TIN TỨC

Chúng ta có thực sự tự do trong chính tác phẩm của mình?

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-19 08:26:43
mail facebook google pos stwis
1081 lượt xem

Văn học, cũng như các lĩnh vực khác, theo tôi đều có những dòng chảy nối tiếp âm thầm, tạo nên nhiều sự giao thoa, đan cài giữa cũ và mới, quen thuộc và khác lạ.

50 năm văn học Việt Nam từ năm 1975 đến nay, cũng đã và đang tạo nên một bộ mặt văn chương đất nước từ những sự giao thoa. Trong tầm hiểu biết hạn hẹp của mình, với tư cách là một độc giả và cũng là một người viết trẻ, tôi được kế thừa rất nhiều từ thế hệ các nhà văn đi trước. Từ giai đoạn Đổi mới năm 1986, đến giai đoạn Hội nhập mở cửa năm 1995, văn học cũng vận động theo tiến trình lịch sử của đất nước. Tôi đã được nghe, được đọc các tên tuổi, tác phẩm như Đứng trước biển, Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Thời xa vắng của Lê Lựu, Bến quê của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng…

Tiếp tục là những sự giao thoa sang giai đoạn hội nhập với nhiều tên tuổi lớn trên văn đàn mà tôi thật sự ngưỡng mộ tài năng của họ. Tất cả dường như đều có một địa hạt văn chương riêng, với sự phát triển trong cả chủ đề, bút pháp, nhằm không chỉ kế thừa mà còn tự vẽ ra cho mình một con đường riêng, một phong cách riêng, trong công việc sáng tạo mà tự mỗi nhà văn đều ý thức rất rõ những sự thôi thúc, dồn nén bắt nguồn từ thời đại họ đang sống, từ thân phận con người.

 

Tác giả Trần Văn Thiên phát biểu tại Tọa đàm “50 năm văn học Việt Nam từ sau năm 1975: Góc nhìn của những người viết văn trẻ”.

 

Tài năng của họ được thể hiện rất rõ trong những tác phẩm mà tôi có điều kiện được tiếp xúc từ nhỏ, chính là một trong những yếu tố thôi thúc tôi dấn thân vào con đường văn chương, mặc dù tôi là dân tự nhiên chính hiệu, từ thời học cấp III đến nghề nghiệp hiện tại. Với bản thân tôi, ngoài những trải nghiệm trong cuộc sống cá nhân, thì việc đọc và học hỏi từ thế hệ cầm bút đi trước, đã đem lại nguồn cảm hứng và động lực âm thầm để tôi sẵn sàng cất lên tiếng nói qua con chữ của mình. Và tôi nghĩ không chỉ riêng tôi mà thời đại nào cũng vậy, thế hệ sau luôn có tính kế thừa thế hệ trước, nhưng việc phải làm sao viết khác đi, mới hơn những gì đã được khai thác rất nhiều trở thành một thách thức lớn, đặc biệt là với thế hệ nhà văn trẻ.

Có lẽ sẽ có nhiều tác giả như tôi, bắt đầu hình thành niềm yêu thích văn chương từ những bộ truyện dành cho tuổi mới lớn của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, vào lúc còn ngồi trên ghế nhà trường. Rồi lớn hơn chút nữa, tôi lại muốn tìm đọc những tác phẩm mới hơn, quyết liệt hơn, mở rộng nhận thức của mình về đời sống. Trong những trải nghiệm văn chương của mình, tôi vẫn còn nhớ cảm xúc của lần đầu đọc Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, tôi đọc trong một nhà sách ở thành phố, không đủ tiền mua cả cuốn sách nên tôi đã ngồi hết một buổi chiều ở đó để đọc đến kết truyện. Hay một buổi tối mùa đông ở kí túc xá, tôi học bài đến khuya, rồi tình cờ đọc được truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông của nhà văn Nguyễn Quang Thiều, tôi đã rùng mình vì thân phận con người trong tác phẩm. Đó chính là những tác phẩm gây ấn tượng mạnh trong nhận thức một đứa trẻ mới lớn là tôi lúc ấy.

Càng trải nghiệm đời sống, mở rộng vốn sống và sự hiểu biết, tôi càng muốn tìm tòi để đọc và học hỏi. Có những cuốn sách tôi chưa hiểu hoặc hiểu chưa đủ sâu ở thời điểm này, nhưng qua nhiều năm sau đọc lại tôi thấy tác phẩm ấy lại tạo những dấu ấn khác. Từ một người cảm thấy chủ đề chiến tranh không phù hợp với mình, tôi chuyển qua tìm đọc những tác phẩm viết về chiến tranh. Từ giai đoạn không thích đọc văn học nước ngoài vì thấy xa lạ, sau này tôi lại muốn đọc nhiều hơn văn học Nhật, văn học phương Tây, những tên tuổi lớn. Và tôi thấy ở những tác phẩm lớn, dường như các nhà văn luôn sẵn sàng mở rộng chiều kích văn chương, tức là họ không dè chừng, hay e ngại, rằng tác phẩm của mình với phong cách và chủ đề này sẽ kén người đọc, hay gây ra những hiệu ứng ngược. Nói như Makenzy Orcel, một nhà thơ và tiểu thuyết gia người Haiti, rằng “Văn chương cũng phải sục cả vào những vùng tối” (Tuổi trẻ cuối tuần, 2023).

Văn học Việt Nam 50 năm qua, theo tôi có nhiều tác phẩm đã gây tiếng vang ngay lúc mới công bố, và sống mãi trong lòng người đọc. Chủ đề chiến tranh, hậu chiến tranh, thân phận con người, nông thôn Việt Nam được khai thác xuyên suốt. Nhưng dường như vẫn chưa có nhiều tác phẩm vượt thoát tư tưởng thời đại, mở ra một con đường mới ít người dấn thân, một bản sắc mới, tư tưởng mới, thay đổi những cách nhìn quen thuộc. Chúng ta dường như vẫn đã và đang đi theo những lối mòn, với cách tiếp nhận bằng một hệ quy chiếu ít chịu thay đổi. Có những cuộc thi mà tác phẩm được vinh danh khiến tôi bất ngờ, vì sự cũ mòn trong tư tưởng và bút pháp. Điều đó khiến một bộ phận lớn độc giả cảm thấy mất tin tưởng vào chất lượng văn chương nước nhà. Chúng ta đang sống ở thời kì hội nhập, và cùng với đó văn chương Việt Nam cũng đang dần hội nhập. Các cây bút trẻ hiện nay đã và đang quyết liệt tìm một lối đi mới, không còn là chủ đề chiến tranh, hậu chiến tranh, không còn là nông thôn Việt Nam, bi kịch gia đình, khắc hoạ bức tranh một đất nước đang phát triển bước ra từ chiến tranh, mà họ đã có sự giao thoa, ảnh hưởng từ văn chương thế giới. Khi biên độ được mở rộng, họ muốn vượt thoát những cái kén cũ mòn, chọn một cách viết khác, mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, độc đáo hơn, sẵn sàng chọn những chủ đề, hình ảnh gai góc mang vào trang viết, cho nên theo tôi, chúng ta cũng cần phải thay đổi trong cách tiếp nhận. Thế hệ nhà văn đi trước, cần thay đổi trong cách tiếp nhận những tác phẩm thể hiện tính tìm tòi của thế hệ nhà văn kế thừa. Cần tôn trọng sự đa dạng, phong phú, nhiều chiều kích của văn chương, và không áp đặt tư tưởng, cách nhìn cá nhân để đánh giá chất lượng một tác phẩm mới.

Chúng ta còn đang đi những lối đi an toàn, né tránh những chủ đề được coi là nhạy cảm. Chúng ta có thực sự tự do trong chính tác phẩm của mình? Dường như chúng ta vẫn còn phải khéo léo uốn nắn, tránh né nhiều chỗ trong tác phẩm để vượt qua khâu kiểm duyệt, hay chấp nhận chọn một tác phẩm an toàn để vinh danh? Vẫn chưa có nhiều tạp chí, kênh văn học nghệ thuật chọn đăng bài theo xu hướng mở, tức là đăng những tác phẩm có tính tìm tòi, thể nghiệm. Tôi tự hỏi những nhà văn, nhà thơ của văn học Việt Nam ở thế hệ trước có những áp lực vô hình như những nhà văn, nhà thơ ở thế hệ hiện tại? Rồi tôi nghĩ thời nào cũng sẽ có áp lực riêng. Việc sống trọn vẹn với văn chương để cho ra đời những tác phẩm lớn trong thời buổi nào cũng đầy rẫy khó khăn. Với thời đại hiện nay, việc sống đủ chỉ bằng nghề viết văn thật sự bất khả. Và nhiều cây bút chấp nhận chọn con đường viết theo lối thị trường, tạo sự dễ dàng, thuận lợi trong việc công bố tác phẩm, cũng là một trong những nguyên nhân khiến nội tại văn chương chưa được khai phóng hết. Ta sẽ thấy những tác phẩm lặp lại, na ná nhau, nhưng lại dễ đọc, và cũng chưa đột phá. Càng nhiều tác phẩm như vậy sẽ khiến văn chương chững lại, không có sự phát triển.

Tôi nghĩ rằng muốn có sự phát triển, cần tôn trọng và chấp nhận những cái nhìn đa chiều. Nhưng theo tôi quan sát, chúng ta hiện nay dường như đang có một khoảng trống rất lớn của lí luận phê bình. Phải là lí luận và phê bình đúng nghĩa, tức là không cả nể, sợ mất lòng nhau. Dựa trên các cơ sở khoa học một cách khách quan, để thấy sự đủ và thiếu của một tác phẩm. Chúng ta cũng còn nhiều hạn chế ở mảng truyền thông các tác giả, tác phẩm trong nước để công chúng được biết đến rộng rãi. Đối với những tác giả mới chưa có sẵn tệp người đọc, thì việc in ấn, xuất bản cũng luôn gặp khó khăn. Các ngành nghề liên quan đến viết văn cũng chưa được tư vấn và phổ cập rộng rãi. Và trong xu thế kỉ nguyên mới như hiện nay, những người viết thực thụ còn gặp phải sự cạnh tranh đến từ AI (Artificial Intelligence – trí tuệ nhân tạo). Có một số người sẽ bắt đầu dùng AI để viết văn, làm thơ, và cũng không ít tác phẩm từ AI sẽ lọt qua khâu duyệt bài, cũng chính từ tiêu chí chọn những tác phẩm dễ đọc, dễ hiểu, dễ tiếp cận. Bên cạnh đó, cũng có một số phần mềm AI kiểm tra sai những tác phẩm vốn hoàn toàn được viết bởi con người. Kết quả là một số tác giả bị đánh đồng rằng sử dụng AI để viết văn, đặc biệt là những tác giả mới, chưa có nhiều tên tuổi. Cho nên trong bối cảnh thật giả lẫn lộn đó, việc viết một tác phẩm chất lượng, tránh những vòng lặp cũ kĩ lại càng quan trọng. Và đạo đức của người viết lại phải càng được giữ vững.

Tóm lại, theo tôi, văn học Việt Nam 50 năm qua đã có nhiều thành tựu góp phần định hình cho thế hệ nối tiếp. Nhưng chúng ta cũng cần phải tự cởi trói ra khỏi những sáo mòn. Chúng ta cần thay đổi trong cách tiếp nhận những tác phẩm mang tính tìm tòi, giao thoa với văn chương thế giới, nhưng vẫn giữ được bản sắc vốn có. Cần thay đổi tiêu chí đăng bài ở các tạp chí, kênh văn học nghệ thuật. Cần có chính sách tạo điều kiện trong việc in ấn, xuất bản, công bố tác phẩm những tác giả mới, chưa có nhiều tên tuổi và lượng người đọc. Tạo nhiều hơn những buổi gặp gỡ, trao đổi để người trẻ được thẳng thắn cất lên quan điểm, tiếng nói. Tư vấn các ngành nghề liên quan đến văn học để bổ trợ việc sáng tác, tạo các buổi tư vấn hướng nghiệp, trung tâm tư vấn. Thúc đẩy văn hoá dịch thuật, xây dựng và mở rộng không gian kết nối, giao lưu cùng các tác giả trẻ trong phạm vi khu vực (Đông Nam Á, Châu Á) và thế giới, mở rộng các cuộc thi viết song ngữ, đa ngữ. Mở rộng không gian trình diễn nghệ thuật với các trưng bày, triển lãm văn học, hay sân khấu hóa các tác phẩm văn học…

Bằng những trải nghiệm và quan sát thực tế, cũng như những ý kiến, quan điểm mà tôi góp nhặt được từ thế hệ người viết cùng trang lứa, tôi xin bày tỏ suy nghĩ của mình như trên. Tôi là một người viết trẻ, lần đầu xuất hiện tại những buổi toạ đàm như thế này, nên rất mong được học hỏi thêm từ thế hệ đi trước, các nhà văn, nhà thơ, cô chú, anh chị tham dự ở đây. Mong mọi người sẽ gỡ được những nút thắt trong chính văn chương của mình, và có được sự tự do thực sự trên trang viết. Xin chân thành cảm ơn!

Trần Văn Thiên/Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm