TIN TỨC

Bùi Đức Ánh và những trang thơ với nhiều cung bậc cảm xúc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-05-22 11:32:04
mail facebook google pos stwis
2976 lượt xem

 

Hồ Xuân Đà

Thơ, dường như là món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi con người. Thơ như tiếng lòng, là tâm tư là cảm xúc của những tâm hồn đẹp – rất đẹp, rất người. Thơ giúp người ta nói lên được những suy nghĩ riêng tư, những mơ ước, những khát khao về cuộc sống, tình yêu, gia đình. Thơ cũng là vườn hoa muôn sắc màu cảm xúc, về những buồn vui đan xen. Thơ cũng như một khu rừng trải qua nhiều cung bậc cảm xúc vô vàn. Tình cảm con người vốn là loại tình cảm phức tạp nhất, rối ren nhất, giống như hệ thần kinh với rất nhiều dữ liệu mà con người hàng ngày phải sắp xếp, phải tu dưỡng, phải kiểm soát để chắt lọc lại cho mình những giá trị tinh tế nhất, để hướng tới bản ngã tốt đẹp. Nhìn vào những hình ảnh ngôn ngữ trong thơ, để soi chiếu lại chính mình, nhìn lại mình, nhìn lại những năm tháng đã đi qua để cuộc sống này mỗi lúc một tốt đẹp hơn. Nhà thơ Bùi Đức Ánh, vốn là một con người như thế, ông làm thơ, ông sống như những trang thơ ông viết.


Nhà thơ Bùi Đức Ánh.

Tuổi trẻ làm thơ vốn rất yêu đời yêu người, thì tuổi già càng yêu người, yêu đời, yêu cuộc sống quanh ta. Bùi Đức Ánh thiên về thơ tình rất nhiều, ông viết nhiều thơ tình, vì có lẽ trên đời này không có gì xoa dịu cuộc sống bon chen bộn bề của mỗi con người xã hội. Chính vì vậy mà dù ở độ tuổi nào, ông cũng làm thơ tình để tặng độc giả của mình. Victor Hugo là một nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch thuộc chủ nghĩa lãng mạn nổi tiếng của Pháp. Ông cũng đồng thời là một nhà chính trị, một trí thức dấn thân tiêu biểu của thế kỷ XIX. Victor Hugo chiếm một vị trí trang trọng trong lịch sử văn học Pháp. Ông viết: “Ai khổ vì yêu hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu” (Victor Hugo). Chính vì vậy , mà nhà thơ Bùi Đức Ánh cả một đời người, tới gần tuổi nghỉ ngơi, mà trong tâm hồn ông mãi mãi không ngừng yêu, không ngừng viết lại những cảm xúc thơ tình cho các bạn trẻ, cho những độc giả chiêm ngưỡng vẽ đẹp của tình yêu, vì không gì hơn trong cuộc sống này ngoài tình yêu, tình yêu nuôi dưỡng những linh hồn, xoa dịu những nỗi đau và làm lành lặn những vết thương, tình yêu vì thế mà đẹp mà cao cả, bởi người nữ có thể vì người nam mà trở nên đời hơn, lộng lẫy hơn, người nam vì người nữ mà trở nên mạnh mẽ hơn, khát khao xây dựng cuộc đời hơn, dẫu bao nhiêu ngôn ngữ cũng không thể nào nêu lên hết được tất cả cảm nhận của tình yêu, chỉ có Bùi Đức Ánh, một tâm hồn thơ ca, dù ở độ tuổi nào ông cũng vẫn luôn trẻ lại với giá trị vĩnh viễn  gọi là thơ ca. Thơ ông như chính cảm xúc được bật ra từ tiếng lòng của ông, không cần phải gọt dũa, trang điểm, mà tự nhiên cảm xúc được thành thơ, vì vốn cảm xúc con người đã rất đẹp rồi, bởi nó rất đẹp, nên mới khiến con người ta rung động vì nhau, sống chết vì nhau, và nguyện trọn đời trọn kiếp bên nhau. Trong thơ Bùi Đức Ánh, chúng ta cảm nhận được những điều ấy.

“Xin làm đôi mắt biếc

Để còn biết đắm say

Những đam mê ngày nắng

Những ngày còn chưa biết

Tình yêu có màu gì

Màu nhung hoa hồng đỏ

Hay màu của pha lê

Trong từng giờ suy nghĩ

Xin làm một kẻ dại

Để thẫn thờ yêu đương”

(Trích Tình Yêu Có Màu Gì)

Xuyên suốt tập thơ, chúng ta bắt gặp có quá nhiều cảm xúc yêu thương, đau, khổ và trân trọng. Những cảm xúc tình yêu trong từng hơi thở, trong từng sợi dây thần kinh, được thẩm thấu, diễn tả bằng ngôn ngữ hình ảnh thơ ca, có tính nhịp điệu giàu cảm xúc, vô vàn sự khát khao để vươn tới hạnh phúc, mưu cầu cuộc sống trọn vẹn đó. Là con người thì ai mà không mong muốn được yêu đương, được hạnh phúc, được đắm say trong dư vị vô hạn của tình yêu. Nhà thơ Bùi Đức Ánh, vốn là một nhà thơ, lại được biết đến với thể loại thơ tình, Tập thơ này, là tập thứ bảy, ngoài ra ông còn sáng tác 5 tập truyện ngắn, ngoài ra ông còn sáng tác tạp văn và tiểu thuyết.Thì phải công nhận rằng, nhà thơ Bùi Đức Ánh đã lao động rất chăm chỉ, miệt mài. Những trang thơ với vô vàn cảm xúc đan xen, những nguồn mạch sống như tràn bờ, như muốn ôm lấy trọn vẹn sự sống này để giữ bên mình, phải chăng là sự tham lam, phải chăng là nhà thơ thiết tha quá độ, nhưng không, sự tham lam đó chính là vốn sống để nhà thơ trở nên một nhà thơ không hề bất tài, không hề bất lực trước cuộc sống này, tâm hồn nhà thơ phải luôn trẻ mãi, đẹp mãi, như nhà thơ Xuân Diệu viết: “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ, em ơi, em/ tình non sắp già rồi”. Đã là thơ thì sự tham sống, khát khao được sống hạnh phúc, được cống hiến cho xã hội là một lẽ tất nhiên bởi nếu như không có sự tham ấy thì nhà thơ sẽ chết, nhà thơ sẽ không còn tồn tại để viết lên những bài thơ tình, mà khi chúng ta đọc, chúng ta cũng muốn yêu, cũng muốn khát khao sống vui vẻ, sống giá trị và đáng một cuộc đời đáng sống. Chỉ duy nhất tình yêu có thể làm được duy nhất điều đó mà thôi. Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ với rất nhiều bài hát nói về tình yêu, mang tầm triết lý, mà hiện nay, rất nhiều người yêu và đang yêu đồng cảm, nương nhờ vào nhạc vào tình ca của ông trong những phút giây lạc lõng, ông viết: “Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân phận thì hữu hạn. Tình yêu thì vô cùng. Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá Đời”. Đó là những gì mà giá trị từ thơ ca mang lại cho tinh thần tình cảm con người. Thơ Bùi Đức Ánh cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Em là em, người tình tôi yêu dấu

Tôi thở cho em và em thở cho tôi

Tôi là người, em cũng là người

Tự kết mình lại, gọi nhau tiếng tình nhân

Tôi mơ em bằng tất cả linh hồn

Tôi mơ em bằng những điều rất thật

Tôi hiểu em hơn cả hiểu chính tôi

Tình nhân ơi, căn phòng nhỏ của tôi

Tôi muốn nhốt mình cả khi tôi đã chết

Với ngực em ấm tràn đầy bao nhựa sống

Với môi em cười chất ngất khoảng trời tôi

Tình nhân ơi, có điều riêng mình hiểu

Tôi nhốt mình trong em, nuôi những tháng năm dài.

(Trích Khi Mình Là Tình Nhân)

Khi nhà thơ không còn sống cho mình nữa, tức là người viết thơ người làm thơ viết vì con người, nhân danh tình yêu, cảm được cái giá trị tình yêu mà họ viết, mà họ ưu tư để chúng ta có những bài thơ thật đẹp, để trân trọng cái cảm giác mà tình yêu mang lại, để người ta còn có cái tựa vào, an ủi từng phận đời, từng phận người, dù thế giới này có mệt mỏi, có khổ đau như thế nào, cũng phải vươn lên mà sống, vươn lên mà nở hoa, mà thong dong tự tại, mà hạnh phúc. Vì chắc chắn, không có gì tự nhiên mà trở nên lộng lấy, ngay cả cái cây ngọn cỏ, dù cho nó vốn sinh ra đã đẹp nhưng không vun trồng chăm sóc, thì nó cũng trở nên hoang tàn, phế phủ, dù thế nào thì muốn đạt đến một vẻ đẹp đích thực là món quà của thượng đế mang lại cho chúng ta, thì chúng ta cần phải trân quý nó, gìn giữ từng cảm xúc của nó, để nó đẹp, để nó nuôi dưỡng chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta sống một đời đáng sống, sống một cuộc đời dẫu mai này có trở về cát bụi thì cũng đã rất đẹp, mà điều gì đã làm được điều đó, chỉ có tình yêu làm được những điều đó, làm nên cái chất trong thơ nhà thơ Bùi Đức Ánh.

Ngọn gió từ em

Thổi vào anh những nỗi niềm khao khát

Bao năm tình đi lạc

Xin gió hãy thì thầm anh nhớ mãi về em

Ngày lại ngày cứ rơi

Anh không thể xem người yêu như em gái

Mùa sắp tàn sao tình còn vương mãi

(Trích Ngọn Gió Từ Em)

Lực hấp dẫn không chịu trách nhiệm cho việc con người ta yêu nhau. – Albert Einstein – Nhà Vật Lý học  định nghĩa cho tình yêu là như vậy, cho nên tình yêu không ai nói trước được điều gì, cảm xúc đó, rung động nhẹ nhàng hay mãnh liệt, hay êm đềm tha thiết, đều là những rung động vô cùng hấp dẫn con người, làm con người tràn ngập năng lượng. Chính vì vậy, làm gì có chuyện, ai dám chắc rằng mình sẽ không bao giờ biết yêu, tình yêu kỳ diệu, trách nhiệm vì nhau, và con người ta yêu nhau nó sẽ làm nên một thế giới đa dạng, phong phú biết chừng nào, nên lực hấp dẫn của nó cũng không thể cưỡng cầu, chối từ được. Bởi vì, tình yêu vốn là đề tài mà khó ai giải thích được kết quả mà nó mang lại, nó xuất phát từ đâu, nó làm bằng chất gì mà có thể giúp người ta làm lành vết thương, cũng như chữa lành tâm hồn, làm nên những giá trị.

Nếu như không thể tin

Bầu trời sẽ không hề có nắng

Và những giọt sương mai

Không lóng lánh như sáng nay

Em ngước lên nhìn bầu trời trong xanh vẫy gọi

Em ngắm nhìn anh trong giấc ngủ sáng nay

Anh hiền như một ông lão

Vung từng lưỡi câu đợi cá đớp mồi

Em ngồi trước hiên

Vuốt từng sợi lông của con mèo lười

Em đổi tấm chăn, từng chiếc khăn trải bàn

Em cắm hoa, em ngồi đợi anh về…

(Trích Tình Yêu Và Niềm Tin)

Nhà thơ Bùi Đức Ánh làm nhiều thể loại thơ, từ tự do, đến lục bát, ngũ ngôn,.. Những vần thơ giàu nhạc điệu, nên thơ ông được các nhạc sĩ phổ nhạc rất nhiều, ông còn làm thơ cho quê hương, cho những nơi mà ông đến ghé thăm, như Vũng Tàu, Tây Ninh,… cũng quá đỗi tha thiết tình cảm con người với quê hương, với làng xóm phố phường.

Anh đến Tây Ninh một buổi chiều

Thăm núi Bà Đen ngày hai ta hẹn ước

Em đâu rồi tiên nữ miền sơn cước

Lá sắp ngủ rồi chẳng thấy em đâu

Em hay cơn gió vô tình

Nhắm vào lồng ngực anh mà thổi

Bên kia tòa thánh vẫn xanh màu mây mới

Sao tình mình buồn như lá vàng rơi

Từ ngàn xưa cho đến bây giờ

Núi Bà Đen vẫn phơi mình đón nắng

Thương em gái Trảng Bàng tươi tắn

Nụ cười duyên ngúng nguẩy đến say lòng

(Trích Nhớ Tây Ninh)

Viết cho một địa danh, mà nhà thơ cũng lãng mạng, cũng đa tình với những cảnh đẹp, với sự dịu dàng của người con gái Tây Ninh, thì chỉ có tính chất đặc trưng của người thi sĩ mới làm được điều đó mà thôi. Mà đúng rồi, Bùi Đức Ánh, ông vốn là một nhà thơ tình, thì thơ ông viết ra đúng là quá tình tứ cơ mà. Tình tứ với cảnh vật, với quê hương, thì quả thật quá tài năng rồi, quá thi sĩ rồi. Chính từ bản chất là một nhà thơ xứ Quảng, ông sinh ra ở quê hương Quảng Ngãi, trước đây vốn là nhà giáo cho nên thơ ông hồn hậu, dễ gần, dễ nhớ, dễ thuộc với ngôn phong giản dị, mộc mạc, nhưng cũng không kém phần mộng mơ, mang đầy tính triết lý nhân sinh hiện hữu rất đời, rất thực.

Tôi muốn đọc câu thơ viết về hoa cỏ

Về tình yêu đôi lứa với cảm xúc rất say

Tôi muốn yêu con người

Tối muốn yêu hòa bình

Tôi không cần đúng sai

Tôi chỉ cần em nói yêu tôi

Bằng tất cả tấm lòng

Của đôi lứa yêu nhau

(Trích Tôi Yêu Em-Yêu Hòa Bình)

Sống trong những ngày giãn cách xã hội, do ảnh hưởng Của dịch bệnh Covid-19. Nhà thơ Bùi Đức Ánh, càng đắm chìm hơn trước những nỗi đau của nhân loại, với con virus với vô vàn biến chủng, và rồi nhà thơ phải đối diện với nó, ông sẽ làm gì, chỉ có cách là làm thơ, làm thơ để nói hộ tiếng lòng của bao con người, bởi sứ mệnh của nhà thơ đến với cuộc đời này là như thế, là cảm nhận, là viết ra suy nghĩ trong một trạng thái quân bình, không thể đứng về phía một ai hoàn toàn, mà chỉ có thể nói, có có thể viết, có thể diễn đạt bằng trái tim mình.

Anh thấy phố buồn mà lòng đau như cắt

Những tháng ngày lịch sử em có biết không em?

Muốn đến bên em, trăm ngàn lần có thể

Có gì dày vò hơn hoàn cảnh này đây?

(Trích Ẩn Mình sau Lớp Khẩu Trang)

Quả vậy chỉ có con đường từ trái tim mới đi đến trái tim, nên thơ Bùi Đức Ánh gần gũi như là cảm xúc của từng con người trong những ngày xã hội đau bệnh, thành phố đông dân nhất nước phải buồn tênh, nhà nhà cửa đóng then cài, giấu mình sau lớp khẩu trang. Rồi nhà thơ tự cho mình phải gánh trách nhiệm, phải viết về điều đó, còn gì hơn khi trước sự sợ hãi, nhưng vẫn biết nghĩ về trách nhiệm với đồng loại, đó chính là nét đẹp trường tồn khi mang danh trên mình hai chữ “Nhà Thơ”.

Không tự nhiên mà anh lại làm thơ

Viết về những đau thương

Viết về những chuyện buồn thế kỷ

Ngày đêm anh suy nghĩ

Làm thế nào để ủi an cùng nhau

Để thấu cảm những mảnh đời bất hạnh

Những tâm hồn vá víu dưới cầu thang

Những ưu tư đong đầy nơi khóe mắt

Cũng như là chuyện cơm áo hằng ngày

Những sinh linh chưa kịp nói lời chào

Những ranh giới buộc người ta chọn lựa

Nó khắc nghiệt đến từng hơi thở vội

Làm sao đây, khi anh chỉ là một nhà thơ…

(Trích Nhà Thơ Không Thất Nghiệp)

Bùi Đức Ánh làm thơ thật tự nhiên, tự nhiên và hồn hậu như chính con người ông, lạc quan như chính tính cách của ông, lấy niềm tự hào khi chính mình nhà thơ, dù kiếm sống bằng thơ có mấy ai được như ý, nhà thơ luôn nghèo, nhưng lại luôn tự hào về nghề nghiệp của mình. Cho nên thơ ông cũng tự nhiên, mọi cảm xúc đều rất người, những rung động đều rất đẹp, bởi con người luôn đẹp là nhờ vào cảm xúc mà, là nhờ vào những rung động mà hình thành nên tình cảm, và những giá trị đạo đức và tư tưởng sống của một con người đi trước để lại cho con người đi sau, là gia tài mà thế hệ trước để lại cho thế hệ sau.

Xuyên suốt chiều dài của tập thơ: “Tình Yêu có màu gì” của nhà thơ Bùi Đức Ánh, chúng ta như được trải nghiệm qua rất nhiều cảm xúc của con người, từ tình yêu, đến tình cảm vợ chồng, với quê hương, với đất nước và con người, ông rung động từng với cái cây, ngọn cỏ, với những câu chuyện đời thường dung dị, hóa thân vào nhiều nhân vật, có khi ngôi thứ là nam, cũng có khi ngôi thứ là nữ, là nhân vật chính trong bài thơ, có khi hóa thân vào người vợ nói với chồng, rồi chồng nói với vợ. Cho nên, tập thơ như là món quà, là bữa tiệc tinh thần vô vàn dư vị, màu sắc cho những ai muốn cảm nhận về tình yêu, về cảm xúc cho con người.

Tình yêu có màu gì, mỗi người sẽ cảm nhận theo một màu khác nhau, nhưng với riêng tôi, tập thơ thật dịu nhẹ, cũng thật nhiều hoài niệm, và thật nhiều khao khát mong muốn được an nhiên hạnh phúc. Đó phải chăng là ước muốn của biết bao con người trong xã hội này, với quá nhiều hỉ, nộ ái, ố, vây quanh. Thì tập thơ sẽ như những bản hòa ca giúp nó trở nên sáng hơn, trong hơn, con người biết đặt vị trí vào nhau hơn, thấu cảm nhau hơn, để cuộc sống này được trọn vẹn hơn.

H.X.Đ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm