TIN TỨC

Con khiếu rất linh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-10-06 01:32:58
mail facebook google pos stwis
14 lượt xem

PGS.TS. ĐỖ LAI THÚY

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...

Nhà thơ, PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu

 

tưng bừng rực rỡ đàn Khiếu Linh trở về

đậu kín trên ngọn cây Mộc Miên cổ thụ

cất tiếng hót thiêng liêng ngân nga bồi hồi

xứ sở hân hoan nhịp điệu nhân phồn

Nguyễn Linh Khiếu

 

Bạn ơi hãy dùng rượu của tôi trong cốc riêng của tôi

Nó sẽ rất mất hương vị rất nhiều khi rót vào cốc khác

R. Tagore

1.

Thơ Việt Nam, kể từ Đổi mới và Mở cửa, đã chuyển sang Thơ hiện đại chủ nghĩa. So thế hệ thứ nhất Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng với “thơ ngăn kéo,” thế hệ thứ hai với Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Mai Văn Phấn,… tuy không có sự “bất bình tắc minh,” nhưng có ý thức tự giác và khát khao đổi mới. Họ xuất hiện ở những thời điểm khác nhau trên tiến trình đổi mới và đóng góp của họ cũng ở những cạnh khía khác nhau. Trong số này, Nguyễn Linh Khiếu như một hiện tượng đột xuất, tuy anh làm thơ đã lâu. Nguyễn Linh Khiếu sinh năm 1959, Kỷ Hợi, mệnh Mộc, ở Thái Thụy Thái Bình. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Triết học. Nguyễn Linh Khiếu là tác giả của những tập thơ và tùy văn: Chùm mơ tiên cảm (1991), Mùa thiêng (1995), Hoa linh (2000), Sa hồng (2018), Beijing lá phong vàng (2018), Phồn Sinh (2018), Dòng thiêng (2019), Hoa Linh Thảo (2021), Chân mây (2024), Hoa khởi trinh (2024), Phù du (2026)…

2.

Phép đặt tên của các cụ ngày xưa, hay chí ít ở những gia đình có “bát ăn bát để,” là dựa vào tử vi. Đứa trẻ khi sinh chưa đặt tên vội, mà ghi giờ sinh ngày đẻ vào một tờ giấy cất đi. Đầy tuổi tôi, cha mẹ mang tờ giấy ấy đến nhà thầy đồ để lập bảng tử vi. Rồi đặt tên theo lá số. Họ dùng tên để khắc chế những nhược điểm trong tính cách hay số phận được báo trước của đứa trẻ. Hoặc sẽ phát huy những ưu điểm của nó. Tên, bởi thế, cũng chính là con người. Dựa vào mối quan hệ ma thuật người ⇆ tên, tên ⇆ người này, những ai yêu ghét nhau thường lấy tên nhau ra để nguyền rủa, hay xưng tụng. Tôi không biết cái tên Nguyễn Linh Khiếu có được đặt theo nguyên tắc tử vi này không, nhưng dự cảm thấy nó có tính dự báo, tính tiên tri rất cao.

Quả thực, khi chưa đọc Hoa Linh Thảo (Hội Nhà văn, 2021), tôi cứ tưởng khiếu ở đây là năng khiếu, tài năng, linh là thiên bẩm, tự nhiên. Linh khiếu, vì vậy, là tài năng trời cho. Nhưng khi đọc hóa ra linh khiếu là con chim khiếu linh thiêng. Khiếu là một loài chim hót hay/hay hót, đa giọng điệu, nên cũng được gọi là khiếu bách thanh. Khiếu Linh như một Con chim đến từ núi lạ/Ngứa cổ hát chơi (Xuân Diệu). Tôi thấy nhà thơ của Hoa linh thảo tự gọi mình là Khiếu Linh không đơn thuần chỉ là trò chơi đảo chữ, mà là sự tự ý thức về cá tính mình, về vai trò xã hội hay sứ mệnh thi ca của mình. Các nhà thơ ngày xưa sống đến một độ chín nào đó mới tự đặt cho mình tên Tự, tên Hiệu để thể hiện cái tính cách, hoặc cái chí của mình. Khiếu Linh, cái tên hiệu này quả rất đúng với thi nhân và các thi phẩm của Nguyễn Linh Khiếu, nhất là tập thơ Hoa Linh Thảo. Rồi đọc xong tập thơ này, tôi lại thấy đằng sau cái nickname của thời hiện đại Khieu Linh, con khiếu rất linh ấy, vẫn thấp thoáng Linh Khiếu với một năng lượng thơ trời cho. Sau này có dịp trao đổi với Nguyễn Linh Khiếu, tôi thấy trực giác ban đầu của mình là đúng. Chữ Linh cũng không phải tên đệm của dòng họ (tên đệm của dòng họ phải là chữ Tường) mà được ông ngoại cài vào để trấn yểm cái xấu, phát huy cái tốt, nhằm đảm bảo tương lai cho đứa cháu ngoại. Thế là, cả hai nghĩa Linh Khiếu và Khiếu Linh, tuy hai mà một ở trong anh.

3.

Có thể, Hoa Linh Thảo là một tập đại thành thơ của thơ Nguyễn Linh Khiếu. Trước tiên là các tập thơ trước đó đều chứa đựng một yếu tố thiêng liêng: Chùm mơ TIÊN CẢM, Mùa THIÊNG, Hoa LINH, LINH hương, Dòng THIÊNG... Sau đó, cái thiêng này tác động đến vạn vật, tạo ra sự sinh sôi nảy nở. Từ Sa hồng đến Phồn Sinh, sự sinh sôi nảy nở đã được nâng lên thành một luận thuyết, một triết lý, một triết học. Cuối cùng là thể thơ. Nguyễn Linh Khiếu bắt đầu với thơ trữ tình (Chùm mơ tiên cảm), chuyển qua trường ca, từ ngắn (Ban mai Diêm Điền) đến dài (Linh hương), từ dài đến đồ sộ (Phồn Sinh), sau đó là thơ văn xuôi/văn xuôi thơ mà tác giả gọi là tùy văn (Beijing lá phong vàng). Như vậy, về thể loại thơ Khiếu cũng có sự triển nở từ ngắn đến dài, từ quy chuẩn đến tự do, từ đơn giản đến phồn tạp, từ đơn tuyến đến đa tuyến, thậm chí đa hệ. Hoa Linh Thảo là một tích hợp và nâng cao của thơ Nguyễn Linh Khiếu, một thế giới nghệ thuật của anh.

Hoa Linh Thảo là một trường ca lớn, và hoàn chỉnh nhất, nên trước khi đi vào nội dung, tôi sẽ nói qua về thể loại. Trường ca xuất hiện vào thời cuối kháng chiến chống Pháp với Đi! Đây Việt Bắc của Trần Dần, và đặc biệt nở rộ trong chiến tranh chống Mỹ. Trường ca thuộc bộ phận văn học bị/được sử thi hóa. Sử thi vừa theo nghĩa đồ sộ, hoành tráng vừa theo nghĩa anh hùng ca thời cổ. Với một thái độ kính ngưỡng, trường ca thời chống Mỹ chuyên nói về những vấn đề lớn, những “đại tự sự” của dân tộc như chiến tranh, xây dựng xã hội chủ nghĩa, người anh hùng… Trường ca bập bênh giữa tự sự và trữ tình. Những tác phẩm đầu tiên nghiêng về tự sự, như Bài ca chim Chơ-rao của Thu Bồn. Đến giữa chừng với Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, Đêm trên cát của Thanh Thảo bắt đầu có sự cân bằng giữa tự sự và trữ tình. Đến Trần Anh Thái, trường ca hậu chiến nghiêng lệch hẳn về cực trữ tình. Trường ca Nguyễn Linh Khiếu ở Phồn Sinh và Hoa Linh Thảo nổi bật ở tính trữ tình, tính dân dã, và, do vậy, thoát được tính sử thi vốn là bản mệnh của thể trường ca thời chống Mỹ. Ngoài ra, trường ca Nguyễn Linh Khiếu như một dòng sông lớn chứa đầy phù sa, tôm cá, chim nước càng về xuôi, về biển càng mở rộng lòng, mở rộng lưu vực. Nhịp chảy của nó trùng điệp những làn sóng âm thanh, hình ảnh xô đẩy nhau, tung bọt trắng, ngời sắc cầu vồng. Có thể nói, Phồn Sinh và Hoa Linh Thảo là một bước phát triển khác, một khúc rẽ, của trường ca Việt. Và chính ở đây là chỗ đóng góp riêng của Nguyễn Linh Khiếu cho thơ Việt đương đại.

4.

Cũng như Lá diêu bông của Hoàng Cầm, Hoa Linh Thảo của Nguyễn Linh Khiếu không phải là loài hoa có thật trong tự nhiên, mà chỉ là một Ta đã định danh một loài hoa trên thế gian/ có phải những bông hoa Linh Thảo Kolkata chờ đợi ta đã lâu lắm rồi không. Câu chuyện đặt tên loài hoa này ở lời tựa trường ca Hoa Linh Thảo, tác giả đã hé lộ rằng nó được bắt đầu từ một câu chuyện hư ảo khi anh còn nhỏ. Khi đó anh và người bạn của mình đã gặp loài hoa ấy nở dọc triền đê biển trong một đêm trăng non đầy ma mị. Đến năm 1995, anh đã viết bài thơ Hoa Linh Thảo. Thế rồi, trong chuyến thăm Ấn Độ, khi vừa bước ra cửa sân bay thì nhà thơ đã được một nữ thi sĩ sở tại xinh đẹp choàng lên cổ một tràng hoa. Anh không biết đấy là hoa gì, và cái tên Hoa Linh Thảo chợt xuất hiện trở lại. Thế là từ đó, với anh, hoa nào cũng là Hoa Linh Thảo, hương thơm nào cũng là hương Hoa Linh Thảo, nhan sắc nào cũng là vẻ đẹp Hoa Linh Thảo… Loài hoa này vốn tồn tại âm thầm trong vô thức nhà thơ bỗng bùng nở trong cõi hữu thức.

Hoa Linh Thảo, bởi thế, là một biểu tượng nhiều mặt. Bông hoa này tượng trưng cho một quan niệm thơ khá mới mẻ của Nguyễn Linh Khiếu. Anh đi nhiều, trải nghiệm lắm, nhưng không làm thơ để phản ánh các cảnh tượng bên ngoài, hay phong cảnh nội tâm, mà để phát hiện ra “những điều mới mẻ kỳ lạ vốn ẩn giấu thầm kín trong ta” (Hoa Linh Thảo, tr. 12). Kho báu đó không chỉ kỳ lạ với người ngoài, với thế giới bên ngoài, mà kỳ lạ cả với chính chủ nhân của nó, nhà thơ. Mà “mở kho báu của chính mình nghĩa là nhà thơ phải tự tìm con đường riêng của chính mình” (tr. 12). Con đường riêng ấy của Nguyễn Linh Khiếu chính là làm thơ. Làm thơ để khám phá ẩn ngữ trong mình, nhưng rồi chính thơ ấy lại cũng là một ẩn ngữ mời gọi khám phá. Ẩn ngữ bội trùng này khiến cho Hoa Linh Thảo là một huyền nhiệm, bởi “mỗi loài cây khi nở bông hoa của mình đều chỉ vì mục đích riêng của loài cây ấy” (tr. 14). Đây không phải là ích kỷ, mà là tự kỷ. Không ai chặt chân le cho ngắn bằng chân vịt, hoặc kéo chân vịt cho dài bằng chân le. Cái gì như thế nào thì hãy để như thế ấy. Đó là bí mật của sự sống, mà nhà thơ muốn khám phá.

Hoa Linh Thảo là biểu tượng của phồn sinh. Trước hết là phồn sinh Người. Con người cần đông đàn dài lũ để duy trì chủng loại, để lấy nhân lực chống ngoại xâm nội địch. Trong nhiều chuyến đi Ấn Độ, Nguyễn Linh Khiếu bị hấp dẫn bởi văn hóa Ấn Độ. Ngắm các phù điêu ở đền thờ Hindu giáo, nhà thơ chợt ngộ:

những thiếu nữ dáng hình mê hoặc phô bày kho tàng khoái lạc

quanh năm bận mải giao phối và sinh con

không có gì quan trọng bằng hành vi giao phối

không có gì vĩ đại bằng hành vi sinh sản

đó là hành vi khởi sinh vĩ đại

đó là hành vi gieo mầm sống thiêng liêng

Trở về Việt Nam, một xứ sở nhiệt đới gió mùa, một hệ sinh thái tiền sử phồn tạp, một sự cạnh tranh sinh tồn khốc liệt, nên đâu đâu cũng thấy phồn thực phồn sinh. Đó là phồn sinh động vật và thực vật, nhất là hành vi sinh đẻ. Nguyễn Linh Khiếu ngoại hiện hóa một cách tinh tế cái hành vi vừa trần tục vừa linh thiêng này:

hạt mầm cựa quậy dưới đất nâu

trứng hồng loay hoay tách vỏ

ấu trùng tinh tường xoay xở lột xác

con đực kho tàng đầy căng giống

cái kho tàng đầy căng trứng đỏ

Như vậy, với Nguyễn Linh Khiếu, con vật nào đang ở trạng thái sinh nở cũng đều là một vật linh. Nó có sứ mệnh duy trì nòi giống, kéo dài đời sống của chủng loại. Mà đời sống của loài thì bao giờ cũng quan trọng hơn đời sống của mỗi cái thể. Đó là chiến lược truyền sinh của vạn vật. Những con vật nhỏ yếu dễ làm mồi cho những con vật lớn hơn, như chuột đồng chẳng hạn, thì mỗi lứa phải đẻ nhiều con và mỗi năm nhiều lứa. Không như sư tử mỗi lần đẻ chỉ một hai con và vài năm mới có một lứa. Ếch nhái hay cá cũng vậy, một lần đẻ được rất nhiều trăm trứng, sau này dẫu có bị “cá lớn nuốt cá bé” thì vẫn còn đủ số lượng để duy trì nòi giống. Con chim đực có bộ cánh sặc sỡ để thu hút con cái. Bông hoa có màu sắc và hương thơm… Nguyễn Linh Khiếu, thậm chí, ca ngợi hoa cứt lợn đẹp hơn hoa hồng, bởi hoa cứt lợn ở đâu cũng sống được, chỉ hôm trước đến hôm sau là đã um tùm. Cái nhìn truyền sinh, như vậy, đã làm đảo lộn thẩm mỹ thông thường.

5.

Biểu tượng phồn sinh của Hoa Linh Thảo bất giác làm tôi nhớ tới tín ngưỡng phồn thực, mà tôi đã nghiên cứu khá đủ đầy trong tác phẩm Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực. Một nét đậm một nhịp mạnh trong tâm thức Việt Nam. Thực ra, tín ngưỡng phồn thực là một giai đoạn quan trọng trong tiến trình phát triển tâm linh nhân loại. Nó ra đời vào thời Đá Mới, khi con người giã từ phương thức sống bằng hái lượm và săn bắt để chuyển sang trồng trọt và chăn nuôi. Trồng một cây họ mong có nhiều quả, nuôi một con họ mong có nhiều con, thậm chí chính họ cũng phải sinh ra con đàn cháu đống để lấy nhân lực và duy trì nòi giống. Từ đó, họ tôn thờ sự sinh sôi nảy nở. Nhưng người nguyên thủy không tư duy trừu tượng, mà là tư duy cụ thể, nên họ thờ cúng các hình tượng sinh thực khí và hành động tính giao. Đến khi tôn giáo xuất hiện với chủ trương cấm dục, tiết dục, thậm chí diệt dục, thì tín ngưỡng phồn thực suy thoái, thì các biểu tượng phồn thực lui vào vô thức tập thể dưới dạng những cổ mẫu (archétype). Riêng ở Việt Nam, một đất nước tam nông (nông thôn, nông nghiệp, nông dân) kéo dài, lại không có các tôn giáo bản địa lớn khắc chế, nên thế giới quan phồn thực còn sống động. Nó trở thành một vết hằn trong tâm thức Việt. Bởi vậy, người Việt, nói như Trương Tửu, nhìn cái gì cũng qua cái khuôn “giống” ấy.

6.

Hình như tín ngưỡng phồn thực không ảnh hưởng gì đến triết luận phồn sinh của Nguyễn Linh Khiếu. Mà, nếu có, cũng chỉ là gián tiếp qua sự di truyền của các cổ mẫu. Trực tiếp hơn, có lẽ, là vùng quê anh sống suốt thời thơ ấu. Đó là đất Thụy Anh, Thái Ninh, nơi dừng chân trước biển của châu thổ sông Hồng. Bao sinh lực của phù sa, của giun dế, của cá tôm, của chim chóc dồn lại ở cửa sông Trà Lý, ở bãi biển Diêm Điền. Cuối những năm 60 thế kỷ trước, tôi đã có dịp đến nơi này. Ra ngắm biển mà chân không dám bước mạnh sợ dẫm nát các loài sinh vật sống dưới lớp bùn cát. Rồi đâu đâu cũng thấy cảnh đực cái, như gà đạp mái, chó lẹo nhau, ếch nhái cõng nhau, rắn cuộn nhau, người chim chuột nhau… khiến cô bạn đi cùng tôi ngượng chín mặt. Sú vẹt thả vào gió phấn hương để hoa đực gặp hoa cái. Có lần tôi may mắn chứng kiến cảnh con ong chúa bay vút lên trời phóng ra một mùi động dục khiến cả đàn ong đực bay vút theo để cố công giao hợp, trông không khác gì một cơn lốc đầy màu sắc, âm thanh và mùi vị. Thời buổi chiến tranh, vạn vật dường như trần trụi hơn, hoang dã hơn, người hơn. Một sự thoái triển cần thiết về sức mạnh cội nguồn. Với tôi, một thanh niên sống ở vùng bán sơn địa, thì tất cả thứ ấy đều là cảnh tưởng, còn với cậu bé Khiếu vào cùng thời điểm ấy, cũng trên mảnh đất ấy, thì là kinh nghiệm, đúng hơn sống trải. Hẳn đấy là những bài học đầu tiên về giáo dục giới tính của anh. Thiên nhiên chỉ dạy, làm mẫu, còn Khiếu chỉ việc bắt chước. Đấy cũng là những thách thức trưởng thành, thành đinh, của những cậu bé nông thôn Việt Nam. Những câu thơ phồn sinh của Nguyễn Linh Khiếu bắt đầu từ đó. Có điều chỉ mãi sau này anh mới cầm bút viết:

là nhà thơ ta thấm đẫm cội rễ của mình

bến bờ quê hương cánh đồng lam lũ

trong tâm hồn ta náo động tiếng vỗ cánh hân hoan

của chim chóc và côn trùng mùa hôn phối

ta đồng nghĩa với tung tăng tôm cá hòa thuận

ta đồng nghĩa với lũ cào cào châu chấu lanh chanh

tưng bừng áo xanh áo đỏ

ta đồng nghĩa với lũ còng còng nhút nhát càng xanh

càng đỏ hồn nhiên rong chơi trên bãi bồi phù sa

ta đồng nghĩa với lũ giun đất lấm lem

lầm lũi miệt mài cao thượng

ta đồng nghĩa với lũ lươn chạch suốt đời vùng vẫy

trong bùn nhưng thi thoảng đập đuôi xao động vầng trăng xanh biếc

ta đồng nghĩa với bầy sáo đen mỏ vàng tha rác làm tổ

trên những ngọn đa làng cất tiếng ca ngợi những ban mai

thiên đường những đứa con đông đúc

(Ban mai Diêm Điền)

Diêm Điền/Ruộng Muối ngày nay đã lùi xa dần. Vết tích còn lại là một âu thuyền của những người đánh cá, bán nước mắm. Nhưng đọc thơ Nguyễn Linh Khiếu, tôi vẫn thấy sống động trước mắt một Diêm Điền Phồn sinh thuở nào. Thơ Khiếu, rõ ràng, xuất phát từ những trải nghiệm ấu thơ của mình để đến với một nghiệm sinh trưởng thành.

7.

Từ ngón chân út châu thổ sông Hồng, Nguyễn Linh Khiếu vươn lên tầm nhìn toàn cảnh sông Mẹ. Cũng như sông Hằng ở Ấn Độ, nơi Khiếu Linh lần đầu tiên bắt gặp Hoa Linh Thảo, sông Hồng cũng bắt nguồn từ chân dãy Himalaya chảy về Đất Việt làm nên nền văn minh sông Hồng. Sông Hồng vốn có tên là sông Cái, tức sông Lớn, sông Mẹ. Đây là xứ sở Phồn Sinh cho tất cả con người, động vật, chim muông, tôm cá ở nơi đây.

ta ra đi từ châu thổ sông Hồng

miền lúa nước huy hoàng

miền trâu nước hùng vĩ

miền chim nước sặc sỡ

miền nhân nước phì nhiêu

miền thủy sinh phi thường

miền lưỡng cư mộng mị

nơi thần tình yêu ngự trị

Rồi như thơ ca ngợi các loài thủy sinh, đặc biệt là con cá Kiều, ca ngợi các loài sinh sống trên không, đặc biệt là chim Khiếu Linh, ca ngợi các loài cây, đặc biệt là cây Mộc Miên, tức cây hoa gạo, ca ngợi những người đàn bà, đặc biệt là những người mẹ và những người đến tuổi làm mẹ…

ta sinh ra nơi châu thổ sông Hồng

dòng mẫu hệ ngàn đời mênh mông bao dung chảy xiết

mẫu hệ là nhân từ

mẫu hệ là thịnh vượng

mẫu hệ là bản sắc

mẫu hệ là nguyên lý sắc tộc

Sông Hồng chính là nguyên lý Mẹ, là thiên tính nữ của dân tộc Việt Nam, của văn hóa Việt Nam. Con sông đã chảy từ huyền sử sang lịch sử. Lạc Long Quân và Âu Cơ là cặp đôi huyền thoại, một sự kết hợp các mẫu gốc. Núi và Nước, Tiên và Rồng, Âm và Dương… Nhờ đó mà một sự “sinh nở thần kỳ,” đẻ ra một bọc trăm trứng, nở ra thành một trăm chàng trai khỏe mạnh, thông minh. Dòng giống của dân tộc Việt Nam đông đàn dài lũ bắt nguồn từ biểu tượng Trời Đất giao hòa qua những “hạt nước” linh thiêng này:

những đêm thiêng châu thổ sông Hồng

chỉ mấy hạt nước đầu tiên rơi xuống

trời đất vỡ tan ra hàng trăm ngàn mảnh

bồng bềnh chao đảo chung chiêng

Không phải ngẫu nhiên mà vào đêm giã đám của những hội làng ven sông, trai gái đem nhau ra bờ sông, bờ đê bắt chước các hành vi khởi nguyên của Đất Trời này để tạo ra bản Hồng ca nhân phồn.

Cũng chính ở nơi các dòng sông hội tụ các cặp đôi truyền thuyết của dân tộc gặp nhau:

Sơn Tinh gặp Mị Nương

Chử Đổng Tử gặp Tiên Dung

Khâu Đà La gặp Man Nương

Triệu Đà gặp Trình Thị

Mỵ Châu gặp Trọng Thủy

Từ Thức gặp Giáng Hương

Đấy là huyền thoại, một huyền thoại luôn luôn được/bị lịch sử hóa. Hoặc là những cặp đôi lịch sử bị huyền thoại hóa. Bởi vậy, cả huyền thoại lẫn lịch sử ở Việt Nam đều được dôi thêm chiều kích, đều dôi thêm ý nghĩa. Đó là nơi chứa đựng nhiều bí ẩn của Phồn sinh. Như Nguyễn Linh Khiếu chú tâm hơn vào thứ lịch sử của đời thường:

nơi ông gặp bà nơi bác gặp bá nơi cha gặp mẹ nơi chú gặp cô nơi cậu gặp mơ nơi dì gặp dượng nơi anh gặp chị nơi ta gặp nhau

trời đất mang mang

sông nước mang mang

(…) những mối tình bất tử

Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử

dòng nước lạnh lẽo kia chẳng nói năng gì

Kỳ Cùng mùa đông tiếng thở dài vô bờ bến

những gì đã mất thỉnh thoảng đời ta lại mất

Sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn, cùng với sông Bằng Giang ở Cao Bằng, là những con sông chảy ngược sang Trung Quốc. Chúng thủy giai đông tẩu/Kỳ Cùng độc bắc lưu. Bởi vậy, nó là một ẩn dụ, một ấn tượng về nơi chốn mỗi lần nhà thơ đi qua biên giới. Cũng như hoa gạo, hoa Mộc Miên, hoa của miền quê Việt, luôn nhắc nhở màu đỏ của máu:

chẳng hiểu sao lần nào qua biên giới

mộc miên cũng rực đỏ triền sông, rực đỏ vách núi, rực đỏ tâm can

mộc miên đỏ một trời biên viễn

như máu tươi ròng rã ngàn năm

 

có ai trồng mộc miên biên giới

hay kiên cường cây tìm đến mọc lên

hoa cứ máu tươi suốt ngàn năm tê tái

cây cứ sừng sững mướt xanh cột mốc biên cương

Nguyễn Linh Khiếu đã đúng, để bảo vệ được Phồn sinh, thì phải có tự do. Trước hết là tự do cho dân tộc, sau đó là tự do cho cá nhân, nhất là cho các nhà thơ. Tự do không chỉ là điều kiện của sáng tạo mà còn là mục đích của sáng tạo.

không có tự do mọi sáng tạo thi ca chỉ là văn tế

mọi sáng tạo văn chương chữ nghĩa chỉ là điếu văn

mọi sáng tạo âm nhạc chỉ là nhạc hiếu

mọi sáng tạo điện ảnh chỉ là trình diễn nghi lễ cầu cúng nghĩa địa

8.

Như vậy, từ cảnh tượng phồn sinh, nhà thơ đã nâng cấp lên thành triết lý phồn sinh, cuối cùng thành triết học về sự sống. Tạo lập được tư cách nhà thơ – triết học. Sự sống ở châu thổ sông Hồng là một phồn sinh mạnh mẽ. Nhưng một khi nó đã đạt đến đỉnh điểm, đến viên mãn, thì nó phải thoái lùi, tự đánh vỡ mình theo một chu kỳ bí ẩn nào đó của vũ trụ. Nạn vỡ đê, nạn châu chấu làm hại mùa màng. Chiến tranh, dịch bệnh làm thiệt hại nhân mạng. Thời tiết nóng quá hoặc lạnh quá làm hại gia súc, gia cầm… Để có thể khắc phục được mặt trái của Phồn Sinh này, người Việt đã kiến tạo một minh triết cho sự sống, đúng hơn sống sót. Tôi gọi đó là Đạo Sống.

Trong Hoa Linh Thảo, Nguyễn Linh Khiếu đã cho thấy một “sự sống không bao giờ chán nản” (tên bài thơ Xuân Diệu) của con người, của động vật và của cây cối. Đạo Sống hoặc con đường để sống sót, để vượt qua những rào cản sống, đó là tiếng cười. Tiếng cười làm cho ta quên hết mọi sự trên đời, đặc biệt sự cực nhọc, cực khổ. Tiếng cười dễ lây lan trong đám đông, trong cộng đồng. Có thể nói, người Việt là người cười. Trong lời ăn tiếng nói thường ngày có nhiều cách nói, cách sử dụng câu chữ gây cười. Tiếu lâm/rừng cười có nghìn lẻ một câu chuyện cười. Rồi đố tục giảng thanh, đố thanh giảng tục. Rồi các loại hề của lễ hội dân gian, sân khấu dân gian, như hề chèo, hề gậy, chú Tễu… Có điều đặc biệt ở đây là tiếng cười cất lên, thốt ra từ niềm vui sống, từ bản chất của đời sống. Nó ca ngợi sự sống, sự sinh sôi nảy nở, đồng thời có châm biếm, chế giễu những rào cản sự sống, để đảm bảo cho dòng sống tuôn chảy liên tục, tự nhiên. Tiếng cười này, do vậy, mang tính chất nội bộ, xây dựng cho đối tượng bị cười cợt cốt tiến bộ lên, nhằm đảm bảo sự cố kết cộng đồng. Sau này, khi xã hội phân hóa thành các đẳng cấp, giai cấp, có sự bất bình đẳng về quyền lợi, thì mới xuất hiện tiếng cười đả kích. Cười để xóa bỏ, để thủ tiêu đối tượng. Trong Hoa Linh Thảo của Nguyễn Linh Khiếu có cả hai loại cười này. Nhưng tiếng cười chế giễu, hài hước, tự trào vẫn là âm điệu chủ đạo. Những nụ cười mỉm thấp thoáng đâu đó trong ngôn từ, hình ảnh, câu thơ.

Tuy nhiên, triết học về sự sống của văn hóa Việt Nam nói chung và của thơ Nguyễn Linh Khiếu nói riêng sẽ hoàn chỉnh hơn nếu đối trọng với triết học về sự sống có triết học về sự chết. Có lẽ người Việt Nam luôn sống bên bờ vực của sự sống sót, nên họ ngoảnh mặt đi không dám nhìn vào vực thẳm của cái chết. Thậm chí, người Việt tránh gọi tên cái chết, mà dùng rất nhiều uyển ngữ như về trời, hai năm mươi, khuất núi, băng hà… Không như Nhật Bản và đặc biệt Ấn Độ, họ chấp nhận cái chết, coi nó là một giai đoạn trong tiến trình sống, thậm chí sự khởi đầu cho một kiếp sống khác, cho sự tiếp diễn và nâng cao của sự sống. Có lẽ ít nhiều thức nhận được sự thống nhất và chuyển hóa không ngừng của các mặt đối lập như Phồn Sinh và Tàn lụi, sống và chết, nên kết thúc trường ca Hoa Linh Thảo, Nguyễn Linh Khiếu đã viết:

ta đã đến và ta đã hát

khúc Phồn Sinh thăm thẳm một cõi người

ta đã yêu và ta đã buồn

ta đã sinh ra và ta đã hủy diệt

một thế giới Phồn Sinh bạt ngàn Hoa Linh Thảo

bạt ngàn ta bạt ngàn thi nhân bạt ngàn sự sống

9.

Nguyễn Linh Khiếu là một nhà thơ rất có ý thức về công tác thơ của mình, về sứ mệnh thơ ca của mình. Ở anh có một sự phân thân triệt để giữa nhà chính trị và nhà thơ cùng tồn tại trong con người Nguyễn Linh Khiếu. Mỗi nhà đó có một phận sự, một mục tiêu, một nhân cách khác nhau, không lẫn lộn với nhau. Nhờ đó, anh không bị rối loạn đa nhân cách như một số nhà thơ thế hệ tiền bối, như Chế Lan Viên chẳng hạn. Nhưng cũng có thể ở Nguyễn Linh Khiếu con người nhà thơ và con người chính trị hòa trộn vào nhau, trở thành một, vô phân biệt. Hoặc có một cái gì đó đứng cao hơn cả hai con người này. Có lẽ, đó là Phồn Sinh, là Linh Thảo. Quả là con khiếu rất linh.

nhà thơ sinh thành chính mình

nhà thơ chỉ khi là mình

mới chính là con người

mới chính là quê hương

mới chính là dân tộc

mới chính là đất nước

chính là tổ quốc

chính là nhân loại

 

Từ đó, Nguyễn Linh Khiếu xác định mình là “nhà thơ độc quyền hát bản Hồng ca mùa màng sinh sôi nảy nở.” Và, do đó, anh trở thành “giáo chủ Phồn Sinh giáo.” Anh là người được chọn của và do Sông Hồng:

Sông Hồng chọn ta là nhà thơ xứ sở

trong các nhà thơ của châu thổ sông Hồng

Sông Hồng trao sứ mệnh độc quyền phát ngôn xứ sở Phồn Sinh

Do ý thức được như vậy, Nguyễn Linh Khiếu đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh được giao. Nhà thơ đã tạo nên một chính thể thơ ca vừa chặt chẽ vừa xộc xệch, vừa xuyên suốt vừa nhiều đường ngang ngõ rẽ, vừa chắt lọc vừa xô bồ, vừa bác học vừa dân dã… Đây là kiểu tư duy thơ vượt gộp theo nguyên lý bổ sung của Heisenberg, một kiểu tư duy Phồn Sinh. Tư duy phồn sinh, trong thơ Nguyễn Linh Khiếu, một mặt như dòng sông Mẹ trên hành trình ra biển, tạo ra các chi lưu, các ngã ba sông, kết nối với các nhánh sông khác hình thành nên một lưu vực phủ nước một lãnh thổ lớn. Điều này đưa đến một tầm nhìn châu thổ, một nền văn minh châu thổ sông Hồng, cái nôi của văn minh Việt. Mặt khác cũng khiến cho thơ anh trong các tập Phồn sinh và Hoa Linh Thảo có rất nhiều những yếu tố trở đi trở lại, từ ý tưởng, hình ảnh, các phát triển câu thơ, ý thơ. Bạn đọc chưa có cái nhìn tổng thể hẳn có cảm giác khó chịu, thậm chí là lỗi dư thừa. Nhưng trong ngôn ngữ cũng như trong nghệ thuật, đó là sự dư thừa cần thiết nhằm phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của tác giả. Còn nếu là lỗi thì là lỗi phong cách, tức không phải là lỗi (Chomsky). Cái chính là tư duy phồn sinh đã mang lại cho Nguyễn Linh Khiếu một thể loại thơ đặc biệt, trường ca phi trường ca và tùy văn đứng giữa thơ văn xuôi và văn xuôi nghệ thuật, một phong cách thơ dài rộng, thơ ngây nhưng sâu sắc. Đó là sự đóng góp của Linh Khiếu/ Khiếu Linh cho thơ hiện đại Việt Nam.

Đ.L.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm