TIN TỨC

Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-12 18:24:02
mail facebook google pos stwis
414 lượt xem

NGUYỄN VĂN LUYỆN

Nguyễn Khải là gương mặt lớn của văn xuôi Việt Nam hiện đại, ngòi bút được mệnh danh là "nhà văn của những vấn đề thế sự".

 

“Nếp nhà” của Nguyễn Khải không chỉ là một câu chuyện về gìn giữ gia phong, mà thực sự là áng văn chương giàu chất thơ và đậm tính nhân văn. Ảnh: ITN.

 

Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.

“Nếp nhà” là một truyện ngắn kết tinh trọn vẹn phong cách ấy của Nguyễn Khải trong giai đoạn sau năm 1975. Đọc “Nếp nhà”, người ta không chỉ thấy một bức tranh hiện thực về sự va đập giữa kinh tế thị trường và đạo đức truyền thống, mà còn cảm nhận được một luồng sinh khí ấm áp, một vẻ đẹp lấp lánh của văn hóa ứng xử.

Tác phẩm xứng đáng được coi là một “áng văn vời vợi chất thơ”, chất thơ không nằm ở vần điệu, mà toát lên từ cảnh sắc thiên nhiên, từ cốt cách con người và từ chính giọng văn tài hoa, uyên bác của tác giả.

 

Khúc giao hưởng của đất trời và lòng người

Chất thơ đầu tiên và dễ nhận thấy nhất trong “Nếp nhà” chính là bức tranh thiên nhiên và không gian Hà Nội vào xuân. Nguyễn Khải vốn là người quan sát tinh tế, ông không miêu tả dông dài mà chỉ cần vài nét chấm phá đã gợi lên được cái “hồn vía” của đất kinh kỳ.

Mùa Xuân trong trang văn Nguyễn Khải hiện lên với những đặc trưng không thể trộn lẫn: “Một chút lạnh trong hơi gió tạt qua mặt. Một chút mưa bụi bay lây rây như có như không”. Câu văn nhẹ tênh, gợi cảm giác mơ hồ, hư ảo của khí trời miền Bắc dịp đầu năm.

Cái “mưa bụi bay lây rây” ấy chính là chất xúc tác để làm mềm đi những góc cạnh sắc nhọn của đời sống đô thị, phủ lên phố phường một lớp màn sương khói lãng mạn. Trong không gian ấy, màu sắc và âm thanh cũng trở nên thi vị hơn. Mặc dù “trời hơi tối, mặt đường hơi sẫm” nhưng sự sống con người lại bừng tỉnh: “Mặt người và quần áo rét họ mặc cứ sáng bừng lên những mầu sắc tươi tắn”.

Đây là một phát hiện tinh tế mang đậm nhãn quan hội họa. Trên cái nền trầm mặc, cổ kính của phố xá rêu phong, con người hiện diện như những điểm sáng, tạo nên sức sống và niềm tin yêu cho mùa Xuân.

Không chỉ có hình ảnh, chất thơ của mùa Xuân Hà Nội còn được cảm nhận qua khứu giác và thính giác. Đó là “mùi son phấn và nước hoa bất chợt thoảng qua ở một góc phố”, gợi lên vẻ thanh lịch, kiêu sa của người Tràng An.

Đó là sự thay đổi trong âm sắc của tiếng nói cười: “Nói nhỏ đi, cười nhỏ hơn, ít nghe những câu chửi tục, những tiếng đệm tục”. Dường như, vẻ đẹp của thiên nhiên đã cảm hóa lòng người, khiến con người ta muốn sống đẹp hơn, cư xử nhẹ nhàng hơn để xứng đáng với mùa Xuân.

Đặc biệt, đoạn văn miêu tả buổi sáng sau đêm mưa là một đoạn văn xuôi giàu nhạc điệu như thơ: “Sáng ra tất cả đã ráo khô, mảnh sân trắng toát, hè nhà trắng toát, trời khô và lạnh. Cái lạnh của mùa Xuân thật dịu dàng, thở rất dễ, người rất nhẹ...”.

Những từ ngữ như “trắng toát”, “dịu dàng”, “người rất nhẹ” diễn tả trạng thái thanh lọc hoàn toàn của tâm hồn. Nhân vật “tôi” đạp xe giữa phố phường, cảm thấy “nhìn vào cái gì cũng đẹp”.

Chất thơ ở đây không chỉ là vẻ đẹp khách quan của ngoại cảnh, mà là sự giao hòa tuyệt đối giữa tâm hồn nghệ sĩ và thiên nhiên, là khoảnh khắc con người rũ bỏ mọi lo toan thế tục để tận hưởng sự bình yên hiếm hoi. Chính cái nền cảnh thơ mộng này đã làm tôn lên vẻ đẹp vững chãi, thâm trầm của “nếp nhà” mà tác giả sắp nói tới.

 

Bản lĩnh văn hóa trước dòng xoáy kim tiền

 

Nhà văn Nguyễn Khải. Ảnh: ITN

 

Nếu chất thơ của thiên nhiên là vẻ đẹp hữu hình, thì chất thơ của “nếp nhà” là vẻ đẹp vô hình, lẩn khuất trong nếp sống, nếp nghĩ, là sự “kháng cự” đầy kiêu hãnh của văn hóa trước sự xâm lăng của vật chất. Giữa một xã hội đang lên cơn sốt đất đai, khi ngôi nhà mặt phố nhìn ra hồ Hoàn Kiếm được định giá “triệu đô”, sự tồn tại của gia đình bà cô là một hiện tượng lạ, thậm chí bị coi là “gàn”.

Nhưng chính cái sự “gàn” ấy lại tạo nên chất thơ của một nhân cách lớn. Chất thơ ấy toát lên từ sự bình thản, ung dung tự tại. Trong khi thiên hạ “chia ra” để kiếm lợi, thì bà cụ lại “gom vào” để giữ tình. Một đại gia đình bốn thế hệ, đông đúc nhưng “vẫn rất êm thấm”, không có tiếng cãi vã, không có sự tranh giành. Đó là một vẻ đẹp ngỡ như cổ tích giữa thời hiện đại đầy biến động.

Chất thơ của nếp nhà còn thể hiện ở sự chiến thắng của tình người đối với cái tôi cá nhân vị kỷ. Câu chuyện về mối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu trong tác phẩm là một ví dụ điển hình.

Cô con dâu là gái Hàng Bồ, sắc sảo, đỗ đại học, còn bà mẹ chồng thì thông tuệ, nghiêm khắc. Hai người đàn bà “cùng sắc sảo” ấy sống chung mười lăm năm không một lời điều tiếng. Điều gì tạo nên sự hòa hợp diệu kỳ ấy? Đó là nhờ triết lý sống đầy nhân văn và cũng rất đỗi thơ mộng: “Mỗi bên chịu một nửa”.

Chữ “chịu” ở đây không phải là cam chịu nhẫn nhục, mà là sự thấu hiểu, nhường nhịn và tôn trọng. Bà cô coi con dâu là “vàng trời cho”, một cách ví von vừa trân trọng vừa thấm đẫm tình người. Cách ứng xử ấy đẹp như một bài thơ về đạo lý, về nghệ thuật “đắc nhân tâm” mà không sách vở nào dạy hết được.

Hơn thế nữa, chất thơ của nếp nhà còn nằm trong sự thanh sạch, liêm khiết. Gia đình ấy sống giữa lòng Thủ đô sầm uất nhưng lại giữ được sự tĩnh lặng trong tâm hồn. Họ “không cầu gặp may mắn, không săn đón may mắn. Họ chỉ nhận những cái đáng nhận”. Họ từ chối những đồng tiền dễ dãi, từ chối bán rẻ lương tâm (như việc bà cô từ chối in sách kiếm lời vì sai nguyên tắc, từ chối bán nhà giá cao).

Trong ngôi nhà ấy, “ba đời nay, không một ai biết tới câu mày, câu tao”. Chi tiết này nhỏ nhưng lại có sức gợi lớn. Nó cho thấy một bầu không khí văn hóa đậm đặc, nơi lời ăn tiếng nói được chắt lọc, gìn giữ như ngọc quý. Đó là chất thơ của sự lịch duyệt, của một phong thái sống quý tộc - quý tộc về tinh thần chứ không phải vật chất.

 

“Túi khôn” và trái tim mênh mông

Linh hồn của “nếp nhà” và cũng là nơi kết tụ chất thơ sâu lắng nhất của tác phẩm, chính là nhân vật bà cô. Ở tuổi tám mươi, bà hiện lên đẹp lão, minh mẫn và hiền triết như một bà tiên trong cổ tích đời thường. Chất thơ trong tâm hồn người mẹ này trước hết là sự hòa quyện giữa một “cái đầu lạnh” và một “trái tim nóng”.

Bà lạnh lùng, tỉnh táo trước sự cám dỗ của đồng tiền. Bà nhìn thấu bản chất của những kẻ giàu xổi, những kẻ “khinh người rẻ của”, coi tiền là “đội quân giặc cướp”. Những triết lý của bà về đồng tiền mang đầy màu sắc chiêm nghiệm và hình ảnh, nghe như những câu sấm truyền: “Bàn tay thương vợ, bàn tay yêu con, bàn tay nắm bàn tay của bạn bè đếm mãi tiền nhiễm độc lúc nào không hay, sẽ không còn là bàn tay của người nữa”.

Hình ảnh “tiền nhiễm độc” và “bàn tay không còn là của người” là những ẩn dụ rợn người nhưng đầy tính nhân văn, thể hiện nỗi lo âu sâu sắc của một người mẹ muốn bảo vệ tính người cho con cháu. Đó là chất thơ của tình mẫu tử lớn lao, vượt lên trên sự bao bọc vật chất thông thường để hướng tới sự bảo trợ về linh hồn.

Vẻ đẹp tâm hồn bà còn tỏa sáng trong bản di chúc, một văn bản thường khô khan pháp lý nhưng ở đây lại thấm đẫm tình thương và trí tuệ. Bà chia tài sản làm sáu phần đều nhau, không phân biệt trai gái, trưởng thứ. Bà dành phần lớn tài sản cho việc “hương khói”, “tu bổ nhà thờ”, “cấp đỡ cho bà con nghèo”.

Hành động này không chỉ là sự công bằng, mà còn là cách bà dùng vật chất để nuôi dưỡng tinh thần, buộc con cháu phải gắn kết với nhau, với tổ tiên và dòng họ. Bà muốn dùng “gia pháp” để “dưỡng thiện diệt ác”.

Sự lo toan, sắp đặt của bà cho tương lai, ngay cả khi mình đã khuất núi, là biểu hiện cao nhất của sự hy sinh và trách nhiệm. Hình ảnh người mẹ già ngồi tính toán chia của sao cho “trai gái dâu rể mãi mãi là con của mình, mãi mãi là anh em ruột thịt của nhau” gợi lên một niềm xúc động rưng rưng.

Đó là chất thơ bi tráng của người “cầm lái” con thuyền gia đình trước sóng gió cuộc đời. Nguyễn Khải đã khắc họa bà cô không phải bằng những lời ca tụng sáo rỗng mà bằng sự kính trọng sâu sắc. Bà là hiện thân của vẻ đẹp truyền thống Việt Nam: Kiên định nhưng mềm mỏng, nguyên tắc nhưng giàu lòng trắc ẩn. Bà chính là “bài thơ” sống động nhất, đẹp đẽ nhất mà nhân vật “tôi” may mắn được đọc và chiêm nghiệm.

 

Dấu ấn tài hoa của văn phong Nguyễn Khải

Để làm nên thành công của “Nếp nhà”, không thể không nhắc đến nghệ thuật ngôn từ và giọng điệu trần thuật đầy chất thơ của Nguyễn Khải. Truyện ngắn được kể ở ngôi thứ nhất (“tôi”), tạo nên sự gần gũi, chân thực như một lời tâm tình, thủ thỉ. Giọng điệu của Nguyễn Khải trong tác phẩm này rất đặc biệt: Vừa hóm hỉnh, sắc sảo, vừa trầm tư, triết lý.

Ông sử dụng ngôn ngữ đời thường nhưng được trau chuốt kỹ lưỡng, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Những câu văn triết lý không khô cứng mà mềm mại, thấm thía: “Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin. Nó là cách sống...”. Lời văn như những giọt nước mát lành thấm sâu vào lòng người đọc, buộc người ta phải dừng lại để suy ngẫm.

Nguyễn Khải cũng rất tài tình trong việc tạo dựng các hình ảnh tương phản để làm nổi bật chất thơ. Ông đặt vẻ đẹp tĩnh lặng, cổ kính của nếp nhà bà cô bên cạnh sự ồn ào, xô bồ của phố xá thời mở cửa. Ông đặt sự thanh lịch của người Tràng An bên cạnh những hành vi thô lỗ, “rác rưởi” của một bộ phận người mới.

Cái kết của truyện là một ví dụ tiêu biểu cho phong cách “vừa thơ vừa thực” của Nguyễn Khải. Giữa khung cảnh mùa Xuân đẹp như mơ, tiếng hét “Chạy lộn đường rồi! Văn Điển đi lối kia cụ ơi!” của gã thanh niên đi xe Dream vang lên chát chúa. Đó là một nốt nhạc lạc điệu, một “hạt sạn” cố ý.

Nhưng chính nhờ hạt sạn ấy, người đọc càng thêm trân trọng vẻ đẹp mong manh của “nếp nhà”, càng thấy xót xa và yêu thương hơn những giá trị văn hóa đang có nguy cơ mai một. Lời bình luận cuối cùng của nhân vật “tôi”: “Chớ có ngạc nhiên! Rác của Hà Nội đấy!” là một tiếng cười chua chát, một cái lắc đầu ngao ngán, nhưng cũng là một lời cảnh tỉnh đầy trách nhiệm của người nghệ sĩ.

Chất thơ trong văn Nguyễn Khải còn nằm ở sự điềm tĩnh. Ông không lên gân, không phán xét gay gắt. Ông chỉ kể, chỉ tả, và để cho sự thật tự cất lên tiếng nói. Cái nhìn bao dung, độ lượng của người từng trải (“Một chân đã thõng vào cõi hư vô rồi thì không nên bắt đầu bất cứ việc gì nữa... Chỉ còn đủ thời gian để làm lành”) khiến cho trang văn trở nên nhẹ nhõm, thanh thoát, mang đậm phong vị thiền.

“Nếp nhà” của Nguyễn Khải không chỉ là một câu chuyện về gìn giữ gia phong, mà thực sự là một áng văn chương giàu chất thơ và đậm tính nhân văn. Chất thơ ấy được dệt nên từ những sợi tơ óng ả của mùa Xuân Hà Nội, từ sự bền bỉ của những giá trị đạo đức truyền thống, từ tâm hồn cao cả của người mẹ, và từ chính tài năng ngôn ngữ bậc thầy của nhà văn.

Qua tác phẩm, Nguyễn Khải đã gửi gắm thông điệp sâu sắc: Trong cơn lốc của kinh tế thị trường, tiền bạc có thể kiếm được, nhà lầu xe hơi có thể mua được, nhưng một “nếp nhà”, một không gian văn hóa thấm đẫm tình người thì phải vun đắp qua nhiều thế hệ mới có được.

Giữ được nếp nhà chính là giữ được cái gốc làm người, là giữ được chất thơ cho cuộc sống vốn dĩ nhiều văn xuôi và bụi bặm này. “Nếp nhà” vì thế sẽ còn mãi giá trị, như một lời nhắc nhở ân cần về hạnh phúc đích thực giữa dòng đời vạn biến. Xuân vui đang gõ cửa, mong sao giữa dòng đời muôn nẻo, nhân gian hãy giữ trọn cho mình “Nếp nhà”, giữ được lối về giữa muôn kiếp nhân sinh.

N.V.L

Nguồn: Báo Giáo dục và Thời đại

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm