TIN TỨC

Chứa chan thế sự, tình người

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-07 07:58:27
mail facebook google pos stwis
2106 lượt xem

BÙI PHAN THẢO

Tạo dấu ấn trên văn đàn khi tuổi đời còn rất trẻ với Thung Lam, giải Nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ 2006-2007, từ đó đến nay Hồ Thị Ngọc Hoài vẫn giữ phong thái nhẹ nhàng vốn có trong đời, nhẩn nha trong trang viết. Nói nhẩn nha nhưng chị lao động siêng năng, truyện ngắn của Hồ Thị Ngọc Hoài vẫn xuất hiện khá đều trên các báo và chị vẫn xuất bản tập thơ… Gần đây, chị tạo bất ngờ cho bạn văn và bạn đọc với tác phẩm mới là thể loại tiểu thuyết và mạnh dạn đi vào thể tài tiểu thuyết lịch sử. Dòng biên viễn - NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh và Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Tp Hồ Chí Minh – 2022, ra đời như một giọng nói quen mà lạ, một định hình mới của Hồ Thị Ngọc Hoài được dư luận quan tâm chú ý nhiều hơn… Với Dòng biên viễn, Hồ Thị Ngọc Hoài ngược về dòng thời gian xa xăm hơn, thời cha ông đi mở cõi phương Nam. Tác giả chọn điểm nhấn, nhân vật và cách thể hiện khác, trong hơn 200 trang của tiểu thuyết. Thời gian trong tiểu thuyết dù chỉ gói trong 7 ngày mà lại là biên niên của một thời đại, là kỷ yếu của một đời người.

Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh phụng mạng Chúa Nguyễn Phúc Chu mở cõi Nam Bộ cách đây hơn 300 năm. Trong lần thứ hai Nam tiến, sau khi trấn yên Chân Lạp, ông cho đoàn quân về trú tại cồn cây sao, cù lao Sao (nay là cù lao Ông Chưởng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang). Ở đây, ông báo tiệp về thành Phú Xuân và đợi lệnh Chúa Nguyễn. Cũng ở đây ông biết mình nhiễm bệnh và lệnh cho đoàn quân về Trấn Biên nhưng đến Rạch Gầm (tỉnh Tiền Giang ngày nay) thì ông mất... Chỉ gói trong thời gian 7 ngày cuối đời mà kể lại một đời người quả là không dễ, nhất là khi Hồ Thị Ngọc Hoài mở ra thêm cho người đọc về cả giai đoạn lịch sử thời mở cõi về Nam của cha ông. Trên nền lịch sử là những tháng ngày mở cõi, khung cảnh sông nước vùng biên, không gian, thời gian còn được mở rộng hơn qua tâm tưởng của vị tướng ưu thời mẫn thế. Câu chuyện diễn ra với những con người sống động, những tuyến nhân vật dựng lên không nhiều nhưng đều tiêu biểu cho thời cuộc, là văn quan, võ tướng, là gia đình dòng dõi của Lễ Thành Hầu, là những người lính, người dân địa phương, là những bóng hình nữ nhân đậm nhạt hiện qua tâm tưởng v.v... Đọc đến trang cuối, người đọc bâng khuâng ngẫm ngợi và lần giở lại...

Những dòng sử liệu về nhân vật Nguyễn Hữu Cảnh không nhiều, tác giả đã rất công phu tìm thêm nguồn tư liệu, tìm hiểu rộng thêm về lịch sử, những nhân vật, sự việc trong nhiều giai đoạn lịch sử, kết nối lại để làm rõ lên nhân vật chính. Hơn tất cả, công lao, tấm lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Hữu Cảnh, vị tướng được người dân miền Nam và cả nước tôn kính, biết ơn... đã mang lại cảm hứng chính cho tác giả trong quá trình tìm tòi và sáng tạo.

… Người ta từ xa xôi đến học tiếng nói mình, phong tục mình, cũng tập bỏ giày dép đi chân đất, ngồi xổm, ăn đũa, bệnh tật, chết bỏ mạng cũng đành và rồi dần tạo một phần rất quan trọng cho Đàng Trong, nó cứ âm ỉ, âm thầm lan đi, tạo nên... mấy ai biết rõ? Ai biết được rồi đây sẽ thế nào? Thời cuộc có thể sẽ dữ dội từ những gì âm thầm đó. Có thể là chiến tranh, thôn tính? Hay là hòa hợp, cùng làm giàu đẹp đây? Thì gắng lắng nghe, tìm hiểu vậy”...

Những đoạn hồi ức, những lời tự sự, những đối đáp đưa người đọc đến những cận ảnh chân dung nhân vật, gần hơn với chúng ta ngày nay sau lớp bụi thời gian hàng trăm năm bao phủ.

«Từng muốn là người đóng thuyền, làm gốm, làm một tiều phu, một ngư ông, sư ông... nhưng thống binh vẫn ráng cố vì dòng dõi nếp nhà, vì dòng tộc tổ tông bao đời rạng rỡ. Người đi xa ngàn dặm, nghĩ khác người, gần gũi con người, thương dân nhưng Người chưa vượt được bao nhiêu những khuôn thước, khuôn sáo của một dòng họ có công lớn từ xưa đến nay, từ Đàng Ngoài cho đến Đàng Trong. Thống binh chịu nhiều cách biệt giữa quý tộc và tiện dân, người anh tài và kẻ thường mọn, nam nhi dũng tướng bôn tẩu và thân phận quẩn quanh... Em cũng hiểu thống binh coi trọng con người, nhưng dòng dõi ấy, sự ăn học lễ nghĩa Nho gia ấy, thống binh bỏ bớt được bao nhiêu khuôn phép, khuôn sáo ngăn cách để thật vô tư với mọi điều bình thường?»…

Tác giả đã cùng nhân vật thăng hoa, theo dòng hồi ức của vị chủ tướng và cuộc sống bên dòng sông mênh mang một thuở còn hoang vắng mịt mùng, những câu chuyện của thế hệ thời mở cõi hiện lên đầy sinh động. Từ nền hiện thực đó, tác giả đan xen nhuần nhuyễn quá khứ và hiện tại, hư cấu, trần thuật một cách chắc tay, có nhiều trang văn đầy mỹ cảm... Ngôn ngữ Dòng biên viễn giàu tính điện ảnh, như một bộ phim đưa người đọc quay về một giai đoạn lịch sử với vùng đất buổi hoang sơ và những đời người với tất cả những nỗi niềm riêng chung... Những trang viết về giằng xé nội tâm cực đắt, cả những tâm tư sâu kín đều rất gợi, rất đẹp, rất người, rất đời và thấu hiểu đạo lý, trọn vẹn nghĩa nhân. Hồ Thị Ngọc Hoài đã nhập tâm, hóa thân nhân vật khá thành công và dựng nên không gian miền biên viễn bàng bạc màu huyền sử và chất thơ.

Những hình bóng phái đẹp luôn thấp thoáng trên trang viết, sau tâm tư của Lễ Thành Hầu, tất cả đều đẹp và được trân trọng. Những rung động, khát khao đều được diễn bày cả về lý và tình thấu đáo, đặt trong chủ đề lớn của tác phẩm là dòng chảy của thời gian, dựng nên một bờ cõi thiêng liêng và tâm tư những con người Việt qua hàng trăm năm thêm gắn kết quê hương, yêu mến, đồng lòng dựng và giữ nước.

Một đôi bóng hồng giấu lén ấy, họ là ai? Ông thoảng qua những ấm êm nồng nàn rồi lãng quên những phận má hồng trôi nổi với tài sắc, những con người dám phá vỡ và cam chịu? Chuyện tình cảm, ông cũng sợ để khổ, để tiếng cho người lắm”... Những dòng hồi ức, tự sự của chủ tướng Nguyễn Hữu Cảnh cũng gởi gắm những triết lý, suy tưởng của tác giả về thời cuộc: Đạo làm người, chí làm trai; hành trình dựng nước; quan niệm về hạnh phúc riêng tư; về tình yêu, gia đình, chồng vợ đặt trong phận sự làm người, bổn phận với đất nước, dân tộc.

Lối hành văn của Hồ Thị Ngọc Hoài trong tiểu thuyết Dòng biên viễn như dòng chảy xuôi nhẹ nhàng mà không thiếu những lúc cuộn xoáy, sôi trào. Chọn thể loại tiểu thuyết lịch sử khi đã có không ít người vào cuộc, Hồ Thị Ngọc Hoài cũng muốn nỗ lực làm mới, tìm lối đi riêng với giọng điệu riêng. Bạn viết thấy Hồ Thị Ngọc Hoài là người nghiêm cẩn, kỹ tính trong lao động nghệ thuật. Không chỉ cần mẫn tìm tòi tư liệu, những trích dẫn thơ trong Dòng biên viễn cũng được tác giả xem xét thấu đáo về ngôn ngữ, thể loại cho đúng tâm trạng, hoàn cảnh. Viết tiểu thuyết này cũng là một cách nhập cuộc mạnh mẽ của nhà văn, sau những câu chữ tinh tế, trữ tình là những thông điệp sâu sắc về nhân sinh quan, về lịch sử.

Nguồn Văn nghệ số 23/2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm