TIN TỨC

Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-12 18:24:02
mail facebook google pos stwis
753 lượt xem

NGUYỄN VĂN LUYỆN

Nguyễn Khải là gương mặt lớn của văn xuôi Việt Nam hiện đại, ngòi bút được mệnh danh là "nhà văn của những vấn đề thế sự".

 

“Nếp nhà” của Nguyễn Khải không chỉ là một câu chuyện về gìn giữ gia phong, mà thực sự là áng văn chương giàu chất thơ và đậm tính nhân văn. Ảnh: ITN.

 

Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.

“Nếp nhà” là một truyện ngắn kết tinh trọn vẹn phong cách ấy của Nguyễn Khải trong giai đoạn sau năm 1975. Đọc “Nếp nhà”, người ta không chỉ thấy một bức tranh hiện thực về sự va đập giữa kinh tế thị trường và đạo đức truyền thống, mà còn cảm nhận được một luồng sinh khí ấm áp, một vẻ đẹp lấp lánh của văn hóa ứng xử.

Tác phẩm xứng đáng được coi là một “áng văn vời vợi chất thơ”, chất thơ không nằm ở vần điệu, mà toát lên từ cảnh sắc thiên nhiên, từ cốt cách con người và từ chính giọng văn tài hoa, uyên bác của tác giả.

 

Khúc giao hưởng của đất trời và lòng người

Chất thơ đầu tiên và dễ nhận thấy nhất trong “Nếp nhà” chính là bức tranh thiên nhiên và không gian Hà Nội vào xuân. Nguyễn Khải vốn là người quan sát tinh tế, ông không miêu tả dông dài mà chỉ cần vài nét chấm phá đã gợi lên được cái “hồn vía” của đất kinh kỳ.

Mùa Xuân trong trang văn Nguyễn Khải hiện lên với những đặc trưng không thể trộn lẫn: “Một chút lạnh trong hơi gió tạt qua mặt. Một chút mưa bụi bay lây rây như có như không”. Câu văn nhẹ tênh, gợi cảm giác mơ hồ, hư ảo của khí trời miền Bắc dịp đầu năm.

Cái “mưa bụi bay lây rây” ấy chính là chất xúc tác để làm mềm đi những góc cạnh sắc nhọn của đời sống đô thị, phủ lên phố phường một lớp màn sương khói lãng mạn. Trong không gian ấy, màu sắc và âm thanh cũng trở nên thi vị hơn. Mặc dù “trời hơi tối, mặt đường hơi sẫm” nhưng sự sống con người lại bừng tỉnh: “Mặt người và quần áo rét họ mặc cứ sáng bừng lên những mầu sắc tươi tắn”.

Đây là một phát hiện tinh tế mang đậm nhãn quan hội họa. Trên cái nền trầm mặc, cổ kính của phố xá rêu phong, con người hiện diện như những điểm sáng, tạo nên sức sống và niềm tin yêu cho mùa Xuân.

Không chỉ có hình ảnh, chất thơ của mùa Xuân Hà Nội còn được cảm nhận qua khứu giác và thính giác. Đó là “mùi son phấn và nước hoa bất chợt thoảng qua ở một góc phố”, gợi lên vẻ thanh lịch, kiêu sa của người Tràng An.

Đó là sự thay đổi trong âm sắc của tiếng nói cười: “Nói nhỏ đi, cười nhỏ hơn, ít nghe những câu chửi tục, những tiếng đệm tục”. Dường như, vẻ đẹp của thiên nhiên đã cảm hóa lòng người, khiến con người ta muốn sống đẹp hơn, cư xử nhẹ nhàng hơn để xứng đáng với mùa Xuân.

Đặc biệt, đoạn văn miêu tả buổi sáng sau đêm mưa là một đoạn văn xuôi giàu nhạc điệu như thơ: “Sáng ra tất cả đã ráo khô, mảnh sân trắng toát, hè nhà trắng toát, trời khô và lạnh. Cái lạnh của mùa Xuân thật dịu dàng, thở rất dễ, người rất nhẹ...”.

Những từ ngữ như “trắng toát”, “dịu dàng”, “người rất nhẹ” diễn tả trạng thái thanh lọc hoàn toàn của tâm hồn. Nhân vật “tôi” đạp xe giữa phố phường, cảm thấy “nhìn vào cái gì cũng đẹp”.

Chất thơ ở đây không chỉ là vẻ đẹp khách quan của ngoại cảnh, mà là sự giao hòa tuyệt đối giữa tâm hồn nghệ sĩ và thiên nhiên, là khoảnh khắc con người rũ bỏ mọi lo toan thế tục để tận hưởng sự bình yên hiếm hoi. Chính cái nền cảnh thơ mộng này đã làm tôn lên vẻ đẹp vững chãi, thâm trầm của “nếp nhà” mà tác giả sắp nói tới.

 

Bản lĩnh văn hóa trước dòng xoáy kim tiền

 

Nhà văn Nguyễn Khải. Ảnh: ITN

 

Nếu chất thơ của thiên nhiên là vẻ đẹp hữu hình, thì chất thơ của “nếp nhà” là vẻ đẹp vô hình, lẩn khuất trong nếp sống, nếp nghĩ, là sự “kháng cự” đầy kiêu hãnh của văn hóa trước sự xâm lăng của vật chất. Giữa một xã hội đang lên cơn sốt đất đai, khi ngôi nhà mặt phố nhìn ra hồ Hoàn Kiếm được định giá “triệu đô”, sự tồn tại của gia đình bà cô là một hiện tượng lạ, thậm chí bị coi là “gàn”.

Nhưng chính cái sự “gàn” ấy lại tạo nên chất thơ của một nhân cách lớn. Chất thơ ấy toát lên từ sự bình thản, ung dung tự tại. Trong khi thiên hạ “chia ra” để kiếm lợi, thì bà cụ lại “gom vào” để giữ tình. Một đại gia đình bốn thế hệ, đông đúc nhưng “vẫn rất êm thấm”, không có tiếng cãi vã, không có sự tranh giành. Đó là một vẻ đẹp ngỡ như cổ tích giữa thời hiện đại đầy biến động.

Chất thơ của nếp nhà còn thể hiện ở sự chiến thắng của tình người đối với cái tôi cá nhân vị kỷ. Câu chuyện về mối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu trong tác phẩm là một ví dụ điển hình.

Cô con dâu là gái Hàng Bồ, sắc sảo, đỗ đại học, còn bà mẹ chồng thì thông tuệ, nghiêm khắc. Hai người đàn bà “cùng sắc sảo” ấy sống chung mười lăm năm không một lời điều tiếng. Điều gì tạo nên sự hòa hợp diệu kỳ ấy? Đó là nhờ triết lý sống đầy nhân văn và cũng rất đỗi thơ mộng: “Mỗi bên chịu một nửa”.

Chữ “chịu” ở đây không phải là cam chịu nhẫn nhục, mà là sự thấu hiểu, nhường nhịn và tôn trọng. Bà cô coi con dâu là “vàng trời cho”, một cách ví von vừa trân trọng vừa thấm đẫm tình người. Cách ứng xử ấy đẹp như một bài thơ về đạo lý, về nghệ thuật “đắc nhân tâm” mà không sách vở nào dạy hết được.

Hơn thế nữa, chất thơ của nếp nhà còn nằm trong sự thanh sạch, liêm khiết. Gia đình ấy sống giữa lòng Thủ đô sầm uất nhưng lại giữ được sự tĩnh lặng trong tâm hồn. Họ “không cầu gặp may mắn, không săn đón may mắn. Họ chỉ nhận những cái đáng nhận”. Họ từ chối những đồng tiền dễ dãi, từ chối bán rẻ lương tâm (như việc bà cô từ chối in sách kiếm lời vì sai nguyên tắc, từ chối bán nhà giá cao).

Trong ngôi nhà ấy, “ba đời nay, không một ai biết tới câu mày, câu tao”. Chi tiết này nhỏ nhưng lại có sức gợi lớn. Nó cho thấy một bầu không khí văn hóa đậm đặc, nơi lời ăn tiếng nói được chắt lọc, gìn giữ như ngọc quý. Đó là chất thơ của sự lịch duyệt, của một phong thái sống quý tộc - quý tộc về tinh thần chứ không phải vật chất.

 

“Túi khôn” và trái tim mênh mông

Linh hồn của “nếp nhà” và cũng là nơi kết tụ chất thơ sâu lắng nhất của tác phẩm, chính là nhân vật bà cô. Ở tuổi tám mươi, bà hiện lên đẹp lão, minh mẫn và hiền triết như một bà tiên trong cổ tích đời thường. Chất thơ trong tâm hồn người mẹ này trước hết là sự hòa quyện giữa một “cái đầu lạnh” và một “trái tim nóng”.

Bà lạnh lùng, tỉnh táo trước sự cám dỗ của đồng tiền. Bà nhìn thấu bản chất của những kẻ giàu xổi, những kẻ “khinh người rẻ của”, coi tiền là “đội quân giặc cướp”. Những triết lý của bà về đồng tiền mang đầy màu sắc chiêm nghiệm và hình ảnh, nghe như những câu sấm truyền: “Bàn tay thương vợ, bàn tay yêu con, bàn tay nắm bàn tay của bạn bè đếm mãi tiền nhiễm độc lúc nào không hay, sẽ không còn là bàn tay của người nữa”.

Hình ảnh “tiền nhiễm độc” và “bàn tay không còn là của người” là những ẩn dụ rợn người nhưng đầy tính nhân văn, thể hiện nỗi lo âu sâu sắc của một người mẹ muốn bảo vệ tính người cho con cháu. Đó là chất thơ của tình mẫu tử lớn lao, vượt lên trên sự bao bọc vật chất thông thường để hướng tới sự bảo trợ về linh hồn.

Vẻ đẹp tâm hồn bà còn tỏa sáng trong bản di chúc, một văn bản thường khô khan pháp lý nhưng ở đây lại thấm đẫm tình thương và trí tuệ. Bà chia tài sản làm sáu phần đều nhau, không phân biệt trai gái, trưởng thứ. Bà dành phần lớn tài sản cho việc “hương khói”, “tu bổ nhà thờ”, “cấp đỡ cho bà con nghèo”.

Hành động này không chỉ là sự công bằng, mà còn là cách bà dùng vật chất để nuôi dưỡng tinh thần, buộc con cháu phải gắn kết với nhau, với tổ tiên và dòng họ. Bà muốn dùng “gia pháp” để “dưỡng thiện diệt ác”.

Sự lo toan, sắp đặt của bà cho tương lai, ngay cả khi mình đã khuất núi, là biểu hiện cao nhất của sự hy sinh và trách nhiệm. Hình ảnh người mẹ già ngồi tính toán chia của sao cho “trai gái dâu rể mãi mãi là con của mình, mãi mãi là anh em ruột thịt của nhau” gợi lên một niềm xúc động rưng rưng.

Đó là chất thơ bi tráng của người “cầm lái” con thuyền gia đình trước sóng gió cuộc đời. Nguyễn Khải đã khắc họa bà cô không phải bằng những lời ca tụng sáo rỗng mà bằng sự kính trọng sâu sắc. Bà là hiện thân của vẻ đẹp truyền thống Việt Nam: Kiên định nhưng mềm mỏng, nguyên tắc nhưng giàu lòng trắc ẩn. Bà chính là “bài thơ” sống động nhất, đẹp đẽ nhất mà nhân vật “tôi” may mắn được đọc và chiêm nghiệm.

 

Dấu ấn tài hoa của văn phong Nguyễn Khải

Để làm nên thành công của “Nếp nhà”, không thể không nhắc đến nghệ thuật ngôn từ và giọng điệu trần thuật đầy chất thơ của Nguyễn Khải. Truyện ngắn được kể ở ngôi thứ nhất (“tôi”), tạo nên sự gần gũi, chân thực như một lời tâm tình, thủ thỉ. Giọng điệu của Nguyễn Khải trong tác phẩm này rất đặc biệt: Vừa hóm hỉnh, sắc sảo, vừa trầm tư, triết lý.

Ông sử dụng ngôn ngữ đời thường nhưng được trau chuốt kỹ lưỡng, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Những câu văn triết lý không khô cứng mà mềm mại, thấm thía: “Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin. Nó là cách sống...”. Lời văn như những giọt nước mát lành thấm sâu vào lòng người đọc, buộc người ta phải dừng lại để suy ngẫm.

Nguyễn Khải cũng rất tài tình trong việc tạo dựng các hình ảnh tương phản để làm nổi bật chất thơ. Ông đặt vẻ đẹp tĩnh lặng, cổ kính của nếp nhà bà cô bên cạnh sự ồn ào, xô bồ của phố xá thời mở cửa. Ông đặt sự thanh lịch của người Tràng An bên cạnh những hành vi thô lỗ, “rác rưởi” của một bộ phận người mới.

Cái kết của truyện là một ví dụ tiêu biểu cho phong cách “vừa thơ vừa thực” của Nguyễn Khải. Giữa khung cảnh mùa Xuân đẹp như mơ, tiếng hét “Chạy lộn đường rồi! Văn Điển đi lối kia cụ ơi!” của gã thanh niên đi xe Dream vang lên chát chúa. Đó là một nốt nhạc lạc điệu, một “hạt sạn” cố ý.

Nhưng chính nhờ hạt sạn ấy, người đọc càng thêm trân trọng vẻ đẹp mong manh của “nếp nhà”, càng thấy xót xa và yêu thương hơn những giá trị văn hóa đang có nguy cơ mai một. Lời bình luận cuối cùng của nhân vật “tôi”: “Chớ có ngạc nhiên! Rác của Hà Nội đấy!” là một tiếng cười chua chát, một cái lắc đầu ngao ngán, nhưng cũng là một lời cảnh tỉnh đầy trách nhiệm của người nghệ sĩ.

Chất thơ trong văn Nguyễn Khải còn nằm ở sự điềm tĩnh. Ông không lên gân, không phán xét gay gắt. Ông chỉ kể, chỉ tả, và để cho sự thật tự cất lên tiếng nói. Cái nhìn bao dung, độ lượng của người từng trải (“Một chân đã thõng vào cõi hư vô rồi thì không nên bắt đầu bất cứ việc gì nữa... Chỉ còn đủ thời gian để làm lành”) khiến cho trang văn trở nên nhẹ nhõm, thanh thoát, mang đậm phong vị thiền.

“Nếp nhà” của Nguyễn Khải không chỉ là một câu chuyện về gìn giữ gia phong, mà thực sự là một áng văn chương giàu chất thơ và đậm tính nhân văn. Chất thơ ấy được dệt nên từ những sợi tơ óng ả của mùa Xuân Hà Nội, từ sự bền bỉ của những giá trị đạo đức truyền thống, từ tâm hồn cao cả của người mẹ, và từ chính tài năng ngôn ngữ bậc thầy của nhà văn.

Qua tác phẩm, Nguyễn Khải đã gửi gắm thông điệp sâu sắc: Trong cơn lốc của kinh tế thị trường, tiền bạc có thể kiếm được, nhà lầu xe hơi có thể mua được, nhưng một “nếp nhà”, một không gian văn hóa thấm đẫm tình người thì phải vun đắp qua nhiều thế hệ mới có được.

Giữ được nếp nhà chính là giữ được cái gốc làm người, là giữ được chất thơ cho cuộc sống vốn dĩ nhiều văn xuôi và bụi bặm này. “Nếp nhà” vì thế sẽ còn mãi giá trị, như một lời nhắc nhở ân cần về hạnh phúc đích thực giữa dòng đời vạn biến. Xuân vui đang gõ cửa, mong sao giữa dòng đời muôn nẻo, nhân gian hãy giữ trọn cho mình “Nếp nhà”, giữ được lối về giữa muôn kiếp nhân sinh.

N.V.L

Nguồn: Báo Giáo dục và Thời đại

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm