TIN TỨC

Chúng ta có thực sự tự do trong chính tác phẩm của mình?

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-19 08:26:43
mail facebook google pos stwis
679 lượt xem

Văn học, cũng như các lĩnh vực khác, theo tôi đều có những dòng chảy nối tiếp âm thầm, tạo nên nhiều sự giao thoa, đan cài giữa cũ và mới, quen thuộc và khác lạ.

50 năm văn học Việt Nam từ năm 1975 đến nay, cũng đã và đang tạo nên một bộ mặt văn chương đất nước từ những sự giao thoa. Trong tầm hiểu biết hạn hẹp của mình, với tư cách là một độc giả và cũng là một người viết trẻ, tôi được kế thừa rất nhiều từ thế hệ các nhà văn đi trước. Từ giai đoạn Đổi mới năm 1986, đến giai đoạn Hội nhập mở cửa năm 1995, văn học cũng vận động theo tiến trình lịch sử của đất nước. Tôi đã được nghe, được đọc các tên tuổi, tác phẩm như Đứng trước biển, Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Thời xa vắng của Lê Lựu, Bến quê của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng…

Tiếp tục là những sự giao thoa sang giai đoạn hội nhập với nhiều tên tuổi lớn trên văn đàn mà tôi thật sự ngưỡng mộ tài năng của họ. Tất cả dường như đều có một địa hạt văn chương riêng, với sự phát triển trong cả chủ đề, bút pháp, nhằm không chỉ kế thừa mà còn tự vẽ ra cho mình một con đường riêng, một phong cách riêng, trong công việc sáng tạo mà tự mỗi nhà văn đều ý thức rất rõ những sự thôi thúc, dồn nén bắt nguồn từ thời đại họ đang sống, từ thân phận con người.

 

Tác giả Trần Văn Thiên phát biểu tại Tọa đàm “50 năm văn học Việt Nam từ sau năm 1975: Góc nhìn của những người viết văn trẻ”.

 

Tài năng của họ được thể hiện rất rõ trong những tác phẩm mà tôi có điều kiện được tiếp xúc từ nhỏ, chính là một trong những yếu tố thôi thúc tôi dấn thân vào con đường văn chương, mặc dù tôi là dân tự nhiên chính hiệu, từ thời học cấp III đến nghề nghiệp hiện tại. Với bản thân tôi, ngoài những trải nghiệm trong cuộc sống cá nhân, thì việc đọc và học hỏi từ thế hệ cầm bút đi trước, đã đem lại nguồn cảm hứng và động lực âm thầm để tôi sẵn sàng cất lên tiếng nói qua con chữ của mình. Và tôi nghĩ không chỉ riêng tôi mà thời đại nào cũng vậy, thế hệ sau luôn có tính kế thừa thế hệ trước, nhưng việc phải làm sao viết khác đi, mới hơn những gì đã được khai thác rất nhiều trở thành một thách thức lớn, đặc biệt là với thế hệ nhà văn trẻ.

Có lẽ sẽ có nhiều tác giả như tôi, bắt đầu hình thành niềm yêu thích văn chương từ những bộ truyện dành cho tuổi mới lớn của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, vào lúc còn ngồi trên ghế nhà trường. Rồi lớn hơn chút nữa, tôi lại muốn tìm đọc những tác phẩm mới hơn, quyết liệt hơn, mở rộng nhận thức của mình về đời sống. Trong những trải nghiệm văn chương của mình, tôi vẫn còn nhớ cảm xúc của lần đầu đọc Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, tôi đọc trong một nhà sách ở thành phố, không đủ tiền mua cả cuốn sách nên tôi đã ngồi hết một buổi chiều ở đó để đọc đến kết truyện. Hay một buổi tối mùa đông ở kí túc xá, tôi học bài đến khuya, rồi tình cờ đọc được truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông của nhà văn Nguyễn Quang Thiều, tôi đã rùng mình vì thân phận con người trong tác phẩm. Đó chính là những tác phẩm gây ấn tượng mạnh trong nhận thức một đứa trẻ mới lớn là tôi lúc ấy.

Càng trải nghiệm đời sống, mở rộng vốn sống và sự hiểu biết, tôi càng muốn tìm tòi để đọc và học hỏi. Có những cuốn sách tôi chưa hiểu hoặc hiểu chưa đủ sâu ở thời điểm này, nhưng qua nhiều năm sau đọc lại tôi thấy tác phẩm ấy lại tạo những dấu ấn khác. Từ một người cảm thấy chủ đề chiến tranh không phù hợp với mình, tôi chuyển qua tìm đọc những tác phẩm viết về chiến tranh. Từ giai đoạn không thích đọc văn học nước ngoài vì thấy xa lạ, sau này tôi lại muốn đọc nhiều hơn văn học Nhật, văn học phương Tây, những tên tuổi lớn. Và tôi thấy ở những tác phẩm lớn, dường như các nhà văn luôn sẵn sàng mở rộng chiều kích văn chương, tức là họ không dè chừng, hay e ngại, rằng tác phẩm của mình với phong cách và chủ đề này sẽ kén người đọc, hay gây ra những hiệu ứng ngược. Nói như Makenzy Orcel, một nhà thơ và tiểu thuyết gia người Haiti, rằng “Văn chương cũng phải sục cả vào những vùng tối” (Tuổi trẻ cuối tuần, 2023).

Văn học Việt Nam 50 năm qua, theo tôi có nhiều tác phẩm đã gây tiếng vang ngay lúc mới công bố, và sống mãi trong lòng người đọc. Chủ đề chiến tranh, hậu chiến tranh, thân phận con người, nông thôn Việt Nam được khai thác xuyên suốt. Nhưng dường như vẫn chưa có nhiều tác phẩm vượt thoát tư tưởng thời đại, mở ra một con đường mới ít người dấn thân, một bản sắc mới, tư tưởng mới, thay đổi những cách nhìn quen thuộc. Chúng ta dường như vẫn đã và đang đi theo những lối mòn, với cách tiếp nhận bằng một hệ quy chiếu ít chịu thay đổi. Có những cuộc thi mà tác phẩm được vinh danh khiến tôi bất ngờ, vì sự cũ mòn trong tư tưởng và bút pháp. Điều đó khiến một bộ phận lớn độc giả cảm thấy mất tin tưởng vào chất lượng văn chương nước nhà. Chúng ta đang sống ở thời kì hội nhập, và cùng với đó văn chương Việt Nam cũng đang dần hội nhập. Các cây bút trẻ hiện nay đã và đang quyết liệt tìm một lối đi mới, không còn là chủ đề chiến tranh, hậu chiến tranh, không còn là nông thôn Việt Nam, bi kịch gia đình, khắc hoạ bức tranh một đất nước đang phát triển bước ra từ chiến tranh, mà họ đã có sự giao thoa, ảnh hưởng từ văn chương thế giới. Khi biên độ được mở rộng, họ muốn vượt thoát những cái kén cũ mòn, chọn một cách viết khác, mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, độc đáo hơn, sẵn sàng chọn những chủ đề, hình ảnh gai góc mang vào trang viết, cho nên theo tôi, chúng ta cũng cần phải thay đổi trong cách tiếp nhận. Thế hệ nhà văn đi trước, cần thay đổi trong cách tiếp nhận những tác phẩm thể hiện tính tìm tòi của thế hệ nhà văn kế thừa. Cần tôn trọng sự đa dạng, phong phú, nhiều chiều kích của văn chương, và không áp đặt tư tưởng, cách nhìn cá nhân để đánh giá chất lượng một tác phẩm mới.

Chúng ta còn đang đi những lối đi an toàn, né tránh những chủ đề được coi là nhạy cảm. Chúng ta có thực sự tự do trong chính tác phẩm của mình? Dường như chúng ta vẫn còn phải khéo léo uốn nắn, tránh né nhiều chỗ trong tác phẩm để vượt qua khâu kiểm duyệt, hay chấp nhận chọn một tác phẩm an toàn để vinh danh? Vẫn chưa có nhiều tạp chí, kênh văn học nghệ thuật chọn đăng bài theo xu hướng mở, tức là đăng những tác phẩm có tính tìm tòi, thể nghiệm. Tôi tự hỏi những nhà văn, nhà thơ của văn học Việt Nam ở thế hệ trước có những áp lực vô hình như những nhà văn, nhà thơ ở thế hệ hiện tại? Rồi tôi nghĩ thời nào cũng sẽ có áp lực riêng. Việc sống trọn vẹn với văn chương để cho ra đời những tác phẩm lớn trong thời buổi nào cũng đầy rẫy khó khăn. Với thời đại hiện nay, việc sống đủ chỉ bằng nghề viết văn thật sự bất khả. Và nhiều cây bút chấp nhận chọn con đường viết theo lối thị trường, tạo sự dễ dàng, thuận lợi trong việc công bố tác phẩm, cũng là một trong những nguyên nhân khiến nội tại văn chương chưa được khai phóng hết. Ta sẽ thấy những tác phẩm lặp lại, na ná nhau, nhưng lại dễ đọc, và cũng chưa đột phá. Càng nhiều tác phẩm như vậy sẽ khiến văn chương chững lại, không có sự phát triển.

Tôi nghĩ rằng muốn có sự phát triển, cần tôn trọng và chấp nhận những cái nhìn đa chiều. Nhưng theo tôi quan sát, chúng ta hiện nay dường như đang có một khoảng trống rất lớn của lí luận phê bình. Phải là lí luận và phê bình đúng nghĩa, tức là không cả nể, sợ mất lòng nhau. Dựa trên các cơ sở khoa học một cách khách quan, để thấy sự đủ và thiếu của một tác phẩm. Chúng ta cũng còn nhiều hạn chế ở mảng truyền thông các tác giả, tác phẩm trong nước để công chúng được biết đến rộng rãi. Đối với những tác giả mới chưa có sẵn tệp người đọc, thì việc in ấn, xuất bản cũng luôn gặp khó khăn. Các ngành nghề liên quan đến viết văn cũng chưa được tư vấn và phổ cập rộng rãi. Và trong xu thế kỉ nguyên mới như hiện nay, những người viết thực thụ còn gặp phải sự cạnh tranh đến từ AI (Artificial Intelligence – trí tuệ nhân tạo). Có một số người sẽ bắt đầu dùng AI để viết văn, làm thơ, và cũng không ít tác phẩm từ AI sẽ lọt qua khâu duyệt bài, cũng chính từ tiêu chí chọn những tác phẩm dễ đọc, dễ hiểu, dễ tiếp cận. Bên cạnh đó, cũng có một số phần mềm AI kiểm tra sai những tác phẩm vốn hoàn toàn được viết bởi con người. Kết quả là một số tác giả bị đánh đồng rằng sử dụng AI để viết văn, đặc biệt là những tác giả mới, chưa có nhiều tên tuổi. Cho nên trong bối cảnh thật giả lẫn lộn đó, việc viết một tác phẩm chất lượng, tránh những vòng lặp cũ kĩ lại càng quan trọng. Và đạo đức của người viết lại phải càng được giữ vững.

Tóm lại, theo tôi, văn học Việt Nam 50 năm qua đã có nhiều thành tựu góp phần định hình cho thế hệ nối tiếp. Nhưng chúng ta cũng cần phải tự cởi trói ra khỏi những sáo mòn. Chúng ta cần thay đổi trong cách tiếp nhận những tác phẩm mang tính tìm tòi, giao thoa với văn chương thế giới, nhưng vẫn giữ được bản sắc vốn có. Cần thay đổi tiêu chí đăng bài ở các tạp chí, kênh văn học nghệ thuật. Cần có chính sách tạo điều kiện trong việc in ấn, xuất bản, công bố tác phẩm những tác giả mới, chưa có nhiều tên tuổi và lượng người đọc. Tạo nhiều hơn những buổi gặp gỡ, trao đổi để người trẻ được thẳng thắn cất lên quan điểm, tiếng nói. Tư vấn các ngành nghề liên quan đến văn học để bổ trợ việc sáng tác, tạo các buổi tư vấn hướng nghiệp, trung tâm tư vấn. Thúc đẩy văn hoá dịch thuật, xây dựng và mở rộng không gian kết nối, giao lưu cùng các tác giả trẻ trong phạm vi khu vực (Đông Nam Á, Châu Á) và thế giới, mở rộng các cuộc thi viết song ngữ, đa ngữ. Mở rộng không gian trình diễn nghệ thuật với các trưng bày, triển lãm văn học, hay sân khấu hóa các tác phẩm văn học…

Bằng những trải nghiệm và quan sát thực tế, cũng như những ý kiến, quan điểm mà tôi góp nhặt được từ thế hệ người viết cùng trang lứa, tôi xin bày tỏ suy nghĩ của mình như trên. Tôi là một người viết trẻ, lần đầu xuất hiện tại những buổi toạ đàm như thế này, nên rất mong được học hỏi thêm từ thế hệ đi trước, các nhà văn, nhà thơ, cô chú, anh chị tham dự ở đây. Mong mọi người sẽ gỡ được những nút thắt trong chính văn chương của mình, và có được sự tự do thực sự trên trang viết. Xin chân thành cảm ơn!

Trần Văn Thiên/Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm