TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Cái tôi trữ tình mang nhiều nỗi niềm hoài niệm và những trắc ẩn, suy tư trong thơ Trần Quang Khánh

Cái tôi trữ tình mang nhiều nỗi niềm hoài niệm và những trắc ẩn, suy tư trong thơ Trần Quang Khánh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-11-28 17:12:13
mail facebook google pos stwis
2095 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA

Thơ Trần Quang Khánh được viết ra bởi những cảm xúc chân thành của một trái tim nhạy cảm, giàu trắc ẩn với nhiều nỗi trăn trở, suy tư. Có lẽ chính đời binh nghiệp và những thăng trầm của cuộc sống đã cho anh những bài học, sự trải nghiệm về con người, cuộc đời trong một cái nhìn thấu đáo, đầy tính nhân văn.

Núi cứ chồng lên như ngói lợp/ Tuyết rơi phủ trắng cả lưng trời/ Cây im chết cóng trong đêm lạnh/ Chỉ thấy màu xanh áo của anh/ Chiến sĩ biên phòng mang ngọn lửa/ Tình yêu sưởi ấm đất biên cương/ Non sông một dải xanh màu mới/ Đất nước bình yên. Tổ quốc ơi!

Đọc thơ anh, phần nào bạn đọc hiểu được con người đời thường và con người thơ Trần Quang Khánh. Thành công ấy là biểu hiện của quá trình trải nghiệm của một hồn thơ đã chín với những suy nghĩ, quan niệm đúng đắn về thơ và công việc làm thơ - giãi bày tấm lòng thành thật của mình về những điều muốn được ký gửi. Vì thế, trong thơ Trần Quang Khánh không chỉ là nơi ký thác tâm hồn với những suy tư, trăn trở, khát vọng yêu thương mà còn là sự ngợi ca đồng chí, đồng đội - những người đã hy sinh máu xương, công sức cho sự bình yên, đẹp giàu của đất nước này, dân tộc này.

Thơ Trần Quang Khánh viết về nhiều chủ đề, đề tài nhưng có lẽ những vần thơ về chiến tranh, người lính, đồng đội, quê hương, đất nước là những vần thơ để lại nhiều ấn tượng nhất với bạn đọc.

Với Trần Quang Khánh, cảm xúc về thơ luôn thường trực, nhưng vì công việc trong môi trường quân đội nên anh không có thời gian để sáng tác thơ. Mãi cho đến khi về hưu, anh mới có thời gian để thực hiện ước muốn của mình thời trẻ. Và Trần Quang Khánh đã bắt đầu tìm lại những trang nhật ký để viết lại một cách đầy đủ hơn, hoàn thành những vần thơ để tri ân với bạn bè, quê hương, đồng đội… Anh viết bằng chính sự thôi thúc, rung động của trái tim chân thành; viết ra trong nỗi nhớ thương da diết và cả những nỗi niềm day dứt của bản thân.

Sáu mươi tuổi rồi bạn ơi

Nếu sáng ấy bạn không hứng trọn chùm pháo địch

Chúng bắn như điên những tên khát máu

Mắt trợn trừng miệng tả tả như rên

Bốn mươi năm trôi đi xương cốt bạn nơi nào

Nơi khe suối, hốc cây, mõm núi

Bạn đã hóa vào sông vào suối

Chảy hiền hòa cho đất mẹ bình yên

Bốn mươi năm sáng ấy giặc tràn lên

Tiểu đội chúng ta quay quanh đồi Yết Ngựa

Bọn bành trướng lũ quỷ điệp trùng cây cỏ

Lấy thịt đè người hòng nuốt chửng chúng ta

Đạn nổ vang trời bạn vẫn đứng bên tôi

Siết còi súng giặc ào ào gục đổ

Khắp mặt đất rung lắc như rây bột

Khẩu trung liên bay mất đầu nòng

Một loạt cối 82 nổ chùm quanh hào

Nơi bạn đứng chỉ còn trơ chân súng

Thân thể bạn hòa vào bầu trời rực sáng

Tôi căm hờn lao vào lũ quỷ nhe nanh

Bốn mươi năm đi qua hai mươi tuổi xuân xanh

Trong ký ức mọi người bạn vẫn khuôn mặt ấy

Đôi mắt đen hàm răng cười sóng dậy

Tuổi hai mươi lồng ngực căng đầy

Bốn mươi năm bạn vẫn ở nơi này

Nơi biên cương bốn nghìn năm tổ tiên không chớp mắt

Để canh giữ phẩm giá người dân Việt

Ngẩng cao đầu không chịu lạy quỳ ai

(Bốn mươi năm bạn vẫn ở nơi này)

Con người trong thơ Trần Quang Khánh bao giờ cũng trong tư thế ngẩng cao đầu, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng tiến công dù cho mưa bom, bão đạn của kẻ thù. Nhà thơ đã gọi kẻ thù bằng những từ đúng với bản chất của kẻ bạo tàn. Niềm đau đớn khôn nguôi của những người còn sống hôm nay đó là một số liệt sĩ vẫn chưa tìm được hài cốt.

Bốn mươi năm trôi đi xương cốt bạn nơi nào

Nơi khe suối, hốc cây, mõm núi

Bạn đã hóa vào sông vào suối

Chảy hiền hòa cho đất mẹ bình yên

Sự hy sinh, mất mát của những người đồng chí, đồng đội đã góp phần tô thắm ngọn cờ đấu tranh vì độc lập, tự do, vì hòa bình thống nhất đất nước.

Bao nhiêu ký ức về đồng đội đã ngã xuống làm cho anh day dứt khôn nguôi. Trần Quang Khánh cảm thấy may mắn khi mình còn được sống, được cống hiến cho đến hôm nay.

Đọc hồi ức đồng đội tuổi đôi mươi/ Thuở lũ giặc tàn sát miền biên giới/ Năm bảy chín đất mẹ đầy nhức nhối/ Những bạn bè còn mất ở nơi đâu/ Chúng ta đi ở thuở ban đầu/ Của tuổi trăng tròn ra trận/ Trong mỗi đứa lung linh lời mẹ dặn/ Đất nước mình phải giữ lấy nghe con/ Chúng ta đi không tính chuyện mất còn/ Lên phía trước cha ông từng đi vậy/ Ta ngã xuống cho màu xanh thắm mãi/ Cho núi sông biển cả muôn đời/ Đất nước mình Tổ quốc Việt Nam ơi/ Bốn nghìn năm không yên bề cuộc sống/ Giặc phương Bắc dập dồn như biển sóng/ Cổ Loa xưa máu đỏ vẫn loang thành/ Chúng rập rình muốn cướp cạn biển xanh/ Cả trời cao chúng muốn ta cúi đầu nô lệ/ Ta chỉ có làm người trong tư thế/ Cáo Bình Ngô trong sáng nghĩa nhân/ Những hồi ức ùa dậy trong tôi/ Ta đã sống những ngày không hổ thẹn/ Bạn và tôi phải đâu là cánh én/ Bởi mùa xuân đã có ở trong đời (Hồi ức đồng đội).

Trần Quang Khánh luôn tìm về đồng đội và những ký ức của chiến tranh, sự ý thức cao độ về chủ quyền, lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc.

Ta lặng đứng giữa biên cương Tổ quốc/ Trắng mây trời, trắng cả rừng cây/ Trắng mái tóc đoàn quân đi trong gió/ Đôi mắt đen rọi sáng cả đêm ngày// Những người lính băng mình qua bụi đỏ/ Những hồng cầu giữ nhịp con tim/ Lọc trong suốt trăm triệu lần sắc tố/ Dòng sông sâu, câu hát mãi không chìm// Những nấm mộ vẫn nằm nghe gió hát/ Nơi thung sâu, nơi chót vót mây trời/ Bên vách đá, trong dòng sâu cửa biển/ Đảo khơi xa đáy nước vẫn đầy vơi// Tổ quốc ở trong tim người chiến sĩ/ Người ra đi, cùng người sống ôm ghì/ Dẫu có hóa thành muôn vàn sương khói/ Vẫn quyện vào sông núi chẳng chia ly! (Tổ quốc giữa tim mình).

Viết về quê hương, bản quán Trần Quang Khánh cũng dành những vần thơ đậm chất trữ tình. Là một đứa con nơi xa, xa quê đã ngót nghét gần 1/2 thế kỉ nhưng tận sâu trong tâm khảm vẫn luôn hướng về “cố hương”, dõi theo tất cả những đổi thay của đất mẹ bằng tình cảm sâu nặng và thiêng liêng nhất.

Quê hương nhà thơ, Đại tá Trần Quang Khánh đó là nơi có dòng sông Lam, núi Hồng, nơi có mẹ có cha, gia đình, bạn bè và những ký ức sâu đậm của thuở thiếu thời. Một xứ Nghệ diễm tình với những hình ảnh vừa quen thuộc, gần gũi nhưng cũng có gì đó huyền ảo, lung linh. Nó bảng lảng, giữa hai bờ hư thực, gần đó mà lại xa vời vợi…

Khuôn hồng soi bóng mặt ao

Dòng Lam cuộn sóng gió Lào thổi ngang.

 

Nón em chao chiếc thuyền vàng

Gom đầy cả một mênh mang nước trời.

 

Anh đi ngày ấy xa xôi

Dòng xanh lơ đễnh để trôi... ánh chiều.

 

Núi Hồng ngả bóng đăm chiêu

Cánh đồng xơ xác, cánh diều ngẩn ngơ.

 

Anh về kéo lại vần thơ

Ráng chiều đã úa, trăng mơ đã tàn.

 

Đôi bờ cầu đã bắc sang

Con đò bến cũ mấy hàng cây xanh.

(Lục bát chiều)

Vì thế, nhà thơ lại càng nhớ thương da diết hơn về quê hương, nguồn cội. Trần Quang Khánh càng miên man trong ký ức, càng đi sâu vào cái tôi thì vùng đất xứ Nghệ của anh được mở rộng ra: từ những điều bình dị, quen thuộc đến những sự kiện lịch sử quan trọng được sử sách lưu danh…

Trong bài thơ Hưng Nguyên, Trần Quang Khánh viết về một huyện đồng bằng tả ngạn sông Lam, nằm ở phía Nam của tỉnh Nghệ An. Huyện Hưng Nguyên ra đời vào năm 1469, khi vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ hành chính của cả nước. Hưng Nguyên từ xa xưa đã là địa bàn chiến lược về quân sự. Nơi xảy ra nhiều sự kiện lịch sử, gắn liền với những tên tuổi của các vị vua, quan, trí thức nổi tiếng của nước nhà.

Gần sáu trăm năm

Bên dòng sông Lam miệt mài bền bỉ

Lọc dòng xanh biếc xanh

Người với sông tạo nên bãi nên bờ

Nên những cánh đồng, trang sử, câu thơ.

 

Những ngọn núi cũng mang tên Thành, tên Lũy

Quả cảm hiên ngang Dũng Quyết, thành Vinh

Sừng sững nhìn ra biển lớn

Bạn Hồng Sơn gội nước Lam chiều.

 

Những con người không quản máu xương

Giữ trọn lời thề non nước

Núi Nhón còn in dấu chân cha ông thuở trước

Lam Kiều vằng vặc trăng soi.

 

Hưng Nguyên đã bao lần tuyến đầu

Bao lần hậu cứ!

Dấu vết ghi trên khuôn mặt mỗi con người

Niềm tin ánh thép

Miệng nở đóa hoa tươi!

 

Ai đặt tên quê hương Hưng Nguyên

Tôi lật tìm trang sách cũ

Tôi hỏi những ông già râu tóc bạc phơ,

Hỏi nắng bình minh trong giấc mơ

Không tìm được tháng ngày xác tín.

 

Nhưng tôi biết Hưng Nguyên quê hương tôi

từ khi ở trong nôi

Tôi biết là quê hương của tổ tiên, ông bà, cha mẹ

Là mảnh đất của nước Việt ngàn đời

từ khi chưa được đặt tên.

 

Hưng Nguyên qua biết bao cuồng phong, dâu bể

Đạn bom cày nát đồng quê

Đạn bom nhiều hơn hạt lúa

Bão lụt như cơm bữa

Những bữa cơm là củ sắn ,củ khoai

Nuôi những anh hùng, những người sáng tạo

Từ trong bùn lầy

Hai tiếng Hưng Nguyên vẫn đủ đầy.

 

Hưng Nguyên hôm nay khác xưa rồi

Phố phường ngõ xóm xa xôi

Rộn rã tiếng cười

Những nụ cười vút lên tầng cao

Hòa trong tiếng máy

Hòa trong điệu nhạc

Câu hát sông quê xao xuyến mây trời!

Nỗi niềm hoài niệm với quê hương trong thơ Trần Quang Khánh không đơn thuần là sự trở về với những kỷ niệm mà là sự quay về với những truyền thống, cội nguồn, trở về với  những giá trị đạo đức thẩm mỹ mang tính lâu bền, vĩnh cửu.

Viết cho bạn, Trần Quang Khánh cũng dành những vần thơ trữ tình, da diết. Ở đó, là sự yêu kính, trân trọng và cả sự nuối tiếc. Khi nhận được tin người bạn, người đồng đội của mình năm nào vừa rời cõi tạm, Trần Quang Khánh rưng rưng, nấc nghẹn:

4h sáng giật mình tỉnh giấc/ Điện thoại bật lên. Đạo đã đi rồi / Đạo đã bay thật rồi về cõi mộng/ Giấc mơ bay hóa thực ở phương trời!// Ta gặp nhau trong bước hành quân/ Trên trời Tổ quốc những làn mây trắng/ Ta đi trong mùa hoa đào biên cương khói sạm/ Sông Hồng mang sắc đỏ đau thương…// Sáng nay  Đạo bay về cõi mộng/ Bay về nơi quê mẹ thắt lưng ong/ Đất Quảng Bình ngày đêm trông ngóng/ Xếp cánh mơ đời yên lặng ngày đông!

        Vĩnh biệt Trần Quang Đạo - TP HCM, 4h sáng 10/11/2024

(Tiễn đưa Trần Quang Đạo)

Nếu bạn đọc tinh ý sẽ nhận ra trong thơ Trần Quang Khánh bên cạnh cái tôi trữ tình tự hào, ngợi ca, biết ơn, trân trọng sang lắng đọng, suy tư. Những vấn đề sử thi chuyển dần mang màu sắc thế sự, xuất hiện tâm thế đối thoại, chất vấn, hoài nghi.

Bài Đếm là một trong những bài thơ đậm chất thế sự. Đó là nỗi bi ai trước một thực tế đã diễn ra đầy chua chát.

 Người nông dân đếm tiền chưa hết bàn tay

Thi sỹ đếm tiền như đếm sao buổi sáng

KidsTet đếm tiền bằng vi tính màu sáng láng

Trăm triệu Mỹ Kim máu nhuộm đỏ sơn hà!!

Đi qua những năm tháng ở chiến trường, sau đó Trần Quang Khánh cũng có hơn 30 năm đứng trên bục giảng. Chừng ấy thời gian là có biết bao kỷ niệm gắn liền với nghề dạy học. Nhà thơ sâu sắc nhận ra sự cao quý của nghề và cả những điều kiện cần phải tuân thủ, những thứ nên tránh. Người thầy phải không ngừng rèn luyện, vun bồi cả kiến thức và nhân cách đạo đức, lối sống. Bởi nghề dạy học là nghề đặc biệt quan trọng, nghề đạo tạo ra con người, đào tạo ra cả một thế hệ tương lai cho đất nước.

Ta có thể ảo với ta suốt cả cuộc đời/ Ảo để sống với nỗi niềm khát vọng / Nuôi ngọn lửa đời trong tim không tắt ngấm/ Vật vã ngày đông truyền lửa yêu thương.// Nhưng không thể ảo trước con người lương thiện/ Những khuôn mặt ngây thơ khao khát đến trường/ Với người mẹ, người cha phơi mình trong nắng, bão/ Vun mầm non để ruộng rẫy nên hương.// 30 năm miệt mài trên bục giảng;/ Những năm tháng xa xôi khói lửa chiến trường/ Không thể ảo với quê hương, con đường ta bước/ Với dòng sông, biển đảo yêu thương.// Thà để bị vùi trong khói bụi/ Trong lò nung triệu độ trời cao / Nhưng không chịu rạp mình thành cỏ dại/ Để mong đời ban tặng chút xôn xao.

Bài thơ cho thấy rõ nhận thức, bản lĩnh, cốt cách của Trần Quang Khánh, một trí thức mẫn cảm, ý thức sâu sắc trách nhiệm công dân của mình.

Vốn là người từng trải, tinh tế nên Trần Quang Khánh nhìn đời trong sự linh ứng, nhạy cảm riêng.

Ta giật mình mùa thu lại đến/ Chiếc lá vàng tiễn một mảnh thu rơi/ Dòng nước biếc lọc bầu trời xanh biếc/ Có lọc được hồn ta trở lại thuở yêu đời!// Ôi cái thuở ngập tràn tình thương mến/ Mất mát đau thương không xóa nổi ánh mắt cười/ Ta nắm tay nhau giữa dòng xoáy lũ/ Bom đạn thét gào- Sông vẫn hát thương yêu!// Tiếng hát thành sợi chỉ nối đường đi/ Nối bền chặt một tình yêu tươi mới/ Con đường cứ đi và tình người lại đến/ Một nắm xôi đủ san sẻ những sắc đời! (Sắc đời).

Thơ Trần Quang Khánh đậm chất suy tư, giàu tính triết luận. Đọc thơ anh người đọc nhận ra đó là tiếng thơ của một con người từng trải. Tiếng thơ ấy của Trần Quang Khánh đã nói hộ được tâm trạng, cảm xúc, tiếng lòng của rất nhiều người mà họ không thể diễn đạt được bằng thơ như anh! Vì thế, bạn đọc đồng cảm và yêu thích thơ anh là vì lẽ đó.

Nhà thơ Trần Quang Khánh sinh năm 1959 ở Nghệ An. Ông nhập ngũ từ năm 1978, theo học và tốt nghiệp khoa Ngữ văn của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1, sau đó tốt nghiệp trường Sĩ quan và có nhiều năm giảng dạy trong nhiều trường biên phòng cho đến khi về hưu năm 2017. Với những trải nghiệm phong phú của đời lính trong hơn 10 năm là chiến sĩ bộ đội đặc công, 30 năm là chiến sĩ bộ đội biên phòng cùng với tình yêu văn chương của mình; Đại tá, nhà thơ Trần Quang Khánh đã có rất nhiều bài thơ viết về quê hương nguồn cội, viết về chiến tranh, đặc biệt là đề tài về người lính bộ đội biên phòng. Ông đã cho mắt công chúng 2 tập thơ riêng là: Ký ức xanh (2021), Nốt nhạc mùa (2022) và hiện là hội viên Hội Nhà văn TPHCM...

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm