TIN TỨC

Chấm lên những khổ đau đời người mà viết

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-27 08:47:04
mail facebook google pos stwis
1952 lượt xem

BÙI PHAN THẢO

(Bài đọc tại buổi tưởng nhớ nhà văn Triệu Xuân, ngày 26/10/2022)

Nhà văn Triệu Xuân là người sáng lập Nhóm Văn chương Hồn Việt, chủ biên tập san Văn chương Ngày nay… Bên cạnh nhiều tác phẩm tạo tiếng vang trên văn đàn như: Cõi mê, Sóng lừng, Bụi đời, Giấy trắng, Nổi chìm trong dòng xoáy, Lấp lánh tình đời…, ông nhận giải thưởng giai đoạn 1986-1990 của Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động VN cho tác phẩm “Trả giá”.


Nhà thơ Bùi Phan Thảo

Là một nhà văn, một nhà báo, Triệu Xuân có vốn sống phong phú và tư duy sắc sảo, quyết liệt trên trang báo và trang văn. Cũng từng là người lính nên ông không ngại xông pha và ngòi bút dũng cảm xộc thẳng vào những vấn đề gai góc, mạnh mẽ tuyên chiến với cái xấu, cái ác. Ngòi bút của ông nhận diện cái xấu cái ác, vạch trần thủ đoạn tinh vi, ác độc và ông chấp nhận dấn thân, bảo vệ lẽ phải, giữ cho ngòi bút sắc bén, mạnh mẽ, thẳng băng. Điển hình là tác phẩm Sóng lừng, có thể xem là tác phẩm văn chương Việt Nam đầu tiên viết về mafia trong xã hội hiện đại. Viết tác phẩm này, lúc sinh thời nhà văn không chỉ lao tâm khổ tứ trên từng trang viết mà khi sách ra đời, ông cũng “lên bờ xuống ruộng” vì nó, nhưng ông kiên cường tranh đấu, ông được bảo vệ và chiến thắng.

Sóng lừng (V.N. Mafia) do Nhà xuất bản Giao thông vận tải ấn hành vào đầu tháng 3- 1991, sau khi phát hành đã bị đề nghị thu hồi vì “bôi đen chế độ, chống Đảng”. Nhà văn kể lại ông gặp Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nói rành rọt: "Chú Mười cho tổ chức hội thảo khoa học đi, nếu chống Đảng thật thì tôi sẵn sàng đi tù". Tôi từng phỏng vấn, gặp gỡ chú Mười nhiều lần, chú hiểu tôi là người thế nào. Vì quý tôi nên chú chỉ đạo Ban Bí thư thành lập Hội đồng giám định Trung ương do ông Cù Huy Cận làm chủ tịch, ông Thái Ninh làm Phó Chủ tịch cùng hơn chục GS, TS, nhà lý luận phê bình, nhà văn... đọc, tổ chức hội thảo. Làm việc trong 3 tháng thì Hội đồng ra kết luận: Nhà văn Triệu Xuân không chống Đảng, mà trái lại, rất yêu Đảng. Nhà văn dự báo một căn bệnh nan y trong Đảng là sự tha hóa, lạm quyền. Đó là người đi đầu trong giới nhà văn, dũng cảm nói lên sự thực”.

Nhà văn Xuân Thiều (một thành viên Hội đồng Giám định) đã nhận định đây là tiểu thuyết hay, tác phẩm tốt: “Dẫu không quen biết tác giả, qua cái khối thống nhất của tác phẩm, tôi cảm thấy tác giả yêu đất nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu Đảng, trên hết là yêu vô cùng cái thiện và căm ghét tột cùng cái xấu xa, tội ác” (Nhiều tác giả - Triệu Xuân nghĩa tình bạn hữu, NXB Hội Nhà văn, 2020, tr.154).

Trong lời bạt tiểu thuyết Sóng lừng, tác giả viết: "Hoạt động của bọn tham nhũng, bọn mafia đang diễn ra ngày càng tinh vi và ác liệt. Cũng như số phận của nhân vật chính trong tiểu thuyết này, vấn đề chống Mafia không thể dễ dàng kết thúc êm đẹp. Cuộc sống là như vậy”. Ông cũng khiêm tốn nhận rằng: “Chính những điều thôi thúc trong tôi nói hộ tâm nguyện của người dân, khiến tôi dám viết, chứ không phải tôi tài ba gì”...

Yêu cuộc sống, yêu đất nước này, những trang văn của Triệu Xuân luôn chuyển tải những thông điệp về tình yêu cuộc sống. Đó cũng là những đổi thay của đất nước qua từng số phận con người, dòng họ. Những thông điệp đó thể hiện khá rõ trong Cõi mê, được xem là một trong những tác phẩm quan trọng trong sự nghiệp của nhà văn Triệu Xuân và đã tạo được tiếng vang trên văn đàn Việt.

Cũng như nhiều nhà văn viết về những gia tộc trong dòng chảy thời cuộc, Triệu Xuân viết Cõi mê về 5 thế hệ trong cùng một gia đình và 4 thế hệ trong gia đình khác. Suốt 150 năm, hai gia tộc cùng những biến thiên lịch sử, những số phận, nhân vật cho thấy trong đời sống biết bao người mải mê chạy theo danh lợi, bạc tiền, địa vị… Khi nhận ra những thứ đó cũng chỉ là phù du, quãng đời vừa qua cũng chỉ là cõi mê thì đã muộn, muốn sửa sai thì quỹ thời gian của đời người đã cạn…

Sự từng trải, kinh nghiệm sống và viết, cộng thêm kiến thức sâu rộng giúp cho những trang văn của ông đậm đặc chất liệu và ngồn ngộn sức sống. Người đọc sẽ khó quên khung cảnh đất nước những năm trước cách mạng tháng Tám 1945, Hà Nội những năm 1945-1975, Sài Gòn những năm 1975 đến những ngày đầu đổi mới 1986-1990 và giai đoạn bung ra làm ăn kinh tế sau này. Những đoạn chấm phá, những trang viết công phu, cứ liệu chắc chắn liên quan đời sống nhân vật, gắn với những địa danh nổi tiếng, những chi tiết từng đưa vào sử sách càng làm cho người đọc thú vị vì được hiểu thêm một cách tường tận, vừa có tính khoa học vừa có sắc màu lãng mạn qua lăng kính văn chương.

Trong Cõi mê, chân dung những người trẻ được ông khắc họa thành công. Đó là cô gái trẻ Phương Nam, nữ trí thức xinh đẹp, tài giỏi, sống và yêu ngay thẳng, chân thành. Là Nguyễn Hùng Tâm, chàng trai không theo cha mẹ sang Mỹ định cư mà quyết ở lại Sài Gòn vì yêu Sài Gòn, vươn lên làm giàu bằng sự nhanh nhạy, thông minh. Là Nguyễn Ngọc Bắc, con riêng của ông Nguyễn Kỳ Hòa, anh con ông bác của Hùng Tâm, một đại gia từ Hà Nội vào Sài Gòn lập nghiệp. Bằng nhiều lối rẽ của số phận, mỗi người đều trở nên giàu có và sau khi tình cờ hai anh em gặp nhau, sự hợp tác làm ăn càng giúp họ thành công rực rỡ trên thương trường.

Đó là “nghịch tử” Nguyễn Quốc Thăng, cháu đích tôn của ông Nguyễn Kỳ Hòa, đứa cháu hư hỏng, làm hao tâm tổn trí và thất tán tiền bạc của ông bà nội vì thói ăn chơi đủ ngón nghề dù tuổi đời còn rất trẻ. Là cuộc đời cô nàng tên Ngọc Tiên, từ vùng quê miền Trung quyết vào Nam đổi đời, chồng bỏ, một thân một mình nuôi con, nhờ thông minh sắc sảo cùng vốn ngoại ngữ và nhan sắc trời cho, cộng thêm kỹ thuật “giường chiếu” thượng thừa khiến cho các đấng mày râu già trẻ lớn bé đều “xin chết” để rồi chết dưới lưỡi dao oan nghiệt của chính mình. Những trang viết của Triệu Xuân về những người trẻ này phản ánh đậm nét không khí xã hội đương thời với những con người sống trong không gian đó cùng những quan hệ phức tạp, đan xen, những va đập của cuộc sống, những tình yêu chân thành, cả những dối lừa, cạm bẫy… mà ngòi bút đầy chất liệu sống trải ra đầy trang viết, luận giải một cách thuyết phục những vấn đề nhân sinh muôn thuở, những mâu thuẫn nội tại trong từng nhân vật.

Những người trẻ đó, bước vào đời sớm để tự lập thân hay sống trong đại gia đình tứ đại đồng đường, vẫn cho thấy khoảng cách thế hệ. May mắn là trong đại gia đình ông Nguyễn hay ông Hoàng còn có tình yêu thương níu kéo, gắn kết họ lại với nhau, để những vết thương trong lòng rồi cũng thành sẹo và người ta phải sống hướng đến ngày mai tốt đẹp hơn.

Những lát cắt số phận trong Cõi mê cũng là những lát cắt lịch sử. Qua từng đời người và nội tâm được Triệu Xuân diễn tả, là cả giai đoạn của đất nước. Xen giữa những diễn biến thời cuộc, biến động đời sống của nhân vật là những trang viết nhẹ nhàng về khung cảnh êm đềm Hà Nội những năm vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa chống chiến tranh phá hoại của Mỹ; cảnh bà Yến làm mậu dịch viên cửa hàng Thủy Tạ ở bờ hồ Hoàn Kiếm; cảnh xếp hàng mua bia hơi và uống bia hơi vỉa hè, trò chuyện cùng nhà văn Nguyễn Tuân hay những cảnh sinh hoạt gia đình như lễ mừng đại thọ 100 tuổi của cụ Nguyễn sau này ở Sài Gòn…

Bằng những trang viết gai góc mà cũng đầy nhân hậu, Triệu Xuân tái khẳng định giềng mối quan hệ gia đình thời nào cũng luôn sâu đậm, thiêng liêng. Gia đình là phản ánh của xã hội. Những số phận cá nhân, số phận gia đình cũng là những phản ánh hiện thực xã hội sâu sắc. Trong đó, vẫn chất chứa những đúc kết của cha ông: Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời; con hư tại mẹ cháu hư tại bà. Luật nhân quả là có thật. Cõi mê là có thật. Đời vẫn là một giấc mơ, không biết bao người vẫn sống trong mê muội của những ham muốn tầm thường sân si danh lợi, đến khi hiểu ra thì quỹ thời gian của cuộc đời đã cạn kiệt, hành trình đời người đã đến ga cuối, không thể quay lại để làm lại từ đầu.

Trong Cõi mê, bóng dáng quan chức tha hóa, quan trí thấp kém, tư duy cũ mòn, cản trở sự phát triển, dù có lúc thấp thoáng mà cũng rất sâu. Đó là ông Dưỡng, một cấp trên của ông Hoàng, với lối tư duy cũ kỹ và giáo điều, ngu muội nhưng hay quát nạt, khinh thường cấp dưới. Một ông sếp khác là ông Đức thì cứng nhắc, chỉ nghĩ đến chuyện xử lý kỷ luật người khác dù thông tin ông có được chỉ là lời đồn, cảm tính; là ông khách quý của tổng công ty, lúc thuyết giảng thì cả trăm người lặng phắc mà nghe, nhưng có tật mê gái tơ, ông ta thẳng thắn yêu cầu Hoàng phải có gái cung phụng ông ta sau từng ngày giảng bài. Con người ấy, đã bước qua lằn ranh của đạo đức xã hội để ngoại tình, để bảo bọc, tạo dựng cho Ngọc Tiên cuộc sống vật chất đủ đầy, quên đi bà vợ cả đời hy sinh vì sự nghiệp thăng tiến của chồng.

Chọn tựa đề Cõi mê, Triệu Xuân cũng đưa ra một thông điệp gũi gần mà sâu sắc, rằng đời người – xét cho cùng cũng chỉ là một cõi tạm trên dương thế. Hãy sống sao cho đúng với đạo làm người. Sống sai lạc, trái đạo lý đến khi tỉnh ngộ, biết mình mê muội thì đã muộn. Nhưng đó cũng là cuộc đấu tranh giằng xé trong từng con người, bởi ai sinh ra cũng có tính thiện. Người nào bị lưu manh hóa, tha hóa do chính đưa đẩy của dòng đời và bản thân họ không thắng nổi những phù hoa, cám dỗ vật chất, danh vọng. Khi “phần người” lên tiếng là lúc họ dằn vặt, đấu tranh với bản thân. Nhưng khi sự tha hóa tới mức tột cùng, mê muội đến mù quáng thì họ bất chấp.

Nhà văn Triệu Xuân cho biết ông viết Cõi mê trong 9 năm, hơn 500 trang in. Một cuốn sách được dày công như thế với biết bao tâm huyết của cuộc đời được nhà văn dồn vào từng câu chữ, xứng đáng nhận được tình cảm trân trọng của bạn đọc. Qua tiểu thuyết này, nhà văn cũng nhắn nhủ người đọc hãy biết quý và nâng niu từng phút giây cuộc sống, giữ cho nhau những ngọn lửa nhân ái, nghĩa tình. Với các nhà văn, hãy chấm ngòi bút lên những khổ đau của đời người để có những tác phẩm ở lại lâu bền trong lòng người đọc…

Con người có bản năng quên, nhưng lao động, tài năng, nhân cách nhà văn thì người đời luôn nhớ và nhà văn sống qua từng trang sách, từng tác phẩm. Bài viết này như một nén tâm nhang thành kính, tưởng nhớ ông, ông luôn sống trong tình yêu thương của gia đình, bè bạn văn chương.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm