TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình

Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-03 15:05:10
mail facebook google pos stwis
740 lượt xem

Đọc ĐƯỜNG SÁNG của Nguyễn Văn Mạnh là đọc lại một hành trình đời người nhiều bão tố nhưng không khuất phục. Từ người lính trận, nhà báo, luật gia đến nhà thơ, nhà văn, Nguyễn Văn Mạnh đã tự viết nên số phận mình bằng dấn thân và trung thực. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín – người bạn học, bạn đồng hương – mang đến một cái nhìn gần gũi, tin cậy và giàu xúc cảm về cuốn tiểu thuyết mới này.
 

PHẠM TRUNG TÍN

Những ngày cuối năm 2025, tôi đọc tiểu thuyết ĐƯỜNG SÁNG của luật gia, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Văn Mạnh. Đây là cuốn tiểu thuyết mang tính tự thuật tái hiện cuộc sống hơn nửa thế kỷ qua của chính tác giả. Khi gấp sách lại, trong tâm thức của tôi bao nhiêu kỉ niệm lại ùa về sau chặng đường hơn 60 năm tôi và Mạnh cùng trải nghiệm và suy ngẫm.

Chúng tôi sinh ra trên mảnh đất Hiệp Hoà khó nghèo heo hút. Là xã cuối cùng trong bản đồ dư địa chí của thành phố Hải Phòng. Chúng tôi cùng tuổi Bính Thân, cùng học chung một lớp từ cấp 1 đến hết cấp 2 phổ thông tại trường xã và học chung cấp 3 trường huyện. Có thể nói tuổi thơ, tuổi học trò của chúng tôi đã có sự gắn bó sẻ chia với bao kỉ niệm vui buồn không thể nào lãng quên dù năm tháng đã phủ một lớp bụi mờ trên ký ức.

Quê chúng tôi là một vùng quê chiêm trũng đói nghèo lạc hậu. Thời chiến tranh loạn lạc, máy bay Mỹ quần thảo bắn phá suốt đêm ngày, thanh niên trai tráng trong làng lần lượt lên đường tòng quân chiến đấu, chỉ còn những người già, phụ nữ và trẻ em ở tuổi học sinh ở lại hậu phương. Mùa hè nóng nực, mùa đông giá rét, chúng tôi vừa đi học vừa phụ giúp gia đình chăn trâu cắt cỏ, mót khoai hôi cá để vượt qua nạn đói nghèo luôn rình rập quanh năm. Mạnh thuở ấn niên ốm đau còi cọc, dáng người gày gò bé nhỏ lụp xụp trong bộ áo quần nhuộm nâu nhưng đôi mắt sáng tinh nhanh và nụ cười hiền luôn thường trực trên khuôn mặt thánh thiện của tuổi học trò. Lớp học của chúng tôi được đào âm sâu vào lòng đất, trên đắp tường dày cả thước, mái nhà được bện rơm để tránh mảnh bom. Tôi và Mạnh đều là học sinh thông minh hiếu học, có ý chi tự lập và không chịu đầu hàng số phận. Hoàn cảnh nhà Mạnh còn khó khăn nghèo đói hơn cả nhà tôi do bố Mạnh mất sớm. Trong hoàn cảnh mồ côi, mấy anh chị em yếm thế vì bị đối xử phân biệt do ông bố của Mạnh thời Pháp thuộc làm chức sắc trong thôn xóm, bị Cách mạng quy địa chủ cường hào, bị tịch thu gia sản ruộng vườn. Sau này, được hạ thành phần là địa chủ kháng chiến, nhưng lúc đó đã mất hết nhà cửa, phải dựng túp nhà tranh nhỏ bé ở góc làng trú thân qua mưa nắng. Mẹ của Mạnh là người phụ nữ đoan trang, hiền hậu, khuôn mặt hằn nét chịu đựng vất vả truân chuyên của cuộc đời. Tôi đã nhiều đêm ngủ cùng Mạnh trong ổ rơm ngay cạnh bếp vừa nấu cơm vừa nấu cám lợn cho đỡ rét. Hồi đó chính quyền địa phương và cả nhà trường còn coi nặng thành phần giai cấp xuất thân, dù chỉ phụ thuộc nhưng tạo ra những áp lực nặng nề cho các học sinh là con em các gia đình có vấn đề về lý lịch.  Dù học giỏi thì lớn lên cũng chỉ cày ruộng không dám mơ đi học đại học hoặc làm các ngành nghề thoát ly đồng ruộng. Ngay từ khi học xong lớp 7/10, ở lứa tuổi 14 – 15, chúng tôi đã nung nấu ý chí phải thoát ly khỏi luỹ tre làng bằng con đường tình nguyện đi bộ đội. Dù biết rằng là người lính chiến đấu ở chiến trường (hoặc là xanh cỏ hoặc là đỏ ngực). Chủ nghĩa lý lịch còn được duy trì ngay cả trong quân ngũ, giữa chiến trường ác liệt đạn bom nhưng con đường phấn đấu kết nạp Đảng, đào tạo sĩ quan cũng bị phân biệt bởi có ông cha dính dáng phục vụ chế độ cũ…

Trong chương I và chương II của tiểu thuyết, Nguyễn Văn Mạnh đã cho chúng ta biết hoàn cảnh chính trị, điều kiện xuất thân và gia thế của mình. Nhưng với tính khiêm nhường, kiệm lời vốn có, tiểu thuyết chỉ khắc hoạ một phần cuộc sống mà tác giả đã trải qua. Thật chạnh lòng khi ghi lại một đoạn tự sự của Mạnh: “Số phận đã đóng dấu cho mình là con địa chủ thì mình sẽ xoá dấu ấy bằng máu và long trung thành trên chiến trường”.

Những năm giặc Mỹ tái đánh phá ra miền Bắc, máy bay B52 ném bom huỷ diệt, tôi và Mạnh cùng học cấp 3 của trường huyện nhưng khác lớp. Trường phải phân học sinh sơ tán về các xã.  Lớp học ấn dưới luỹ tre xanh của các xóm nhỏ ven sông. Ngồi học trong lớp nhưng tâm trí chúng tôi không thể tập trung bởi tiếng bom gào, máy bay gầm thét, bởi dòng suy nghĩ luôn hướng đến việc lên đường tòng quân cầm súng giết giặc. Tháng 2/1973 tôi tình nguyện đi bộ đội khi đang học lớp 9/10. Đến tháng 5/1974 đến lượt Nguyễn Văn Mạnh cũng tình nguyện viết đơn bằng máu và vinh dự được nhập ngũ. Trải qua rèn luyện chiến đấu tại chiến trường Nam bộ, gian khổ hy sinh do hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến trường, lằn rành sinh tử đã đào luyện chúng tôi trở thành những người lính dạn dày gan dạ, không sợ hiểm nguy, như những cánh chim đã trưởng thành trong bão tố và máu lửa. Theo chính sách của quân đội, những quân nhân nào không đủ tiêu chuẩn phục vụ lâu dài sẽ được chuyển ngành hoặc xuất ngũ về địa phương. Năm 1979 từ mặt trận biên giới Tây Nam tôi được chuyển ngành về bộ Công nghiệp nhẹ tại thành phố Hồ Chí Minh, còn Nguyễn Văn Mạnh năm 1980 được chuyển ngành về công tác tại báo Minh Hải… Đường đời cứ thế trôi đi, biết bao gian nan vất vả khi mỗi người phải tự đương đầu với hoàn cảnh công tác và thực tế cuộc sống khó khăn thiếu thốn của một thời bao cấp…

Tôi không tin vào sự huyễn hoặc của số phận nhưng ở lứa tuổi chúng tôi cái tuổi Bính Thân 1956 gặp rất nhiều hoàn cảnh long đong về sinh kế, trắc trở về đường công thành danh toại và lận đận bước tình duyên. Chẳng thế mà người đời có câu: “Người ta tuổi ngọ tuổi mùi/ Tôi nay ngậm ngùi lận đận tuổi thân”. Nhưng ông bà lại dạy “đức năng thắng số”, chỉ có nỗ lực vượt khó, chỉ có khát vọng vươn lên để tự thay đổi vận mạng cuộc đời mình thì mới có cơ hội nhập hoà cuộc sống để ổn định phát triển, tiến tới tính chuyện “ an cư lạc nghiệp”.

Trong tiểu thuyết ĐƯỜNG SÁNG, chương III và chương IV, Nguyễn Văn Mạnh đã tái hiện những thăng trầm trong cuộc chiến đấu khi là người lính trực tiếp bảo vệ tổ quốc hay trên cương vị một phóng viên khi đã chuyển ngành công tác tại báo Minh Hải. Với khí chất cương thường của người con đất cảng Hải Phòng, với cách sống trung thực tận tuỵ, cách viết đầy tính hiện thực, không phô trương bóp méo sự thật, anh không dễ dàng hoà nhập với tập thể có nhiều người kèn cựa ganh ghét dèm pha. Và rồi như mặc định một cánh chim bão bùng giông tố, anh không khuất phục nghịch cảnh, không chấp nhận số phận nghiệt ngã để quyết tâm đứng vững trước mọi thử thách truân chuyên. Anh chuyển công tác qua toà án Minh Hải rồi lại ra toà án tỉnh Khánh Hoà. Mỗi bước di chuyển là một sự vùng vẫy thoát ra trong nghịch cảnh khó khăn trong sự đa đoan trách nhiệm phục dưỡng mẹ già, nuôi vợ dại con thơ.

Đầu thập kỉ 90 Mạnh chuyển về báo Công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh cũng là lúc tôi gặp lại Mạnh sau gần 20 năm xa cách bặt tin nhau. Từ đó đến nay đã 30 năm tôi và Mạnh luôn có dịp gặp gỡ chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống và trong công viêc, trong đam mê sáng tác văn chương. Trong lớp bạn bè cùng học ở quê chỉ có tôi và Mạnh còn tham gia hoạt động xã hội, ở tuổi 70, dù đã nghỉ hưu nhưng chúng tôi luôn bận rộn với các công việc sáng tác và tham dự các hoạt động báo chí văn chương.

Tôi cho rằng Nguyễn Văn Mạnh là người có ý chí, bản lãnh phi thường để duy trì ổn định cuộc sống bình thường. Hơn 50 năm qua Mạnh đã dấn thân chiến đấu và phấn đấu không ngừng nghĩ, không thối chí, chấp nhận những khó khăn thách thức số phận. Chấp nhận những đổi thay dù vất vả rủi ro để mong tạo cơ hội thay đổi cuộc sống, để tiếp cận các vận hội, phụng sự xã hội và mưu cầu hạnh phúc chính cuộc đời mình. Lúc ra Bắc, lúc vào Nam, lúc ở tận cùng đất Mũi lại có lúc trụ lại giữa rừng núi Khánh Sơn của tỉnh khánh Hoà đèo heo hút gió giữa vùng sơn cước. Có lẽ hoàn cảnh đẩy đưa đã tôi luyện cho Mạnh sức chịu đựng dẻo dai, bản lĩnh chiến đấu hơn người để vươn lên làm chủ vận mệnh của mình. Bên cạnh những lo toan về công việc anh còn đau đáu nỗi niềm thương cảm đứa em ruột thịt đã hy sinh tại biên giới phía Bắc từ năm 1979 đến nay cũng chưa tìm kiếm được hài cốt.

Đôi bạn đồng hương - các nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh và Phạm Trung Tín (phải).

Tôi nhớ lại câu thơ: “Ví thử đường đời bằng phẳng cả/ Anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Câu thơ như vận vào cuộc đời của Mạnh, va vào nghịch cảnh và duyên phận, phổ vào chức nghiệp và sự dấn thân bằng tất cả tâm huyết của mình. Sự thành công nào cũng phải đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, thậm chí bằng cả máu của mình. Từ một thanh niên thoát ly luỹ tre làng với lý lịch nặng nề vì bị quy chụp thành phần “địa chủ” Mạnh đã nhẫn nhịn chịu đựng và dấn thân tận hiến trong chiến đấu. Lấy máu của mình để xoá dấu ấn xuất thân, lấy khát vọng của mình để đạt các bước trưởng thành trong cuộc sống. Hơn nửa thế kỉ bôn ba, Mạnh đã thành công, thành danh và thành nhân

 Là người lính xông pha trận mặc, là nhà báo dũng cảm đấu tranh với cái ác bảo vệ những giá trị chân chính, là một luật gia luôn đứng về lẽ phải mang lại niềm tin cho người yếu thế, là một nhà thơ luôn có cái nhìn sâu sắc bản thể hướng tới chân thiên mỹ. Trong hoàn cảnh nào Mạnh cũng tự tin ngẩng cao đầu mang dấu ấn ứng xử tiết tháo cương thường của người đất Cảng không đầu hàng số phận. Ở chương V và VI trong tiểu thuyết mang yếu tố tự thuật về cuộc đời chiến đấu không ngừng nghỉ của mình, Mạnh có bước ngoặt vô cùng ngoạn mục, trải qua thử thách trải nghiệm tài năng đức độ của một nhà báo, nhà văn được những bậc đàn anh đàn chị quý mến tin tưởng giao cho trọng trách là người biên tập chính của Diễn đàn văn nghệ, một phụ thương của Thời báo văn học - nghệ thuật Việt Nam. Đên nay đã phát hành 43 số báo với nội dung phong phú đủ các thể loại, tập hợp các bài viết của các tác giả là các nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu khoa học có uy tín trên văn đàn nước Việt.

Năng khiếu văn chương có từ thời học sinh cấp 2, 3 được hun đúc qua chặng đường nửa thế kỉ tu luyện đã bùng cháy soi sáng con đường văn nghiệp. Chỉ trong 4 năm, Mạnh xuất bản 2 tập thơ, 1 tập tản văn và 1 tiểu thuyết. Nhớ lại chuyện cách đây 7- 8 năm, tôi và Mạnh cùng tham gia sinh hoạt với các anh em quê Vĩnh Bảo trong câu lạc bộ thơ Vĩnh Bảo trời Nam do tôi sáng lập và làm chủ nhiệm nhưng người cộng tác tận tuỵ hiệu quả là Mạnh. Tôi có nói Mạnh tập hợp các bài thơ của mình để in các tác phẩm, đăng kí vào Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Mạnh đã âm thầm sáng tác, khí phách và nội lực văn chương phát tiết thật phong phú, sung sức, chất lượng văn chương khẳng định tầm nhận thức và sức biểu cảm của một người thơ giàu nghị lực và khát vọng. Lộc văn chương phát tiết rực rỡ khi Mạnh trở thành hội viên hội nhà văn Thành phố Hải Phòng năm 2023 và trở thành hội viên hội nhà văn Việt Nam năm 2024.

Vĩnh Bảo quê hương của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, một danh nhân văn hoá lỗi lạc của dân tộc trong thế kỉ XVI. Truyền thống tinh hoa văn học đã hun đúc lên các thế hệ nhà văn Việt Nam người Vĩnh Bảo thế kỉ XX, XXI. Đến nay các nhà văn người Vĩnh Bảo là một tập hợp những người cầm viết có tâm và có tầm trên văn đàn Việt vàcó lịch sử cống hiến rất đáng trân trọng. Trong số 21 nhà văn góp mặt trong tập sách Nhà văn Việt Nam huyện Vĩnh Bảo mới phát hành năm 2025, người ta đọc thấy các tên tuổi: Khái Hưng, Trần Bảng, Thi Hoàng, Kim Chuông, Tô Ngọc Thạch, Nguyễn Xuân Hải, Nguyễn Thuý Loan, Nguyễn Bình Minh, v.v cùng góp mặt trong tên tuổi các nhà văn Việt Nam còn có Phạm Trung Tín, Nguyễn Văn Mạnh và các anh chị em đã tận hiến cho sự nghiệp văn chương.

Tôi rất tâm đắc với tên ĐƯỜNG SÁNG là tựa đề cho cuốn tiểu thuyết của luật gia, nhà báo nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh được PGS.TS nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng viết lời tựa và đặt lại tên cho tác phẩm. Nhưng tôi khẳng định rằng chính tác giả Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình.

TP. HCM, ngày 1/1/2026

P.T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm