TIN TỨC

Còn đây tiếng vọng quê nhà…

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-09-19 17:11:29
mail facebook google pos stwis
2238 lượt xem

Nhà văn - Dịch giả Trương Văn Dân

 

 Nhà văn Trương Văn Dân sinh năm 1953 tại Tây Sơn. Sau khi tốt nghiệp tú tài năm 1971, ông du học ở Ý và trở thành chuyên gia hóa dược. Sau gần nửa thế kỷ sống và làm việc ở nước ngoài, gần đây ông cùng vợ là nhà văn, tiến sĩ ngôn ngữ học Elena Pucillo về Việt Nam, sống tại TP Hồ Chí Minh. Ông giảng dạy bậc đại học, và viết văn.

 

Dù đi đâu, ông vẫn hoài vọng về quê nhà, luôn dành những hồi ức ấm áp về quê hương nơi góc nhỏ tim mình. Những ngày cuối năm 2021, chúng tôi có dịp được trò chuyện cùng ông, lắng nghe ông sẻ chia về sáng tác và những thân thương dành cho xứ Nẫu.

 

* Thưa nhà văn, dường như gần đây ông đang khá bận rộn với những tác phẩm của mình?

 

- Ngoài các tác phẩm mình in trước đây như tập Hành trang ngày trở lại (tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2007), tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa (2011), Milano - Sài Gòn đang về hay sang (2018) và một số sách dịch, gần đây, sau chuyến bay về tâm dịch Ý đầu năm 2020 thì tháng 6.2020 tôi ra mắt tiểu thuyết Trò chuyện với thiên thần. Đến tháng 10.2020, tôi đứng tên chung cùng nhiều bạn viết trong cuốn Cùng… bay về tâm dịch.

 

Tôi cũng vừa gửi cho một nhà xuất bản bản thảo 2 tập truyện ngắn, có lẽ sách sẽ in trong năm 2022.

 

* Ông có thể chia sẻ đôi điều về 2 tập bản thảo vừa rồi?

 

- Hạt bụi lênh đênh và Nỗi đau ngọt ngào là tên hai tập bản thảo sắp in. Trong đó, Hạt bụi lênh đênh là tập truyện dịch của “con dâu Tây Sơn” - Elena Pucillo Truong. Các truyện được chọn lọc về các chủ đề v ề Phật giáo dưới góc nhìn của một người Ý sống ở Việt Nam. Ngoài ra còn có các truyện ngắn chọn lọc khác và các bài vi ết về Leonardo da Vinci, viết về Hà Nội, những suy nghĩ trong đại dịch Covid-19, các cuộc gặp bạn văn, chuyến đi làm từ thiện ở quê nhà Tây Sơn…

 

Về cuốn Nỗi đau ngọt ngào tản văn mà hai vợ chồng tôi in chung. Các truyện ngắn phần lớn đều có chủ đề về gia đình. Nỗi đau ngọt ngào vì gia đình là nơi êm ấm nhất nhưng nếu thiếu “tình”, thiếu sự đồng cảm san sớt, thì cũng sẽ mang lại cho ta nhiều đau khổ.

 

* Tôi nghe tin ông cũng vừa hoàn thành hai bản thảo tiểu thuyết?

 

- Đúng vậy! Tôi vừa hoàn thành bản thảo 2 tiểu thuyết trong mùa dịch Covid: Cử chỉ cuối cùng và Lỗi định mệnh. Khác với hai tiểu thuyết đã xuất bản là Bàn tay nhỏ dưới mưa Trò chuyện với thiên thần dự báo tai họa của thế giới và đề cập đến vấn đề xã hội và toàn cầu hóa, hai tiểu thuyết mới này được viết theo lối truyền thống, nói về tình yêu nhưng tiếp cận qua các góc nhìn rất khác nhau.

 

Với Cử chỉ cuối cùng, câu chuyện bắt đầu từ một tình cờ của lịch sử xảy ra 8 thế kỷ trước khi 2 thanh niên đến từ 2 châu lục khác gặp nhau ở một thành phố biển tại Ý, bối cảnh là TP Milano. Tình yêu của họ là một sự hòa hợp vẹn toàn, hạnh phúc ngập tràn nhưng khổ đau cũng lắm khi chạm trán vô thường. Tiểu thuyết có nhiều đối thoại triết lý về tình yêu, về lẽ tử sinh… và đoạn kết là một tiếng sét bất ngờ, gây tranh luận và làm chấn động dư luận Ý, đến những vấn đề lớn của thời đại mà hiện nay nhiều nước trên thế giới vẫn còn đang tranh cãi.

 

Lỗi định mệnh lấy bối cảnh ở Bãi Mơ - một làng chài cách thành phố biển Quy Nhơn không xa. Đây là một chuyện tình muộn màng, dù “một đời chưa đủ để yêu nhau” nhưng nhờ sự đồng cảm và yêu thương, chung thủy, hai người đã dành tình yêu sâu nặng cho đ ến cuối đời. Tình yêu ấy làm cho bất kỳ ai cũng đều mơ ước.

 

* Bình Định xuất hiện thường xuyên trong sáng tác của ông?

 

- Bình Định như mạch ngầm chảy mát hồn tôi. Nơi ấy có những bè bạn ấu thơ, có ký ức một thời nghèo khó nhưng ấm cúng. Đây cũng là nơi giàu trầm tích văn hóa, con người đôn hậu nhiệt thành. Mọi thứ quện quyện trong ký ức, trong hôi hổi những hạnh ngộ hôm nay, là nguồn chất liệu dồi dào trong nhiều trang văn của tôi.

 

Năm 1996 tôi có viết 1 truyện ngắn Hành trang ngày trở lại. Truyện ngắn lấy bối cảnh là TP Quy Nhơn. Sau được in và làm tựa đề cho một tập truyện cùng tên. Rải rác trong các trang viết tôi có nhắc về Tây Sơn, về Bình Định. Đặc biệt là trong tiểu thuyết sắp xuất bản - Lỗi định mệnh thì có nói nhiều về lịch sử Bình Định, biển Quy Nhơn, về Gò Lăng, Phú Lạc, các món ăn đặc sản ở Phú Phong…

 

* Là người hoài niệm, xa nơi chôn nhau cắt rốn hẳn ông còn lưu giữ nhiều ký ức quê nhà?

 

- Tây Sơn ắp đầy nơi tôi nhiều kỷ niệm. Đây là nơi tôi sinh ra và lớn lên, tuổi mới lớn, biết yêu, biết làm thơ… trở thành những ký ức sâu đậm trong những ngày xa xứ. Sau này vì hoàn cảnh, tôi ít về quê hương. Còn các bạn cũ thất lạc nhiều. Tuy vậy, hơn 10 năm nay, năm nào tôi cũng cố gắng thu xếp về, vui gặp bạn cũ. Tôi thường về vào tháng 7, vì lễ Vu Lan năm nào cũng tháp tùng gia đình đi làm từ thiện.

 

Lúc còn ở Ý, vợ chồng tôi có tham gia hoạt động trong QTT - Quỹ tương trợ người Việt tại Ý - thành lập 2002 bởi sự gợi ý của 6 sáng lập viên nhằm quy tụ người Việt định cư tại đây với mục đích hướng về quê hương Việt Nam. QTT hoạt động chủ yếu tại 3 lãnh vực: Từ thiện, văn hóa, xã hội. Tính đến 2010 thì QTT đã cấp khoảng 1.000 học bổng cho học sinh, sinh viên nghèo ở Việt Nam, đã xây dựng lại trường Tây Thuận (Tây Sơn, Bình Định) bị đổ nát vì bão lũ, đóng góp hơn 300 triệu đồng cho các công tác từ thiện khác (cứu trợ bão lụt, giúp trẻ em mồ côi, trẻ em khuyết tật…). Tôi có về Việt Nam thì vẫn còn nhiều bạn khác tiếp tục duy trì hoạt động của QTT. Tôi mong quỹ sẽ còn hoạt động dài lâu đểhỗ trợ phần nào đó cho những người, những nơi cần sự giúp đỡ.

 

* Những ngày cuối năm, ai xa xứ hầu như đều chung tâm trạng bùi ngùi nhớ tết quê?

 

- Tôi cũng không ngoại lệ. Xa quê từ năm 1971, mãi đến năm 2009 tôi mới về lại Việt Nam. Cũng ngót nghét 40 năm mới lại đón cái tết truyền thống quê hương, không khí tết, cách đón tết, phong tục… mọi thứ đều đã ít nhiều khác xưa. Nhưng tết đến luôn làm mình xúc động dù thời đại đã khác. Sau năm 2009, thì tôi về nhiều lần. Lần nào về, cũng nôn nao. Dù đã có nhiều thay đổi, nhưng tết quê người Việt chúng ta vẫn mang những đầm ấm sum vầy.

 

Điều may mắn là vợ tôi cũng rất thích về Việt Nam, phải nói là vợ tôi rất yêu mến Việt Nam. Cô ấy đã tổ chức nhiều hội thảo ở Ý về Việt Nam. Đặc biệt, còn tham gia tổ chức cả hội thảo “Tết Việt Nam, phong tục và truyền thống”. Ở Ý, những người Việt xa quê như chúng tôi vẫn đón tết cổ truyền hằng năm. Như Tết 2020, chúng tôi tổ chức tại Milano vào trưa Chủ nhật với sự hiện diện của gần 400 bạn bè Việt - Ý, các hội đoàn, thân hữu. Buổi họp mặt ngoài chương trình đoàn tụ còn có các tiết mục biểu diễn võ thuật, ca nhạc, trình diễn áo dài, giới thiệu sách, múa lân... rất ấm áp, hoành tráng.

 

Bản thân tôi, vẫn luôn mong được đón tết cổ truyền trên chính quê nhà. Đi là đểtrở về, chúng tôi cũng luôn mong muốn có dịp về thăm lại Tây Sơn, các nơi ở Bình Định. Chính vì vậy, hai vợ chồng tôi cố gắng chủ động sắp xếp đểcó thểtrở về.

 

* Cám ơn nhà văn về cuộc trò chuyện này. Mong yêu thương từ quê nhà sẽ luôn được ủ ấm mặc cho bao khoảng cách về địa lý. Kính chúc ông và gia đình thật nhiều sức khỏe và bình an, đón một cái tết đầm ấm, nhiều niềm vui.

 

 

VÂN PHI (Thực hiện)

                                     

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm