu thương của người cha dành cho con cái, bảo vệ gia đình của mình trước thiên tai bão lũ, cũng là hình ảnh đề cao rường cột của một gia đình, như muốn nhắc nhở những người đàn ông thời buổi hiện nay, cũng còn đâu đó những trường hợp mãi mê hưởng thụ cá nhân mà bỏ bê gia đình, cho nên khi đọc những câu văn trong tản văn “Mái tranh xưa và khoảng trời thơ ấu”, tôi không giấu đi được sự giao thoa cảm xúc giữa người đọc và người viết là như vậy. Mà sự thật, những gì được viết ra từ trái tim con người thì sẽ lay động những trái tim con người.

Những tản văn nhỏ xinh là những cảm nhận của tác giả ghi dấu lại, nhưng chúng ta hiểu rằng sâu xa trong đó là những thông điệp mang tính chất gìn giữ cốt cách của hồn quê, của truyền thống gia đình người Việt. Gìn giữ tình cảm gia đình, gìn giữ tình cảm làng xóm, quê hương chính là giúp con người ta càng yêu thêm đất nước, sống có giá trị và trách nhiệm hơn.  Những tản văn tôi vẫn thích nhất là tản văn với những tựa đề mênh mang ngôn ngữ của thơ ca, “Bên hiên nhà thơm mùi giấy hẩm” hay tản văn “Vạn thọ ngày tết- hoa của đoàn viên”. Trong- Bên hiên nhà thơm mùi giấy hẩm là những kí ức những kỷ niệm về truyền thống đọc sách của gia đình, giọng kể rất là dung dị, những kỷ niệm với sách, mà chúng ta thấy rằng trong gia đình mọi người đều yêu quý mến sách, và từ đó biết giữ gìn qua một hình thức rất là đặc biệt, đó là “hong sách” . chúng ta hãy cùng đọc lại một đoạn văn của bên hiên nhà thơm mùi giấy hẩm “Nội mất, ba tiếp bước nội làm cái việc thiêng liêng này. Ngày mấy chị em tôi đi học xa làm xa, cuối năm trở về nhà dù có bận việc gì đi chăng nữa cũng phải đem sách ra hong lại. Vì sách nhiều nên việc hong sách và sắp xếp lại tủ sách cũng phải mất khá nhiều thời gian. Việc làm này đã trở thành truyền thống của gia đình bởi đó là cách để bảo quản những cuốn sách sau một thời gian dài bị bụi ẩm mốc. HhHHong sách thể hiện sự trân trọng với các bậc tiền nhân, hong sách là cách để giáo dục con cháu phải biết quý trọng, biết tích lũy kiến thức biết gìn giữ và phát huy nét đẹp của cha ông- văn hóa đọc. Bởi ngày nay với công nghệ hiện đại chỉ cần một cái nhấp chuột là có thể có nhiều thứ nhưng vẫn không thể nào thay thế cho việc đọc sách. Tôi cứ đọng lại trong đầu và ấn tượng mãi hành động hong sách của gia đình trong câu chuyện của Nguyễn Văn Hòa kể, để nhận thấy rằng việc đọc sách và trân trọng sách là một truyền thống, một cốt cách cao quý, một giá trị cần được gìn giữ, của các thế hệ trong một gia đình.

Cầm cuốn sách “Bình yên từ phía quê nhà” trên một chặng đường xe buýt dài, tôi nhâm nhi từng tản văn trong cuốn sách, cảm nhận được rằng không còn gì bình yên hơn thế nữa với những cách nhìn nhận mà Nguyễn Văn hòa đã chắt lọc và ghi lại qua từng tản văn như: Về nhà hong nắng vàng ươm sân vườn, hay Nhớ nồi cháo nhái nơi chái bếp xưa Nguyễn Văn hòa đã mang đến cho chúng ta một tập tản văn cầm nó lên cảm thấy mỏng nhẹ, nhưng sâu sắc trong từng câu chữ nghĩa, từng thông điệp mà tác giả mang lại,  những thông điệp đó mang tính vừa đủ dày dặn, vừa đủ tròn đầy mang tính chất góp phần gìn giữ truyền thống tốt đẹp người dân Việt Nam. Yêu gia đình, yêu quê hương làng xóm và giữ gìn bản sắc, truyền thống văn hóa  của dân tộc là trách nhiệm không riêng gì của tác giả, mà là của tất cả chúng ta.  

 

Hồ Xuân Đà

                                                    

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm