TIN TỨC

“Cảm nhận văn chương” - Lời tự sự của chuông gió

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-22 18:12:22
mail facebook google pos stwis
1990 lượt xem

KAO SƠN

Trong một nền văn học, nhân tố đầu tiên quyết định đến sự phát triển là Nhà văn và Tác phẩm. Nhưng Độc giả lại là yếu tố quan trọng, có thể ví như không khí, như mạch máu nuôi dưỡng cơ thể. Không có độc giả thì dù nhà văn có in ra đến thiên kinh vạn quyển cũng vô ích. Và đứng ở giữa, chiếm vị trí như một cầu nối, như một chất xúc tác, làm sôi động sự vận hành, liên kết giưã Tác giả- độc giả là Nhà phê bình. Phê bình có tác động mạnh mẽ đến tâm lí, thị hiếu và sự chọn lựa của người đọc, có nhiệm vụ thẩm định, bình giá hay định hướng giá trị nhân văn, thẩm mĩ cho cộng đồng. Đồng thời, phê bình tác động trở lại chính nhà văn và hoạt động sáng tác, hoạt động xuất bản, phát hành ấn phẩm văn học.


Nhà văn Kao Sơn tại buổi giới thiệu tác phẩm mới của nhà thơ Triệu Kim Loan.

Để có một nền lí luận phê bình Văn học nghiêm túc, bài bản cần rất nhiều yếu tố: Chương trình đào tạo chính quy về lí luận cơ bản, học thuật, văn hoá, các lớp tập huấn, bồi dưỡng, các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm phê bình văn học… Một nhà phê bình thực thụ cần có cơ sở lí luận vững, có hành trang kiến thức về Mỹ học, Triết học, có am hiểu rộng về các trường phái, tôn giáo… và cùng đó là tinh thần tự học, tự mở mang thông qua các kênh kiến thức của văn học thế giới, các trường phái, các luồng tư tưởng, khác nhau…đồng thời có nhân sinh quan riêng, có khả năng tạo lập một hệ quy chiếu hợp lí cho từng vấn đề cụ thể. Ở một bình diện khác, cần quan tâm đến mặt bằng kiến thức chung của đối tượng tiếp nhận. Với độc giả phần lớn có trình độ trung bình, khó tiếp cận những vấn đề học thuật, những lí luận rối rắm mà Phê bình hàn lâm mang tới sẽ là một rào cản không nhỏ. Chính vì thế mà một thời gian dài ở nước ta, do hoàn cảnh cả về kinh tế lẫn chính trị, Lí luận- Phê bình chính thống và Hàn lâm đang ngày càng có nguy cơ bị thu hẹp.

Để cứu vãn tình trạng đó, CẢM NHẬN – Một phân nhánh của Phê bình vốn hình thành từ thông tin báo chí…. lại có cơ hội phát triển. Đơn giản là tính cập nhật nhanh, gọn, không đòi hỏi lí luận cao siêu. Cảm nhận là sự chấp nhận, động viên, chia sẻ, tạo sự đồng cảm và cổ vũ. Nó trở thành động lực tăng cường cảm hứng, nguồn doping dịu ngọt và không kém mê li cho người sáng tác. Hiện tượng này tạo ra một khối đồng minh khá đoàn kết chứ không chia mặt trận giữa người sáng tác và nhà phê bình như trước.

Tình nguyện trở thành cầu nối thân thiết giữa Tác giả với Độc giả, cả một đội ngũ đông đảo của thế hệ 6X, 7X những người mà trong sự nghiệp văn chương đã có một thời gian thử thách, đã có kinh nghiệm và độ chín nhất định sự nghiệp nhiệt tình dấn thân. Nhiều người bắt tay vào viết những bài Phê bình kiểu đó. CẢM NHẠN VĂN CHƯƠNG của Triệu Kim Loan có thể được coi là một dấu ấn mang tính tiên phong khi chị làm một tập hợp thành một cuốn sách nghiêm chỉnh trong đó phần lớn là những bài Cảm do chị và bạn bè viết. Triệu Kim Loan có thế mạnh khi viết Phê bình dưới dạng Cảm. Bởi chị cũng chính là người viết, là tác giả của nhiều bài thơ, nhiều tập thơ đồng thời cũng là người đọc. Điều đó giúp chị dễ dàng trở thành Người trong cuộc. Chị chìa bàn tay ấm mềm và dính đầy phấn trắng tinh khiết để được làm bạn đồng hành với các tác giả khác và độc giả.

Triệu Kim Loan là Thạc sỹ chuyên ngành Văn học, là giáo viên Văn nhưng khi viết phê bình chị lại tránh được sự giáo điều, tránh được những câu chữ mang tính ước lệ vốn đã trở thành nếp trong dạy và học văn học trong nhà trường. Chị cũng không bị chi phối quá nhiều về những mặc định Hàn lâm, Kinh viện hay những giăng mắc, những uẩn khúc và cả những chưa ngã ngũ mà các cuộc tranh luận học thuật vốn đầy ắp trong các bài phê bình. Chị hiểu thực trạng của Văn học nước nhà, hiểu hoàn cảnh và khả năng của bạn viết. Chị không dùng nhiều những Mỹ từ, dùng những lời có cánh để tâng bốc hay để đưa nhau vào mê lộ ảo tưởng. Câu chữ của chị là câu chữ của nhà phê bình nhưng được biểu hiện qua cái tâm của người sáng tác. Không rao giảng, không áp đặt, không viện dẫn những tai to mặt lớn, những triết gia, những tư tưởng xa vời, không lên giọng vẽ đường chỉ lối. Cứ thủ thỉ tâm tình, thoảng nhẹ như làn gió mỏng làm tung lên những leng keng ấm áp của chiếc chuông gió, vậy thôi!

Triệu Kim Loan viết cho bạn cũng là khi chị dang tìm thấy ở bạn những đồng điệu, lấy bạn làm một gợi mở hay đối tượng để thiểu và khám phá. Khi ấy chị không chỉ đơn thuần là người viết giới thiệu, một quan sát viên hay một hướng đạo. Triệu Kim Loan tự hoá thân thành người thứ hai bên cạnh người viết, như hai người bạn cày cấy ở một miền quê yên bình sau buổi từ cánh đồng về ngồi bên mép hè đất, vừa chuyền tay nhau bát nước vối vừa bàn với nhau chuyện ruộng vườn cùng bao vui buồn thất bát. Để Cảm nhận một tác phẩm Văn học thì nguồn tư liệu chính vẫn là Văn bản của nó. Nhưng Triệu Kim Loan khi viết Phê bình thường chọn những tác phẩm của bạn bè chị. Cái điểm xuất phát đầu tiên là Tình yêu. Chị yêu bạn. Thứ nữa, là bạn bè nên hiểu nhau đến từng chi tiết cả về Tác phẩm lẫn con người thực trong đời thường. Lối viết ấy sẽ giúp độc giả không chỉ hiểu về Thơ mà còn hiểu và yêu quý thông cảm với người viết. Xin lấy riêng một ví dụ Triệu Kim Loan viết về Trần Mai Hường: “Đó là một tâm hồn ngập tràn nắng gió của thiên nhiên, vừa ấm áp, đam mê thơ ca nhưng cũng đầy trắc ẩn trước những bão dông cuộc đời. Đằng sau những mật ngôn sóng sánh kia là trái tim giàu xúc cảm, một bản ngã rắn rỏi đối diện và vượt lên nghịch cảnh bằng niềm tin mãnh liệt như chính con người ngoài đời của chị... Lời thơ trăn trở, xa xót bởi tình duyên bấp bênh như một canh bạc của số phận”.  Có lẽ phải cùng có trái tim đàn bà, cùng mang thân phận đàn bà và cũng yêu, hiểu nhau lắm thì mới có thể viết được, tặng cho nhau những câu chữ chính xác đến mức “bóc mẽ” nhau đến thế.

Đọc bạn và gắng tìm ra trong bạn những lấp lánh đó là chủ ý có tính định hướng của Triệu Kim Loan. Dù chỉ với một bài hay cả tập, chị luôn đọc bạn bè một cách nghiêm túc, có trách nhiệm, không hời hợt. Luôn cố gắng tìm ra những nổi trội, những độc lạ trong câu chữ hình tượng hay chí ít cũng phát hiện ra những ưu điểm, những thế mạnh trong sáng tác đáng chú ý nhất. Thơ có thể Hay hoặc chưa hay. Nhưng giữa Triệu Kim Loan với Tác giả là những bài học, những lời khuyên về sự tiếp tục hay từ bỏ. Những phát hiện- Phát hiện cho người đọc, phát hiện cả cho tác giả, chủ nhân của những câu thơ “hay đến nỗi chính mình cũng không biết rằng Hay”. Đôi khi có hơi quá. Nhưng thông cảm được. Bởi cũng là vì yêu quá đấy thôi. Lấy cái tình mà thể tất vậy. Điều này vô cùng cần thiết nhất là với những người mới cầm bút hay đã cầm bút lâu nhưng đang có những khúc mắc, những rào cản gây hoang mang hoặc chí ít là mất tự chủ, thiếu tự tin. Nó giống như công việc của người khai quặng, gạt bỏ đi những che phủ đất cát để lộ ra những tầng vỉa quặng quý. Làm được việc này Triệu Kim Loan vừa gây dựng cảm xúc cho mình từ những trang viết của bạn bè vừa thể hiện tiếng lòng của chị trước bạn và trách nhiệm của Nhà phê bình đối với người đọc. Nó giúp mở ra một suy ngẫm và nhận biết. Vừa là một sẻ chia, đồng cảm, vừa là một gợi mở, động viên. Một bàn tay tìm nắm một bàn tay trên đường gập ghềnh. Thế thôi cũng là rất quý!

Phần II của cuốn sách là tập hợp những bài kí, tản văn, trong đó đáng chú ý là những bài chị viết từ thực tế hoạt động văn học nhưng liên quan đến nghề giáo: Những buổi giao lưu, sinh hoạt ngoại khoá, kỉ niệm với đồng nghiệp. Những “Cảm nhận văn chương” lúc này không chỉ bó gọn trong những tập thơ, đóng kín không gian trên ngăn tủ sách cá nhân mỗi gia đình hay trong không khí tĩnh lặng của Thư viện mà được mở rộng tới môi trường xã hội rộng lớn, giúp bạn đọc hiểu thêm sức sống của văn chương hiện tại.

Phần thứ III, Hồi âm bạn bè về Triệu Kim Loan. Dư luận là yếu tố cần thiết tạo nên sức sống cho tác phẩm. Những trang viét của bạn bè về thơ Triệu Kim Loan còn mang một ý nghĩa khác. Trước hết đó là sự đón nhận và sau đó phần nào khẳng định về giá trị mà Thơ chị mang lại cho đời. Chị có một đội ngũ đông đảo người đọc là những học trò, những bạn đồng nghiệp. Khi viết về những kỉ niệm, những buổi giao lưu, những hoạt động văn nghệ ngoại khoá, có rất nhiều học trò và đồng nghiệp đã trở thành nhân vật của chị. Thông qua những hoạt động ấy chị truyền tình yêu và niềm tin vào văn học. Triệu Kim Loan có nhiều bạn là những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học. Họ cũng yêu mến chị, trân trọng dành cho Thơ chị những lời của tri âm, gần gụi và tâm huyết.

Có một nhận xét rất đáng để lưu tâm, đó là cái nhìn của Nhà báo, nhà thơ Bùi Phan Thảo: “Thơ Triệu Kim Loan không hướng đến sự thể nghiệm, phá cách mà thiên về những tự sự về cuộc đời qua những trải nghiệm sống, những nỗi niềm nhân sinh. Chính xác và Đủ. Nó nói được cách nhìn Thơ, cách tiếp cận Thơ và Con đường mà Triệu Kim Loan sẽ chọn để đi đến với trái tim độc giả”. Trúc Linh Lan thì phát hiện: “Thơ của Loan thường gắn với những buổi chiều…đượm buồn, u uẩn chút nhưng lắng sâu và gần gũi”. Trần Mai Hường thì khẳng định: Thơ Triệu Kim Loan “ngổn ngang, đa chiều và dồn nén … da diết, lắng sâu đến khắc khoải... đã “thả” vào thơ một bể vương mang, đợi chờ vời vợi. Niềm đợi chờ ấy luôn tỉnh thức, lạc quan và duy mỹ … luôn chân tình, dễ hiểu, tuy không giàu tính triết luận nhưng đằm thắm trong lời nhắn nhủ xa xôi và lắng đọng”. Nguyễn Bính Hồng Cầu ngoài việc chú ý chất lượng kĩ thuật, những đổi mới trong thơ Triệu Kim Loan: “tôi thích cái cảm giác bàng hoàng khi chạm vào những câu thơ trung thực, chân mộc mang hồn cốt đích thực của người viết”. Nguyên Bình lại phát hiện tinh tế “Khát vọng xanh là bình rượu nồng nàn thấm đẫm hương vị của men đời nồng cay mặn chat”… Phan Ngọc Quang đồng cảm “thích thả mình chạm vào những vần thơ khắc khoải niềm riêng rất đàn bà của chị, có xót xa, có buồn vương, tiếc nuối, có đau đớn hờn ghen nhưng không oằn oại rên xiết khổ đau”. Cù Tiến Tuất “Thơ Triệu Kim Loan là một hành trình tìm kiếm không mệt mỏi về ý nghĩa đích thực của cuộc sống”, Phạm Thị Thuý Nhài “tôi bỗng khám phá những ẩn ức, khát khao và cả những rung cảm mong manh tinh tế trong tâm hồn trong trẻo của chị…”, Nguyễn Thị Thanh Hà “chị viết thơ như xé nát gan ruột của chính mình nhưng cái kết vẫn viên mãn một miền cổ tích”. Một số người bạn học Đại học với chị như Hà Phú “Nét bút nghiêng thanh mảnh, dịu dàng lại phản chiếu tinh tế những giá trị nhân sinh về con người và cuộc sống với bao thăng trầm, góc khuất”, Bùi Kim Thông “Hồn thơ sóng sánh cảm xúc, thiết tha với cuộc đời trong cảm thức của một trái tim phụ nữ”.

Với một cuốn sách dày dặn và phong phú như CẢM NHẠN VĂN CHƯƠNG, Triệu Kim Loan đã làm được một công việc rất ý nghĩa: Tạo nên một Nhịp cầu văn học. Tất nhiên, không thể vin vào những nhận xét, lấy đó làm chuẩn mực chung, hoàn toàn chính xác cho những đánh giá có trong tập sách. Bởi nghĩ cho cùng thì đấy vẫn chỉ là ý kiến của từng cá nhân với những thân phận mang hoàn cảnh cụ thể, đứng ở những góc với hệ quy chiếu cụ thể riêng biệt. Vậy thì hãy xem đây là tấm lòng của bè bạn văn chương dành cho nhau. Thế thôi đã. Phần còn lại dành cho bạn đọc yêu quý. Bạn đang cầm trên tay cuốn sách của Triệu Kim Loan hay một tập thơ nào đấy của chị. Hãy đọc và cho ý kiến của riêng mình. Hãy cùng nhau “ Cảm nhận văn chương”, làm luồng gió mới đem hơi ấm của bạn đến với những trang sách của Triệu Kim Loan đang như chiếc chuông gió nhỏ ngóng đợi để cùng bạn làm nên thanh âm Leng Keng bé nhỏ của sự cảm thông, sẻ chia bầu bạn.

Hà Nội – Những ngày chớm Thu 2023.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm