TIN TỨC
  • Truyện
  • Con đò lặng lẽ - Truyện ngắn Lê Thị Việt Hà

Con đò lặng lẽ - Truyện ngắn Lê Thị Việt Hà

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-05-02 21:34:36
mail facebook google pos stwis
1571 lượt xem

Cuộc sống vốn bộn bề, nhiều khi không thấy đâu là bến bờ, chỉ một vùng trắng xóa mập mờ nhập nhằng sương khói. Một triền sông toang hoác những bến lở khoét sâu vào bờ đất, trơ ra những chùm rễ cây, mặc nước dập tả tơi, lôi kéo. Lá cành thì vẫn lay theo gió níu giữ lại những cặm cụi chắt lọc bao đời. Chỉ có thân cây oằn mình chịu đựng mọi sự giằng giữ. Giang cứ ngồi bên hòn đá tảng ven sông, tay giặt, mặt thỉnh thoảng nhìn về phía bờ kia, ngắm rễ tre già và mơ hồ suy tư như thế. Mà rõ ràng như thế.

Ảnh minh họa

   Bao giờ cơn gió trở về, mùa mưa nặng hạt, những dòng mương ăm ắp phù sa, cho dòng sông thấp thoáng bóng con đò…

 Để bến bờ được trải lòng cùng những phút giây chờ đợi…

Gió như hắt vào bến bãi rủ con đò chòng chành nhịp phân vân. Giang chỉ sợ mùa mưa tan vào bờ cát, trơ trọi lòng sông, con đò không thể ngược dòng. Mắt Giang hút dài xuống cuối khúc sông vắng. Dòng sông nôn nao những nhịp chèo. Con đò đầy, con đò vạm vỡ…con đò ơi…

 

                                                             * * *

   Con đò ấy từng chạm vào bờ cát, mắc cạn giữa bãi bồi.  Quãng này sông ưỡn ức gà chia dòng để vận lại một vực vô đáy ở cuối bãi, ục nghẹn ở đó một vòng rồi trồi ngược mái đầu bạc phếch lao về cuối khúc quanh. Chỉ có những con đò quen mới không chạm mũi vào bởi nếu chạm vào thì rách bươm cùng sỏi đá sau khi có thể kéo ra. Con đò chở hàng ở dưới xuôi lên, có vẻ như mới qua đây lần đầu. Sau mấy ngày úp mình đục đẽo, con đò trôi xuôi, bỏ lại một vệt dài cuộn theo chân nước.

   Ngày thứ nhất, con đò vật vã mãi mới lên tới bờ chờ ông Tư mang đồ nghề ra sửa giúp. Ông Tư làm nghề này từ nhỏ. Cái nghề theo ông Tư là phải có đức tin thiêng liêng vào tổ nghiệp. Cha ông từng bỏ nghề cũng vì cho rằng mình đã làm nên tội lỗi khi con đò vỡ đôi kéo theo đôi vợ chồng trẻ. Cũng tại con thác mùa lũ quá tợn nhưng cha ông vẫn bỏ nghề. Ông tiếp tục sau khi cha khuất núi bởi ông là người duy nhất trong làng biết làm nghề. Ông không làm thì xóm giềng lấy thuyền đâu để kiếm cái ăn, đi xa mua khổ lắm.  Sông quê ông nhiều ghềnh lắm đá nên công việc của ông càng khó khăn hơn. Ông không dám đóng thuyền lớn chỉ đóng những con đò nhỏ cho người ta đánh cá thả câu hoặc chở khách qua sông thôi. Nhìn đầu đám học trò nhấp nhô, chòng chành theo dòng lũ vào những sáng tinh mơ ông chợn lắm nên ông không bao giờ dám làm ẩu.

  Ông Tư và anh chủ đò đo từng tấm gỗ, đẽo gọt cho vừa khít mất hết một ngày. Gỗ dầu hoặc xoan đào ông mua về cưa nhỏ theo kích cỡ để sẵn trong nhà một ít, có ai đặt thuyền thì ông mới mua nhiều. Đinh thuyền ông cũng phải đặt ở lò rèn bên kia sông mới có. Ngày trước sông nước chảy đều quanh năm, ông đóng cũng nhiều. Còn giờ, nhiều người phải bỏ nghề sông bởi dòng nước quá bất thường. Mùa khô trắng lòng lâu quá, mùa mưa bạo ngược không theo qui luật nữa rồi. Nên những con thuyền chở hàng ngược ngàn như gã thật hiếm lạ với vùng này.

   Ngày thứ hai, con thuyền được vá víu lành lặn. Khuôn mặt chủ đã bớt lo âu và bờ sông vẳng vất tiếng nói cười. Ông Tư biết được anh chủ đò từng làm chủ một chiếc ghe lớn ở dưới xuôi, chuyên chở hàng hoá đi các chợ tỉnh. Anh vừa là chủ ghe vừa là chủ hàng nên nhiều tiền lắm. Đêm đêm lạc vào những vùng đất lạ, không cầm lòng nằm nghe bờ sông ì oạp, gã lên bờ đi rông. Gã lạc vào quán rượu say khướt cùng những chủ hàng khác mới quen. Thế rồi, những chiếu bạc thâu đêm dẫn dụ gã vơi dần những chuyến hàng và cuối cùng chiếc ghe lớn cũng neo lại bến người nên gã mới thất thểu trở về bến cũ. Gã là thế, luôn đi tới sự tận cùng dù là thất bại để có thể dứt bỏ mọi sự nghi vấn trong đầu về kết quả cuối cùng của nó. Và trắng tay.

   Tay trắng thì làm thuê gầy dựng lại. Gã xin bốc hàng cho ghe người khác. Sau một năm bán vai cho những chuyến hàng nặng nề, gã gom tiền sửa lại chiếc thuyền này để bán buôn. Gặp lúc trắng tay, món gì gã cũng mua, cũng bán, lời nhiều bù lời ít, cứ thế lắt lay theo con nước. Thương hồ rong ruổi, mỗi năm đôi bận gã mới ghé về thăm nơi hương hỏa mẹ cha, nơi có nhà thờ họ, có ông bác trưởng tộc giữ gìn. Mỗi lần về gã thường mua cả thịt chả, hoa quả để cúng và thăm căn nhà đã hoen rêu một lát rồi đi. Quay quắt trở về và lại vội vã ra đi như thôi thúc một lời hẹn thề, để lấp đầy một thoáng chơi vơi rồi theo gió mà toang hoang trên những quãng sông dài và vắng. Mỗi bận về gã lại đối mặt với những câu thúc giục vặn vẹo của họ hàng về tông, về giống. Gã cứ ậm ừ cho thoát nợ. Sao mà dễ “mày chịu là tao đi bỏ trầu ngay”. Mà người đâu ai nào có thấy, thấy rồi nào dễ ưng nhau, mà mất thời gian lắm. Đi cho rồi.

   Không phải gã không thích đàn bà vì gã là đàn ông “chính hiệu” nhưng thấy ngại, gặp rồi bâng quơ như đi qua một cái bến bởi cắm sào ở một nơi nào đó để gầy dựng một gia đình sao thấy quá mông lung. Gã chỉ sợ không đủ kiên nhẫn neo đậu lâu ở một nơi cố định nào đó. Mà rong ruổi như cha mẹ gã thì thật phiêu diêu. Rồi con cái, học hành…Về lại mảnh vườn xưa sao thấy bỡ ngỡ với từng cục đất, cọng rơm. Gã thấy rất nhiều những con đò vắng bóng đàn ông, những người đàn ông tội lỗi đã để lại những cơn bão dữ dội trong những khoang thuyền chật hẹp.

   Ngày thứ ba, sau khi làn khói cuối cùng của bó hương trầm vừa tan vào bọt nước, ông Tư cùng mấy người đàn ông lực lưỡng nữa và gã đã lật ngửa con đò xuống sông. Ông Tư luôn làm lễ cúng trước khi hạ thuỷ những con thuyền. Ông rất tin vào những tập tục mà cha ông đã thực hiện và cũng để tạ ơn sông nước cho ông, cho bao người cuộc sống. Ông đã lớn lên cùng mùi tanh của cá sống và mùi thơm lừng của siêu cá mẹ ông kho.

   Dặm vá thêm nhiều khe hở bằng thứ vỏ tràm dẻo ông mua từ dưới vùng biển lên nữa mới được. Dòng sông đá cuội đủ màu dưới làn nước trong veo soi rõ đôi bờ quai hàm vuông cạnh che phủ một lớp râu xanh tự do mọc cả tuần nay của gã. Khuôn mặt ngoài ba mươi đã lộ ra tất cả những trải nghiệm tuổi trẻ, một quãng thời gian chỉ đủ cho những cuộc thử nghiệm. Gã đè cả hai đôi tay cuồn cuộn cơ bắp nhấn mạnh xuống mạn để kiểm tra độ chắc chắn. Và gã lại như nhớ tiếc chiếc ghe máy cũ. Không hẳn ân hận vì mình làm mình chịu nhưng tiếc. Tiếc của, tiếc công và tiếc thời gian 3 ngày dìm mình ở nơi hoang vắng này sửa thuyền. Con nước vơi đầy, bồi lở, cuộn xoáy và lại hiền hoà giúp gã quên đi bản tính nóng vội của tuổi trẻ. Con người phải trôi cùng con nước để có thể neo đậu ở bến cuối cùng nên không thể coi thường sức nước được. Với lại con thuyền cũ rồi. Kỉ niệm nhiều khi gợi bao niềm ngậm ngùi.

  Gã không thể quên tuổi thơ của mình trên con thuyền nhỏ cùng cha mẹ và những đêm một mình trong khoang lạnh. Gió thì cứ hun hút thổi cho con nước nổi bọt lăn tăn. Sóng nước vỗ về giấc ngủ và vỗ về nỗi đau gã mồ côi. Cha mẹ gã gửi liều gã cho ông bà nội, vượt biển đến bên kia đại dương nhưng bất thành. Những con sóng quái ác không cản bước họ lưới vó nhưng đã cản bước họ quay vào bờ sau khi đã quay lưng với bãi cát thân thuộc. Cũng chỉ mong một cuộc sống bớt lênh đênh thôi. Mà sao khó, mà sao đắt, mà sao đau xót quá!

   Từ bé, gã cùng cha mẹ rong ruổi quanh năm bán buôn nên không quen với những chi tiết cố định trong cả suy nghĩ và sự quan sát. Gã thích sự chuyển động và sau khi giã từ trường lớp bạn bè, gã bỏ ngôi nhà ông bà nội trên bờ chống sào ra đi. Bao nhiêu con sông, bao nhiêu cửa biển đã đi qua cuộc đời để cuối cùng mắc cạn ở bãi đá này. Chuyến hàng này gã chở thuê cho một người bạn.

  Có vẻ như sự tĩnh lặng của bến đò luôn phấp phỏng những chuyến đi về không bình yên bằng những cơn sóng chòng chành. Đi hay ở với gã là vô hạn định nhưng luôn chủ động theo nhu cầu bản thân. Gã ít khi chờ lâu trên một bến đợi. Ba ngày với gã lâu thật, gã muốn buông chèo ngay. Trước khi đi gã phải mua thêm ít đồ dùng, đồ ăn ở quán tạp hoá nhỏ cạnh bờ sông của mẹ Giang. Giang đâm sầm vào gã ngay lối ra vào vì vô ý, gã chỉ sựng mắt lại nhìn đôi má đỏ lựng của Giang rồi mua đồ. Giang bán. Bán trong im lặng. Gã mua xong thì ra đi. Đi trong im lặng.

   Không hẳn gặp gỡ mà sao như níu giữ một lời chào và quyến luyến một lời chia biệt. Đôi má ấy chợt giằng giữ bước chân.

   Không hẳn hẹn thề mà sao như níu giữ một lời hứa đợi và dai dẳng một niềm mong chờ. Đôi mắt ấy chợt hiện về nguyên vẹn sự khác biệt.

 

  * * *

  Bao giờ cơn gió trở về, mùa mưa nặng hạt, những dòng mương ăm ắp phù sa, cho dòng sông thấp thoáng bóng con đò. Cho chuyến đò quen ngược dòng. Cho bao lần mua bán im lặng.

  Và những chiều mong đợi im lặng./.

 

L.T.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm
Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai
Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.
Xem thêm
Chuyện lạ ngày Xuân “Ăn trộm đào”
LTS: Mỗi độ Tết đến, giữa không khí lễ hội tưng bừng, không ít người phương Đông vẫn còn niềm tin mơ hồ rằng thực và ảo có thể bất chợt giao nhau. “Ăn Trộm Đào” là một câu chuyện như thế — vừa mang dáng dấp hội hè, vừa phảng phất trò ảo thuật dân gian. Truyện do nhà văn Bồ Tùng Linh (Pu Songling) ghi chép trong Liêu Trai Chí Dị vào đời Thanh. Bản tiếng Anh dùng để dịch ở đây là của Herbert A. Giles xuất bản năm 1880 trong cuốn Strange Stories from a Chinese Studio. Hiện nội dung được công khai trên Project Gutenberg, như một nhịp cầu nối kho tàng truyện cổ với độc giả quốc tế.
Xem thêm
Thương nhau ngày Tết - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Mưa cuối mùa, tầm tã nặng hạt, như trút cho hết nước xuống từng ngõ ngách nội đô. Tiếng gió thốc mạnh, va vào tấm bạt như muốn xé toạc bằng cơn thịnh nộ. Mỗi lần gió lớn, tấm bạt tròng trành đổ ào đống nước nặng trịch xuống đường, văng tung tóe. Bên dưới, người đàn bà ngồi co ro, cái gánh chè đậu đen, đậu xanh còn nóng hổi nhưng chưa bán được một nửa, đành chịu cảnh vắng khách. Chiếc nón lá thỉnh thoảng bị gió thổi bật ra phía sau như một trò bỡn cợt với thân phận người nghèo, trượt giữa mặt đường đời, chông chênh và cam chịu.
Xem thêm
Quỳnh hương điện ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Dương Vân Nga lại tiến đến bên chiếc long bào. Tay đưa ra, rồi dừng lại giữa chừng. Vải gấm thêu chỉ vàng sáng lên lấp lánh dưới ánh nến. Mỗi sợi chỉ vàng là một lời thề, một trách nhiệm, một cái giá phải trả. Chiếc áo này của triều Đinh, của nhà Đinh. Nếu trao cho Lê Hoàn, nó sẽ thuộc về một triều đại khác, một dòng tộc khác. Nhưng nếu không trao? Bà nghĩ đến quân Tống đang rình rập. Nghĩ đến cảnh binh đao khói lửa ngút trời. Nước không còn, thì áo bào cũng mất. Nước không còn, thì ngai vàng cũng mất. Và mẹ con bà, làm sao toàn mạng? Không, vận nước phải lớn hơn vận mẹ con bà! Vận nước phải đặt lên trên hết! Lê Hoàn! Nếu ý trời đã định, nếu lòng người đã thuận, bà còn gì phải hoang mang?
Xem thêm
Thân thiện - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
“Thân thiện” của Lê Thanh Huệ là một văn bản văn xuôi dung lượng lớn, được viết như một cuộc đối thoại mở giữa con người với tri thức, chiến tranh, công nghệ và tương lai nhân loại.
Xem thêm
Gặp gỡ bất ngờ – Truyện ngắn Đỗ Thị Thu Hiền
Nhà văn Đỗ Thị Thu Hiền, tên thật Đỗ Thị Hiền, sinh năm 1952 tại TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ), nguyên giáo viên mất sức. Năm 1997 đến năm 2007 chị là UV.BCH, Chánh văn phòng Hội VHNT tỉnh Hà Nam. Hiện chị sống và viết tại TP. Bà Rịa (cũ).
Xem thêm
Gió đồng khoáng đạt – Truyện ngắn Hồ Tĩnh Tâm
Tôi cùng với anh bạn Dũng Hạnh đi xe gần hết nửa ngày, thêm gần nửa buổi ngồi đò nữa thì tới được đồng Ngao. Cánh đồng rộng ngút ngát, nhìn thấy ngờm ngợp con mắt. Anh bạn nói: “Phải mua thủ can rượu cho chắc. Nó sống mụ mị giữa đồng, hết rượu có mà chạy trào máu mắt”.
Xem thêm
Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Mối hòa hiếu của hai quốc gia lân bang được bắt đầu khi Trọng Thủy bước vào thành. Chàng là một người trẻ tuổi đẹp đẽ, trong trẻo, sáng ngời như ánh dương đầu hạ. Mắt đen thăm thẳm như nước giếng mới khơi. Lưng cao, tiếng nói dịu, lễ nghi chu toàn. Kim Quy không ngờ đó là con trai Triệu Đà. Vì chàng khác hẳn sự hiểm độc của người cha. Chàng chỉ là người trần, sinh ra từ người mẹ chết sớm, lớn lên trong cung cấm nhưng đầy mộng mơ. Chàng không biết cha mình là hóa thân của kẻ thù truyền kiếp của Kim Quy. Trọng Thủy khi ấy chỉ mang một ước vọng: tìm thấy một nơi bình yên, một người con gái xinh đẹp có thể khiến chàng được sống thật với lòng mình. Chàng cũng từng kinh sợ những cuộc giao tranh, trừng phạt, giết chóc của vua cha. Rời xa vua cha cùng kinh thành là điều chàng từng mong muốn.Trọng Thủy nhận lệnh vua cha đến Loa Thành gặp Mỵ Châu nhưng chưa một lần biết mặt người con gái đó. Chàng lãng mạn tin rằng Mỵ Châu là đóa hoa đẹp nhất của đất Âu Lạc.
Xem thêm
Tiếng trống gọi mùa ban - Truyện ngắn của Hà Minh Hưng
Tâm lý chung nhiều người khi đã đến một nơi rồi, lần trở lại thường không còn háo hức lắm.
Xem thêm
Chùm truyện siêu ngắn của Cristina Rivera Garza
Cristina Rivera Garza sinh năm 1964, nhà văn nổi tiếng người Mexico. Sự nghiệp của bà bắt đầu được ghi nhận từ những năm 1980, khi bà đoạt giải thơ Punto de Partida năm 1984 với Apuntes, giải truyện ngắn quốc gia San Luis Potosí năm 1987 với La guerra no importa. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Cristina Rivera Garza là Nadie me verá llorar, tác phẩm này đã mang lại cho bà Giải IMPAC/CONARTE/ITESM năm 2000. Carlos Fuentes từng gọi đây là “một trong những tiểu thuyết vừa đẹp vừa ám ảnh nhất từng được viết ở Mexico”. Năm 2024, bà đoạt giải Pulitzer cho thể loại hồi kí - tự truyện với tác phẩm El invencible verano de Liliana.
Xem thêm
Lock down – Truyện ngắn của Bùi Đế Yên.
Nhà văn Bùi Đế Yên làm thơ trước khi viết truyện ngắn. Đọc truyện của chị, tưởng chị đang ngồi thủ thỉ kể một câu chuyện vừa mới xãy ra đầy hấp dẫn, khi nghe hết chuyện, lòng ta cứ thấy bâng khuâng …
Xem thêm
Nguyền rủa - Truyện ngắn
Gia đình bà Hường chuyển về sống lam lũ với xóm nghèo. Các khu dân cư mọc lên như nấm sau mưa; lối mòn biến thành đường nhựa. Ông Tấn suốt ngày cắp laptop vợ mua, đi “quan hệ kinh doanh”; đám trẻ con tò mò kháo nhau ông không biết dùng máy vi tính.
Xem thêm
Đêm trước phiên chợ – Truyện ngắn của Lương Mỹ Hạnh
Lão Hạo không lộ mặt, ra lệnh cho tay chân nhanh chóng neo thuyền lại. Chúng lấy những đoạn dây chão to bằng cổ tay chằng buộc hai thuyền kẹp cứng với nhau. Mặt đằng đằng sát khí, hơn chục thằng cầm dao, kiếm, côn nhảy sang thuyền thằng Lanh. Một cuộc ẩu đả bất phân thắng bại nổ ra, hai bên cùng xông vào nhau đấm đá túi bụi.
Xem thêm
Tro bụi ngược chiều – Truyện ngắn Tịnh Bảo
Nắng trưa vàng như chảo mật ong tưới xuống. Nghĩa trang lớn nằm ở ngoại ô, những ngôi mộ nơi góc khuất bị cỏ dại bọc kín, bia đá lấm bụi, từng vệt bẩn kéo dài chảy xuống theo vệt nước mưa, có lẽ do cơn mưa chiều qua.
Xem thêm