TIN TỨC

“Cảm nhận văn chương” - Lời tự sự của chuông gió

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-22 18:12:22
mail facebook google pos stwis
2171 lượt xem

KAO SƠN

Trong một nền văn học, nhân tố đầu tiên quyết định đến sự phát triển là Nhà văn và Tác phẩm. Nhưng Độc giả lại là yếu tố quan trọng, có thể ví như không khí, như mạch máu nuôi dưỡng cơ thể. Không có độc giả thì dù nhà văn có in ra đến thiên kinh vạn quyển cũng vô ích. Và đứng ở giữa, chiếm vị trí như một cầu nối, như một chất xúc tác, làm sôi động sự vận hành, liên kết giưã Tác giả- độc giả là Nhà phê bình. Phê bình có tác động mạnh mẽ đến tâm lí, thị hiếu và sự chọn lựa của người đọc, có nhiệm vụ thẩm định, bình giá hay định hướng giá trị nhân văn, thẩm mĩ cho cộng đồng. Đồng thời, phê bình tác động trở lại chính nhà văn và hoạt động sáng tác, hoạt động xuất bản, phát hành ấn phẩm văn học.


Nhà văn Kao Sơn tại buổi giới thiệu tác phẩm mới của nhà thơ Triệu Kim Loan.

Để có một nền lí luận phê bình Văn học nghiêm túc, bài bản cần rất nhiều yếu tố: Chương trình đào tạo chính quy về lí luận cơ bản, học thuật, văn hoá, các lớp tập huấn, bồi dưỡng, các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm phê bình văn học… Một nhà phê bình thực thụ cần có cơ sở lí luận vững, có hành trang kiến thức về Mỹ học, Triết học, có am hiểu rộng về các trường phái, tôn giáo… và cùng đó là tinh thần tự học, tự mở mang thông qua các kênh kiến thức của văn học thế giới, các trường phái, các luồng tư tưởng, khác nhau…đồng thời có nhân sinh quan riêng, có khả năng tạo lập một hệ quy chiếu hợp lí cho từng vấn đề cụ thể. Ở một bình diện khác, cần quan tâm đến mặt bằng kiến thức chung của đối tượng tiếp nhận. Với độc giả phần lớn có trình độ trung bình, khó tiếp cận những vấn đề học thuật, những lí luận rối rắm mà Phê bình hàn lâm mang tới sẽ là một rào cản không nhỏ. Chính vì thế mà một thời gian dài ở nước ta, do hoàn cảnh cả về kinh tế lẫn chính trị, Lí luận- Phê bình chính thống và Hàn lâm đang ngày càng có nguy cơ bị thu hẹp.

Để cứu vãn tình trạng đó, CẢM NHẬN – Một phân nhánh của Phê bình vốn hình thành từ thông tin báo chí…. lại có cơ hội phát triển. Đơn giản là tính cập nhật nhanh, gọn, không đòi hỏi lí luận cao siêu. Cảm nhận là sự chấp nhận, động viên, chia sẻ, tạo sự đồng cảm và cổ vũ. Nó trở thành động lực tăng cường cảm hứng, nguồn doping dịu ngọt và không kém mê li cho người sáng tác. Hiện tượng này tạo ra một khối đồng minh khá đoàn kết chứ không chia mặt trận giữa người sáng tác và nhà phê bình như trước.

Tình nguyện trở thành cầu nối thân thiết giữa Tác giả với Độc giả, cả một đội ngũ đông đảo của thế hệ 6X, 7X những người mà trong sự nghiệp văn chương đã có một thời gian thử thách, đã có kinh nghiệm và độ chín nhất định sự nghiệp nhiệt tình dấn thân. Nhiều người bắt tay vào viết những bài Phê bình kiểu đó. CẢM NHẠN VĂN CHƯƠNG của Triệu Kim Loan có thể được coi là một dấu ấn mang tính tiên phong khi chị làm một tập hợp thành một cuốn sách nghiêm chỉnh trong đó phần lớn là những bài Cảm do chị và bạn bè viết. Triệu Kim Loan có thế mạnh khi viết Phê bình dưới dạng Cảm. Bởi chị cũng chính là người viết, là tác giả của nhiều bài thơ, nhiều tập thơ đồng thời cũng là người đọc. Điều đó giúp chị dễ dàng trở thành Người trong cuộc. Chị chìa bàn tay ấm mềm và dính đầy phấn trắng tinh khiết để được làm bạn đồng hành với các tác giả khác và độc giả.

Triệu Kim Loan là Thạc sỹ chuyên ngành Văn học, là giáo viên Văn nhưng khi viết phê bình chị lại tránh được sự giáo điều, tránh được những câu chữ mang tính ước lệ vốn đã trở thành nếp trong dạy và học văn học trong nhà trường. Chị cũng không bị chi phối quá nhiều về những mặc định Hàn lâm, Kinh viện hay những giăng mắc, những uẩn khúc và cả những chưa ngã ngũ mà các cuộc tranh luận học thuật vốn đầy ắp trong các bài phê bình. Chị hiểu thực trạng của Văn học nước nhà, hiểu hoàn cảnh và khả năng của bạn viết. Chị không dùng nhiều những Mỹ từ, dùng những lời có cánh để tâng bốc hay để đưa nhau vào mê lộ ảo tưởng. Câu chữ của chị là câu chữ của nhà phê bình nhưng được biểu hiện qua cái tâm của người sáng tác. Không rao giảng, không áp đặt, không viện dẫn những tai to mặt lớn, những triết gia, những tư tưởng xa vời, không lên giọng vẽ đường chỉ lối. Cứ thủ thỉ tâm tình, thoảng nhẹ như làn gió mỏng làm tung lên những leng keng ấm áp của chiếc chuông gió, vậy thôi!

Triệu Kim Loan viết cho bạn cũng là khi chị dang tìm thấy ở bạn những đồng điệu, lấy bạn làm một gợi mở hay đối tượng để thiểu và khám phá. Khi ấy chị không chỉ đơn thuần là người viết giới thiệu, một quan sát viên hay một hướng đạo. Triệu Kim Loan tự hoá thân thành người thứ hai bên cạnh người viết, như hai người bạn cày cấy ở một miền quê yên bình sau buổi từ cánh đồng về ngồi bên mép hè đất, vừa chuyền tay nhau bát nước vối vừa bàn với nhau chuyện ruộng vườn cùng bao vui buồn thất bát. Để Cảm nhận một tác phẩm Văn học thì nguồn tư liệu chính vẫn là Văn bản của nó. Nhưng Triệu Kim Loan khi viết Phê bình thường chọn những tác phẩm của bạn bè chị. Cái điểm xuất phát đầu tiên là Tình yêu. Chị yêu bạn. Thứ nữa, là bạn bè nên hiểu nhau đến từng chi tiết cả về Tác phẩm lẫn con người thực trong đời thường. Lối viết ấy sẽ giúp độc giả không chỉ hiểu về Thơ mà còn hiểu và yêu quý thông cảm với người viết. Xin lấy riêng một ví dụ Triệu Kim Loan viết về Trần Mai Hường: “Đó là một tâm hồn ngập tràn nắng gió của thiên nhiên, vừa ấm áp, đam mê thơ ca nhưng cũng đầy trắc ẩn trước những bão dông cuộc đời. Đằng sau những mật ngôn sóng sánh kia là trái tim giàu xúc cảm, một bản ngã rắn rỏi đối diện và vượt lên nghịch cảnh bằng niềm tin mãnh liệt như chính con người ngoài đời của chị... Lời thơ trăn trở, xa xót bởi tình duyên bấp bênh như một canh bạc của số phận”.  Có lẽ phải cùng có trái tim đàn bà, cùng mang thân phận đàn bà và cũng yêu, hiểu nhau lắm thì mới có thể viết được, tặng cho nhau những câu chữ chính xác đến mức “bóc mẽ” nhau đến thế.

Đọc bạn và gắng tìm ra trong bạn những lấp lánh đó là chủ ý có tính định hướng của Triệu Kim Loan. Dù chỉ với một bài hay cả tập, chị luôn đọc bạn bè một cách nghiêm túc, có trách nhiệm, không hời hợt. Luôn cố gắng tìm ra những nổi trội, những độc lạ trong câu chữ hình tượng hay chí ít cũng phát hiện ra những ưu điểm, những thế mạnh trong sáng tác đáng chú ý nhất. Thơ có thể Hay hoặc chưa hay. Nhưng giữa Triệu Kim Loan với Tác giả là những bài học, những lời khuyên về sự tiếp tục hay từ bỏ. Những phát hiện- Phát hiện cho người đọc, phát hiện cả cho tác giả, chủ nhân của những câu thơ “hay đến nỗi chính mình cũng không biết rằng Hay”. Đôi khi có hơi quá. Nhưng thông cảm được. Bởi cũng là vì yêu quá đấy thôi. Lấy cái tình mà thể tất vậy. Điều này vô cùng cần thiết nhất là với những người mới cầm bút hay đã cầm bút lâu nhưng đang có những khúc mắc, những rào cản gây hoang mang hoặc chí ít là mất tự chủ, thiếu tự tin. Nó giống như công việc của người khai quặng, gạt bỏ đi những che phủ đất cát để lộ ra những tầng vỉa quặng quý. Làm được việc này Triệu Kim Loan vừa gây dựng cảm xúc cho mình từ những trang viết của bạn bè vừa thể hiện tiếng lòng của chị trước bạn và trách nhiệm của Nhà phê bình đối với người đọc. Nó giúp mở ra một suy ngẫm và nhận biết. Vừa là một sẻ chia, đồng cảm, vừa là một gợi mở, động viên. Một bàn tay tìm nắm một bàn tay trên đường gập ghềnh. Thế thôi cũng là rất quý!

Phần II của cuốn sách là tập hợp những bài kí, tản văn, trong đó đáng chú ý là những bài chị viết từ thực tế hoạt động văn học nhưng liên quan đến nghề giáo: Những buổi giao lưu, sinh hoạt ngoại khoá, kỉ niệm với đồng nghiệp. Những “Cảm nhận văn chương” lúc này không chỉ bó gọn trong những tập thơ, đóng kín không gian trên ngăn tủ sách cá nhân mỗi gia đình hay trong không khí tĩnh lặng của Thư viện mà được mở rộng tới môi trường xã hội rộng lớn, giúp bạn đọc hiểu thêm sức sống của văn chương hiện tại.

Phần thứ III, Hồi âm bạn bè về Triệu Kim Loan. Dư luận là yếu tố cần thiết tạo nên sức sống cho tác phẩm. Những trang viét của bạn bè về thơ Triệu Kim Loan còn mang một ý nghĩa khác. Trước hết đó là sự đón nhận và sau đó phần nào khẳng định về giá trị mà Thơ chị mang lại cho đời. Chị có một đội ngũ đông đảo người đọc là những học trò, những bạn đồng nghiệp. Khi viết về những kỉ niệm, những buổi giao lưu, những hoạt động văn nghệ ngoại khoá, có rất nhiều học trò và đồng nghiệp đã trở thành nhân vật của chị. Thông qua những hoạt động ấy chị truyền tình yêu và niềm tin vào văn học. Triệu Kim Loan có nhiều bạn là những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học. Họ cũng yêu mến chị, trân trọng dành cho Thơ chị những lời của tri âm, gần gụi và tâm huyết.

Có một nhận xét rất đáng để lưu tâm, đó là cái nhìn của Nhà báo, nhà thơ Bùi Phan Thảo: “Thơ Triệu Kim Loan không hướng đến sự thể nghiệm, phá cách mà thiên về những tự sự về cuộc đời qua những trải nghiệm sống, những nỗi niềm nhân sinh. Chính xác và Đủ. Nó nói được cách nhìn Thơ, cách tiếp cận Thơ và Con đường mà Triệu Kim Loan sẽ chọn để đi đến với trái tim độc giả”. Trúc Linh Lan thì phát hiện: “Thơ của Loan thường gắn với những buổi chiều…đượm buồn, u uẩn chút nhưng lắng sâu và gần gũi”. Trần Mai Hường thì khẳng định: Thơ Triệu Kim Loan “ngổn ngang, đa chiều và dồn nén … da diết, lắng sâu đến khắc khoải... đã “thả” vào thơ một bể vương mang, đợi chờ vời vợi. Niềm đợi chờ ấy luôn tỉnh thức, lạc quan và duy mỹ … luôn chân tình, dễ hiểu, tuy không giàu tính triết luận nhưng đằm thắm trong lời nhắn nhủ xa xôi và lắng đọng”. Nguyễn Bính Hồng Cầu ngoài việc chú ý chất lượng kĩ thuật, những đổi mới trong thơ Triệu Kim Loan: “tôi thích cái cảm giác bàng hoàng khi chạm vào những câu thơ trung thực, chân mộc mang hồn cốt đích thực của người viết”. Nguyên Bình lại phát hiện tinh tế “Khát vọng xanh là bình rượu nồng nàn thấm đẫm hương vị của men đời nồng cay mặn chat”… Phan Ngọc Quang đồng cảm “thích thả mình chạm vào những vần thơ khắc khoải niềm riêng rất đàn bà của chị, có xót xa, có buồn vương, tiếc nuối, có đau đớn hờn ghen nhưng không oằn oại rên xiết khổ đau”. Cù Tiến Tuất “Thơ Triệu Kim Loan là một hành trình tìm kiếm không mệt mỏi về ý nghĩa đích thực của cuộc sống”, Phạm Thị Thuý Nhài “tôi bỗng khám phá những ẩn ức, khát khao và cả những rung cảm mong manh tinh tế trong tâm hồn trong trẻo của chị…”, Nguyễn Thị Thanh Hà “chị viết thơ như xé nát gan ruột của chính mình nhưng cái kết vẫn viên mãn một miền cổ tích”. Một số người bạn học Đại học với chị như Hà Phú “Nét bút nghiêng thanh mảnh, dịu dàng lại phản chiếu tinh tế những giá trị nhân sinh về con người và cuộc sống với bao thăng trầm, góc khuất”, Bùi Kim Thông “Hồn thơ sóng sánh cảm xúc, thiết tha với cuộc đời trong cảm thức của một trái tim phụ nữ”.

Với một cuốn sách dày dặn và phong phú như CẢM NHẠN VĂN CHƯƠNG, Triệu Kim Loan đã làm được một công việc rất ý nghĩa: Tạo nên một Nhịp cầu văn học. Tất nhiên, không thể vin vào những nhận xét, lấy đó làm chuẩn mực chung, hoàn toàn chính xác cho những đánh giá có trong tập sách. Bởi nghĩ cho cùng thì đấy vẫn chỉ là ý kiến của từng cá nhân với những thân phận mang hoàn cảnh cụ thể, đứng ở những góc với hệ quy chiếu cụ thể riêng biệt. Vậy thì hãy xem đây là tấm lòng của bè bạn văn chương dành cho nhau. Thế thôi đã. Phần còn lại dành cho bạn đọc yêu quý. Bạn đang cầm trên tay cuốn sách của Triệu Kim Loan hay một tập thơ nào đấy của chị. Hãy đọc và cho ý kiến của riêng mình. Hãy cùng nhau “ Cảm nhận văn chương”, làm luồng gió mới đem hơi ấm của bạn đến với những trang sách của Triệu Kim Loan đang như chiếc chuông gió nhỏ ngóng đợi để cùng bạn làm nên thanh âm Leng Keng bé nhỏ của sự cảm thông, sẻ chia bầu bạn.

Hà Nội – Những ngày chớm Thu 2023.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm