TIN TỨC

“Cảm nhận văn chương” - Lời tự sự của chuông gió

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-22 18:12:22
mail facebook google pos stwis
1900 lượt xem

KAO SƠN

Trong một nền văn học, nhân tố đầu tiên quyết định đến sự phát triển là Nhà văn và Tác phẩm. Nhưng Độc giả lại là yếu tố quan trọng, có thể ví như không khí, như mạch máu nuôi dưỡng cơ thể. Không có độc giả thì dù nhà văn có in ra đến thiên kinh vạn quyển cũng vô ích. Và đứng ở giữa, chiếm vị trí như một cầu nối, như một chất xúc tác, làm sôi động sự vận hành, liên kết giưã Tác giả- độc giả là Nhà phê bình. Phê bình có tác động mạnh mẽ đến tâm lí, thị hiếu và sự chọn lựa của người đọc, có nhiệm vụ thẩm định, bình giá hay định hướng giá trị nhân văn, thẩm mĩ cho cộng đồng. Đồng thời, phê bình tác động trở lại chính nhà văn và hoạt động sáng tác, hoạt động xuất bản, phát hành ấn phẩm văn học.


Nhà văn Kao Sơn tại buổi giới thiệu tác phẩm mới của nhà thơ Triệu Kim Loan.

Để có một nền lí luận phê bình Văn học nghiêm túc, bài bản cần rất nhiều yếu tố: Chương trình đào tạo chính quy về lí luận cơ bản, học thuật, văn hoá, các lớp tập huấn, bồi dưỡng, các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm phê bình văn học… Một nhà phê bình thực thụ cần có cơ sở lí luận vững, có hành trang kiến thức về Mỹ học, Triết học, có am hiểu rộng về các trường phái, tôn giáo… và cùng đó là tinh thần tự học, tự mở mang thông qua các kênh kiến thức của văn học thế giới, các trường phái, các luồng tư tưởng, khác nhau…đồng thời có nhân sinh quan riêng, có khả năng tạo lập một hệ quy chiếu hợp lí cho từng vấn đề cụ thể. Ở một bình diện khác, cần quan tâm đến mặt bằng kiến thức chung của đối tượng tiếp nhận. Với độc giả phần lớn có trình độ trung bình, khó tiếp cận những vấn đề học thuật, những lí luận rối rắm mà Phê bình hàn lâm mang tới sẽ là một rào cản không nhỏ. Chính vì thế mà một thời gian dài ở nước ta, do hoàn cảnh cả về kinh tế lẫn chính trị, Lí luận- Phê bình chính thống và Hàn lâm đang ngày càng có nguy cơ bị thu hẹp.

Để cứu vãn tình trạng đó, CẢM NHẬN – Một phân nhánh của Phê bình vốn hình thành từ thông tin báo chí…. lại có cơ hội phát triển. Đơn giản là tính cập nhật nhanh, gọn, không đòi hỏi lí luận cao siêu. Cảm nhận là sự chấp nhận, động viên, chia sẻ, tạo sự đồng cảm và cổ vũ. Nó trở thành động lực tăng cường cảm hứng, nguồn doping dịu ngọt và không kém mê li cho người sáng tác. Hiện tượng này tạo ra một khối đồng minh khá đoàn kết chứ không chia mặt trận giữa người sáng tác và nhà phê bình như trước.

Tình nguyện trở thành cầu nối thân thiết giữa Tác giả với Độc giả, cả một đội ngũ đông đảo của thế hệ 6X, 7X những người mà trong sự nghiệp văn chương đã có một thời gian thử thách, đã có kinh nghiệm và độ chín nhất định sự nghiệp nhiệt tình dấn thân. Nhiều người bắt tay vào viết những bài Phê bình kiểu đó. CẢM NHẠN VĂN CHƯƠNG của Triệu Kim Loan có thể được coi là một dấu ấn mang tính tiên phong khi chị làm một tập hợp thành một cuốn sách nghiêm chỉnh trong đó phần lớn là những bài Cảm do chị và bạn bè viết. Triệu Kim Loan có thế mạnh khi viết Phê bình dưới dạng Cảm. Bởi chị cũng chính là người viết, là tác giả của nhiều bài thơ, nhiều tập thơ đồng thời cũng là người đọc. Điều đó giúp chị dễ dàng trở thành Người trong cuộc. Chị chìa bàn tay ấm mềm và dính đầy phấn trắng tinh khiết để được làm bạn đồng hành với các tác giả khác và độc giả.

Triệu Kim Loan là Thạc sỹ chuyên ngành Văn học, là giáo viên Văn nhưng khi viết phê bình chị lại tránh được sự giáo điều, tránh được những câu chữ mang tính ước lệ vốn đã trở thành nếp trong dạy và học văn học trong nhà trường. Chị cũng không bị chi phối quá nhiều về những mặc định Hàn lâm, Kinh viện hay những giăng mắc, những uẩn khúc và cả những chưa ngã ngũ mà các cuộc tranh luận học thuật vốn đầy ắp trong các bài phê bình. Chị hiểu thực trạng của Văn học nước nhà, hiểu hoàn cảnh và khả năng của bạn viết. Chị không dùng nhiều những Mỹ từ, dùng những lời có cánh để tâng bốc hay để đưa nhau vào mê lộ ảo tưởng. Câu chữ của chị là câu chữ của nhà phê bình nhưng được biểu hiện qua cái tâm của người sáng tác. Không rao giảng, không áp đặt, không viện dẫn những tai to mặt lớn, những triết gia, những tư tưởng xa vời, không lên giọng vẽ đường chỉ lối. Cứ thủ thỉ tâm tình, thoảng nhẹ như làn gió mỏng làm tung lên những leng keng ấm áp của chiếc chuông gió, vậy thôi!

Triệu Kim Loan viết cho bạn cũng là khi chị dang tìm thấy ở bạn những đồng điệu, lấy bạn làm một gợi mở hay đối tượng để thiểu và khám phá. Khi ấy chị không chỉ đơn thuần là người viết giới thiệu, một quan sát viên hay một hướng đạo. Triệu Kim Loan tự hoá thân thành người thứ hai bên cạnh người viết, như hai người bạn cày cấy ở một miền quê yên bình sau buổi từ cánh đồng về ngồi bên mép hè đất, vừa chuyền tay nhau bát nước vối vừa bàn với nhau chuyện ruộng vườn cùng bao vui buồn thất bát. Để Cảm nhận một tác phẩm Văn học thì nguồn tư liệu chính vẫn là Văn bản của nó. Nhưng Triệu Kim Loan khi viết Phê bình thường chọn những tác phẩm của bạn bè chị. Cái điểm xuất phát đầu tiên là Tình yêu. Chị yêu bạn. Thứ nữa, là bạn bè nên hiểu nhau đến từng chi tiết cả về Tác phẩm lẫn con người thực trong đời thường. Lối viết ấy sẽ giúp độc giả không chỉ hiểu về Thơ mà còn hiểu và yêu quý thông cảm với người viết. Xin lấy riêng một ví dụ Triệu Kim Loan viết về Trần Mai Hường: “Đó là một tâm hồn ngập tràn nắng gió của thiên nhiên, vừa ấm áp, đam mê thơ ca nhưng cũng đầy trắc ẩn trước những bão dông cuộc đời. Đằng sau những mật ngôn sóng sánh kia là trái tim giàu xúc cảm, một bản ngã rắn rỏi đối diện và vượt lên nghịch cảnh bằng niềm tin mãnh liệt như chính con người ngoài đời của chị... Lời thơ trăn trở, xa xót bởi tình duyên bấp bênh như một canh bạc của số phận”.  Có lẽ phải cùng có trái tim đàn bà, cùng mang thân phận đàn bà và cũng yêu, hiểu nhau lắm thì mới có thể viết được, tặng cho nhau những câu chữ chính xác đến mức “bóc mẽ” nhau đến thế.

Đọc bạn và gắng tìm ra trong bạn những lấp lánh đó là chủ ý có tính định hướng của Triệu Kim Loan. Dù chỉ với một bài hay cả tập, chị luôn đọc bạn bè một cách nghiêm túc, có trách nhiệm, không hời hợt. Luôn cố gắng tìm ra những nổi trội, những độc lạ trong câu chữ hình tượng hay chí ít cũng phát hiện ra những ưu điểm, những thế mạnh trong sáng tác đáng chú ý nhất. Thơ có thể Hay hoặc chưa hay. Nhưng giữa Triệu Kim Loan với Tác giả là những bài học, những lời khuyên về sự tiếp tục hay từ bỏ. Những phát hiện- Phát hiện cho người đọc, phát hiện cả cho tác giả, chủ nhân của những câu thơ “hay đến nỗi chính mình cũng không biết rằng Hay”. Đôi khi có hơi quá. Nhưng thông cảm được. Bởi cũng là vì yêu quá đấy thôi. Lấy cái tình mà thể tất vậy. Điều này vô cùng cần thiết nhất là với những người mới cầm bút hay đã cầm bút lâu nhưng đang có những khúc mắc, những rào cản gây hoang mang hoặc chí ít là mất tự chủ, thiếu tự tin. Nó giống như công việc của người khai quặng, gạt bỏ đi những che phủ đất cát để lộ ra những tầng vỉa quặng quý. Làm được việc này Triệu Kim Loan vừa gây dựng cảm xúc cho mình từ những trang viết của bạn bè vừa thể hiện tiếng lòng của chị trước bạn và trách nhiệm của Nhà phê bình đối với người đọc. Nó giúp mở ra một suy ngẫm và nhận biết. Vừa là một sẻ chia, đồng cảm, vừa là một gợi mở, động viên. Một bàn tay tìm nắm một bàn tay trên đường gập ghềnh. Thế thôi cũng là rất quý!

Phần II của cuốn sách là tập hợp những bài kí, tản văn, trong đó đáng chú ý là những bài chị viết từ thực tế hoạt động văn học nhưng liên quan đến nghề giáo: Những buổi giao lưu, sinh hoạt ngoại khoá, kỉ niệm với đồng nghiệp. Những “Cảm nhận văn chương” lúc này không chỉ bó gọn trong những tập thơ, đóng kín không gian trên ngăn tủ sách cá nhân mỗi gia đình hay trong không khí tĩnh lặng của Thư viện mà được mở rộng tới môi trường xã hội rộng lớn, giúp bạn đọc hiểu thêm sức sống của văn chương hiện tại.

Phần thứ III, Hồi âm bạn bè về Triệu Kim Loan. Dư luận là yếu tố cần thiết tạo nên sức sống cho tác phẩm. Những trang viét của bạn bè về thơ Triệu Kim Loan còn mang một ý nghĩa khác. Trước hết đó là sự đón nhận và sau đó phần nào khẳng định về giá trị mà Thơ chị mang lại cho đời. Chị có một đội ngũ đông đảo người đọc là những học trò, những bạn đồng nghiệp. Khi viết về những kỉ niệm, những buổi giao lưu, những hoạt động văn nghệ ngoại khoá, có rất nhiều học trò và đồng nghiệp đã trở thành nhân vật của chị. Thông qua những hoạt động ấy chị truyền tình yêu và niềm tin vào văn học. Triệu Kim Loan có nhiều bạn là những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học. Họ cũng yêu mến chị, trân trọng dành cho Thơ chị những lời của tri âm, gần gụi và tâm huyết.

Có một nhận xét rất đáng để lưu tâm, đó là cái nhìn của Nhà báo, nhà thơ Bùi Phan Thảo: “Thơ Triệu Kim Loan không hướng đến sự thể nghiệm, phá cách mà thiên về những tự sự về cuộc đời qua những trải nghiệm sống, những nỗi niềm nhân sinh. Chính xác và Đủ. Nó nói được cách nhìn Thơ, cách tiếp cận Thơ và Con đường mà Triệu Kim Loan sẽ chọn để đi đến với trái tim độc giả”. Trúc Linh Lan thì phát hiện: “Thơ của Loan thường gắn với những buổi chiều…đượm buồn, u uẩn chút nhưng lắng sâu và gần gũi”. Trần Mai Hường thì khẳng định: Thơ Triệu Kim Loan “ngổn ngang, đa chiều và dồn nén … da diết, lắng sâu đến khắc khoải... đã “thả” vào thơ một bể vương mang, đợi chờ vời vợi. Niềm đợi chờ ấy luôn tỉnh thức, lạc quan và duy mỹ … luôn chân tình, dễ hiểu, tuy không giàu tính triết luận nhưng đằm thắm trong lời nhắn nhủ xa xôi và lắng đọng”. Nguyễn Bính Hồng Cầu ngoài việc chú ý chất lượng kĩ thuật, những đổi mới trong thơ Triệu Kim Loan: “tôi thích cái cảm giác bàng hoàng khi chạm vào những câu thơ trung thực, chân mộc mang hồn cốt đích thực của người viết”. Nguyên Bình lại phát hiện tinh tế “Khát vọng xanh là bình rượu nồng nàn thấm đẫm hương vị của men đời nồng cay mặn chat”… Phan Ngọc Quang đồng cảm “thích thả mình chạm vào những vần thơ khắc khoải niềm riêng rất đàn bà của chị, có xót xa, có buồn vương, tiếc nuối, có đau đớn hờn ghen nhưng không oằn oại rên xiết khổ đau”. Cù Tiến Tuất “Thơ Triệu Kim Loan là một hành trình tìm kiếm không mệt mỏi về ý nghĩa đích thực của cuộc sống”, Phạm Thị Thuý Nhài “tôi bỗng khám phá những ẩn ức, khát khao và cả những rung cảm mong manh tinh tế trong tâm hồn trong trẻo của chị…”, Nguyễn Thị Thanh Hà “chị viết thơ như xé nát gan ruột của chính mình nhưng cái kết vẫn viên mãn một miền cổ tích”. Một số người bạn học Đại học với chị như Hà Phú “Nét bút nghiêng thanh mảnh, dịu dàng lại phản chiếu tinh tế những giá trị nhân sinh về con người và cuộc sống với bao thăng trầm, góc khuất”, Bùi Kim Thông “Hồn thơ sóng sánh cảm xúc, thiết tha với cuộc đời trong cảm thức của một trái tim phụ nữ”.

Với một cuốn sách dày dặn và phong phú như CẢM NHẠN VĂN CHƯƠNG, Triệu Kim Loan đã làm được một công việc rất ý nghĩa: Tạo nên một Nhịp cầu văn học. Tất nhiên, không thể vin vào những nhận xét, lấy đó làm chuẩn mực chung, hoàn toàn chính xác cho những đánh giá có trong tập sách. Bởi nghĩ cho cùng thì đấy vẫn chỉ là ý kiến của từng cá nhân với những thân phận mang hoàn cảnh cụ thể, đứng ở những góc với hệ quy chiếu cụ thể riêng biệt. Vậy thì hãy xem đây là tấm lòng của bè bạn văn chương dành cho nhau. Thế thôi đã. Phần còn lại dành cho bạn đọc yêu quý. Bạn đang cầm trên tay cuốn sách của Triệu Kim Loan hay một tập thơ nào đấy của chị. Hãy đọc và cho ý kiến của riêng mình. Hãy cùng nhau “ Cảm nhận văn chương”, làm luồng gió mới đem hơi ấm của bạn đến với những trang sách của Triệu Kim Loan đang như chiếc chuông gió nhỏ ngóng đợi để cùng bạn làm nên thanh âm Leng Keng bé nhỏ của sự cảm thông, sẻ chia bầu bạn.

Hà Nội – Những ngày chớm Thu 2023.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm