- Truyện
- Dượng Tân – Truyện ký của Đào Thúy Hoa
Dượng Tân – Truyện ký của Đào Thúy Hoa
Có những dấu ấn của một đời người không nằm trong tác phẩm hay danh hiệu, mà ở cách người ấy đã sống với những người quanh mình. Với nhạc sĩ Dương Hồng Từ, người như thế chính là dượng Nguyễn Văn Tân – người cha không cùng huyết thống đã thương ông như con ruột và dùng cả một đời rộng lòng, rộng cửa để nối những người chung – riêng thành một gia đình. “Dượng Tân” là chân dung mộc mạc, ấm áp về một con người bình thường mà cái nghĩa, cái tình còn ở lại qua nhiều thế hệ. Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu truyện ngắn dưới đây của Đào Thúy Hoa, vừa in trên Tạp chí Sông Lam số 9/2026.
DƯỢNG TÂN
ĐÀO THÚY HOA
Trong ngày nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2022, nhạc sĩ Dương Hồng Từ bỗng nhớ đến một người cha không cùng huyết thống. Người đàn ông ấy chưa từng đứng trên sân khấu, chưa từng có tác phẩm nào để đời, nhưng lại là người đã dùng cả cuộc đời mình để dạy ông về lòng nhân hậu. Đó là dượng Nguyễn Văn Tân.

Nhạc sĩ, nhà nghiên cứu Dương Hồng Từ cùng các tác phẩm chuyên khảo. Ảnh: Minh Quân.
Nhạc sĩ Dương Hồng Từ rưng rưng, bao cảm xúc lẫn lộn nhớ về các bậc thân sinh với một niềm tri ân. Hơn mười ba năm ông gắn bó “ăn cùng ngủ cùng” với đồng bào các dân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An và sự khích lệ của dượng Tân trong buổi đầu ông rời nhà vào lực lượng bộ đội biên phòng, trong những câu chuyện ông kể về đồng bào miền Tây được dượng Tân hồ hởi đón nhận và không ngớt lời khích lệ đã tiếp cho ông một niềm đam mê tìm tòi, nghiên cứu. Để rồi, theo suốt cuộc đời, ông đã miệt mài lao động sáng tạo làm nên những công trình nghiên cứu giá trị: Âm nhạc dân gian dân tộc Thái ở Nghệ An, Âm nhạc dân gian dân tộc Mông ở Nghệ An, Văn hóa dân gian người Mông ở Nghệ An, Văn hóa cổ truyền dân tộc Thổ ở Nghệ An.
Ông mường tượng, trong ngày vui lớn này, nếu còn sống, cha dượng Nguyễn Văn Tân sẽ reo lên thế nào nhỉ? Ông nhớ những ngày thơ ấu, những năm tháng trưởng thành, dượng Tân như ngọn núi chở che để ông tựa vào và vững bước.
*
- Bà ơi, có con cá cho thằng Từ và bà đây!
Ông Tân rời chiếc xe đạp cà tàng, đưa vội xâu cá cho bà Quỳ - chị gái của bà Lương Thị Niêm (mẹ của Dương Hồng Từ). Từ ngày mẹ Niêm đi bước nữa (lấy ông Nguyễn Văn Tân), Dương Hồng Từ sống với bà Quỳ tại nhà của bà ngoại ở làng Phượng Kỷ, xã Thuần Trung, huyện Anh Sơn cũ. Làng của Dương Hồng Từ cách nhà mẹ Niêm và dượng Tân khoảng dăm cây số nên Dương Hồng Từ qua lại thường xuyên, lúc thì mẹ hoặc dượng tới, nên Từ không thấy có điều chi thiếu vắng. Dương Hồng Từ thích nhất là những lần về nhà mẹ, gặp trời mưa được dượng cho đi kéo vó. Bắt được con cá nào là ông quăng lên bờ, Dương Hồng Từ nhanh tay tóm gọn thích thú bỏ vào giỏ. Cả nhà hôm đó được bữa cơm ngon miệng.
Một lần, Dương Hồng Từ về nhà mẹ chơi, đang bữa cơm thì sực nhớ hôm nay là ngày 14 âm lịch, Từ nằng nặc: “Tui về để nhận quà!”. Món quà đêm Trung thu thời đó làng dành cho bọn trẻ là một đốt mía, với Dương Hồng Từ, chỉ mới nghĩ tới thôi, hai hàng nước dãi đã chảy quanh miệng. Ông Tân đành dắt con về, rồi lọ mọ trở lại trong đêm. Sau này, khi sắm được cái xe đạp nam, ông buộc giẻ ở khung cho Từ ngồi kẻo đau, vì Từ thích ngồi trước để xem, không bị cái lưng của ông che tầm nhìn. Lần khác, Từ đi học về đã thấy ông Tân mang đến một túi quýt nhỏ, ông bảo “Mi chăm về mà ăn quýt, chơ quýt bắt đầu chín rồi, tau để cho mi một cơn (cây) đó”. Cây quýt mà ông Tân nhắm nhe dành cho Từ có quả ngọt nhất vườn. Mấy lần Từ nghe ông Tân nói với mẹ: “Mẹ mi để dành cơn ni cho thằng Từ”.
Cứ vậy Dương Hồng Từ lớn lên, dù không đủ đầy vật chất nhưng có một khoảng trời xanh yên bình giữa nhà mình và nhà mẹ cùng dượng Tân.
*
Vào tuổi thanh niên, Dương Hồng Từ được cha đẻ - ông Dương Hồng Kiểm đón lên huyện Nghĩa Đàn cùng sinh sống. Ông Kiểm là một thợ may nổi tiếng đất Nghĩa Đàn phiêu dạt từ Nam Định vào. Ông bén duyên cùng bà Lương Thị Niêm, cũng là dân Nam Định vào làng Phượng Kỷ, xã Thuần Trung, huyện Anh Sơn mưu sinh. Ông bà có với nhau được người con trai là Dương Hồng Từ. Ngặt nỗi, Phượng Kỷ không phải là vùng đất hứa cho nghề may, ông Kiểm đành lang bạt hết Vinh, Cầu Giát (huyện Quỳnh Lưu cũ) ở trọ hành nghề. Bà Niêm ở nhà một mình, mùa nào việc ấy làm thuê làm mướn: cấy, gặt lúa, chăm sóc, thu hoạch thuốc lào. Làng Phượng Kỷ ngày đó có phong trào trồng cây thuốc lào. Người ta chuộng dùng phân tươi để bón. Nhà không có ruộng, nhưng ngày ngày bà Niêm phải đi khắp làng hót từng bãi phân tươi về bón cho ruộng thuốc lào của chủ. Dương Hồng Từ thương mẹ đến xót lòng. Có hôm chính Từ phải chứng kiến nỗi đau mẹ cắn răng chịu. Nhà đói gạo, bà Niêm ra ruộng hái một mớ nhỏ ngọn khoai lang. Đang luộc dở thì chủ ruộng xộc vào nhà, giằng đôi đũa cả bà đang trở trong nồi đập mạnh vào bàn tay xương xẩu. Quá bất ngờ và quá, bà Niêm không kịp ngăn nước mắt. Từ xót thương mẹ nhưng không thể làm gì, ôm ghì lấy mẹ trong tiếng nấc chẹn cổ họng. Từ ước mình có phép màu cho mẹ một ruộng rau xanh mướt tha hồ mẹ hái, mẹ luộc.
Một ngày Tết nọ, ông Kiểm đưa bà Mai - một người Nam Định vào Cầu Giát làm ăn - về nhà giới thiệu. Bà Niêm đón nhận trong “sự đã rồi”, chồng đi làm ăn xa vất vả, lắt lay có người lo cơm nước, chăm sóc lúc đau ốm. Vài năm sau, cũng là khoảng sau mươi năm bìu ríu, hai ông bà quyết định chia tay. Ông Kiểm, bà Mai tiếp sau đó chuyển lên huyện Nghĩa Đàn sinh sống. Mẹ con bà Niêm ở với bà Quỳ (chị ruột) trong ngôi nhà của mẹ đẻ tại làng Phượng Kỷ.
Rồi duyên mới mỉm cười. Bà Niêm gá nghĩa với ông Nguyễn Văn Tân khi mỗi người đều có một đứa con riêng trạc tuổi nhau: Dương Hồng Từ và Nguyễn Thị Hưng. Ông Tân là người cùng xã Thuần Trung, nhưng ở làng Đình Chu, cách nhà Dương Hồng Từ chừng 5-6 cây số. Đến năm 1962, thì gia đình ông Tân bà Niêm xung phong đi làm kinh tế mới tại huyện Tân Kỳ.
*
- Từ! Cu ơi!
Dương Hồng Từ mở căng mắt, há hốc miệng: “Răng dượng ở đây?” Ông Tân cười cười, không nói chi, chân rảo bước song song bên con. Ông lặng lẽ đi như vậy, thỉnh thoảng ngó sang Từ nói, cười. Chừng 3 cây số, cũng gần tới làng Phượng Kỷ, thì đồng chí chỉ huy nói:
- Bác về đi, để đồng chí Từ đi cùng đồng đội!
Ông dúi nhanh vào tay Từ một gói mo cau nhỏ: lát con ăn thêm cùng đồng đội cho đỡ đói.
Đó là gói cơm nếp mà Dương Hồng Từ thấy ngon nhất trong đời.
Chuyện là, Dương Hồng Từ được cha Dương Hồng Kiểm đón lên Nghĩa Đàn sống cùng từ năm 1957 đến 1959. Học xong lớp 7, năm 1960, Dương Hồng Từ xung phong vào lực lượng vũ trang. Ngày nhập ngũ, Dương Hồng Từ phải hành quân từ huyện Nghĩa Đàn về xã Thanh Khê huyện Thanh Chương (cũ). Không hiểu sao cha Tân biết tin. Đến thị trấn Đô Lương, thì Dương Hồng Từ giật thót người bởi tiếng gọi rất to và quá đỗi thân thuộc “Cu ơi!” - cách mà ông Tân thường gọi Hồng Từ.
*
- Anh Sửu và thằng Thái đẩy xe sang bên kia đường, con Thanh bế cháu Hải, con Lục để cha cõng. Mới đẻ dậy là phải tuyệt đối kiêng gió kiêng nước, con lội bộ trong bùn ni mô được.
Ông Nguyễn Văn Tân nói với anh Sửu là con rể (chồng chị Nguyễn Thị Hưng), Thái là con trai và Thanh là con gái (em cùng mẹ khác cha với Dương Hồng Từ).
- Cha để con tự đi được - chị Nguyễn Thị Lục (vợ của nhạc sĩ Dương Hồng Từ) chưa kịp nói hết câu, ông Tân đã bế bé Hải trao cho chị Thanh và cõng xốc chị Lục trên tấm lưng gầy, bàn chân khẳng khiu xục trong bùn nhão.
Qua hết đoạn bùn dài gần 20m, tới bên kia đường khô ráo, chị Lục và cô con gái vừa mới sinh được một tuần lại tiếp tục hành trình nằm võng để hai chiếc xe đạp thồ đẩy về nhà. Những người dân đang nạo vét ba ra Đô Lương đoạn thị trấn ngừng làm, tròn mắt nhìn.
Thấm thoắt đã hết 2 tháng ở cữ, cuối năm 1973, chị Lục chuẩn bị về cơ quan - Bệnh viện I Nghệ An để làm việc. Ông Tân hối vợ: “Bà lo cho mẹ con hắn bì than kẻo xuống đó mùa ni lạnh lắm. Nhà có cái nồi cái niêu chi, không thì đi mua ít cái. Thằng Từ đi làm xa, một mình đàn bà con thơ, bà không lo thì mẹ con hắn biết đường mô mà lần”.
Ông kì cụi đi kiếm gỗ đóng một cái giường đôi, không đẹp nhưng đủ chắc. Ngày mẹ con chị Lục xuống Thanh Chương làm việc, cái xe kiến an[1] của nhà ông chất đống đồ đạc. Dù đã ọc ạch, nhưng từ 3 giờ sáng chiếc xe đã phải gồng mình để chất đầy 1 cái giường, 1 bì than to, 1 bì gạo, ngô, nồi niêu, bát đũa, thau chậu, v.v... vượt qua gần 40 cây số. Ông Tân dí vào hai càng xe để nó không bị ghếch về phía sau, đôi tay cuộn gân chằng chịt. Chị Thanh và bà Niêm cong mông đẩy phía sau. Ngày đó, con đường từ xã Kỳ Sơn, huyện Tân Kỳ cũ về tới xã Thanh Luân, huyện Thanh Chương cũ - nơi cơ quan của chị sơ tán từ Vinh lên đóng ở đây - đường chẳng ra đường, toàn những ổ trâu, ổ bò. Ba con người ì ạch, mướt mồ hôi, rời rã toàn thân, già dặn một ngày rồi cũng tới nơi. Ông Tân chỉ kịp ngồi thở nhẹ rồi vội vã dỡ hết đồ xuống, vận chuyển vô nửa gian nhà của dãy tập thể bệnh viện. Bà Niêm thấy chồng lo cho con, cháu ruột của mình chu tất, mọi mệt nhọc như tan biến.
Bé Hải lớn lên. Mới mấy tháng tuổi, Hải đã dặt dẹo hết bệnh viện ở Hà Nội rồi Bệnh viện I Nghệ An. Năm lên hai tuổi, thấy mẹ con Hải sống khổ quá, ông Tân bảo bà Niêm đưa Hải lên ở với ông bà và các o. Đến năm học lớp 4, những cơn động kinh của Hải khá dày làm các bạn sợ, ông bà Tân đành cho cháu ở nhà đến năm 14 tuổi thì Hải về Vinh sống cùng bố mẹ. Ông Tân hay thở dài: “Nó mỏng phận, không được khôn ngoan như người ta. Mình phải đùm bọc bù trừ cho cháu thôi bà ạ”. Sau này, cứ mỗi lần xuống Vinh, tay xách nách mang, từ ngoài đường ngõ, tiếng ông đã chạy oang oang vô nhà: “Hải ơi, ông đưa trứng gà xuống cho cháu đây rồi này!”. Mồ hôi mồ kê ướt đẫm, hôi hám, nhưng ông mặc kệ nắm lấy tay cháu ngắm nghía xem nó có béo lên tí mô không, có khôn hơn tí mô không. Những nếp nhăn trên đôi mắt ông giãn ra: “ừ, mẹ mi chăm được đó!”.
*
Nhớ ngày nhạc sĩ Dương Hồng Từ lấy vợ, trời đất dường như cũng sắp xếp để cho ông Tân được “làm vui lòng vợ”. Ông Dương Hồng Kiểm - cha đẻ của Dương Hồng Từ từ Nghĩa Đàn về dự lễ cưới vợ của con trai, ngặt nỗi lại bị đau chân, chỉ ngồi một chỗ tiếp khách. Tất thảy mọi việc, chạy vạy vay nếp, gạo, thịt thà, v.v..., đến khâu tổ chức đều ông Tân xăng xái tính toan, thu xếp.
Dương Hồng Từ tiếng là người nhà nước, nhưng khi có con rồi vẫn chưa có ngôi nhà riêng tử tế. Năm 1974, Bệnh viện I Nghệ An chuyển về Vinh, ông Tân lại kì cụi một dao một rìu vác vai trèo lên lèn Rỏi chặt cây lấy gỗ. Sau ba tháng ròng rã cùng cậu con trai Nguyễn Văn Thái vần vũ với những cây gỗ trên đồi cao xuống, rồi cũng tới ngày cha con ông và người làng dựng nên hình hài căn nhà nho nhỏ. Ai cũng tấm tắc: “Ông Tân cừ thật! Lấy được cả gỗ trên lèn Rỏi về làm nhà cho con”. Ông cười cười, “nhằm nhò chi, trước đây tui 2 lần đi dân công hỏa tuyến cho chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Hòa Bình. Khổ và gian khó vô cùng, nhưng ai cũng vượt qua cả. Cấy chi cũng rèn luyện mà quen cả thôi”.
Lúc gỗ đã phai màu tránh kiểm lâm gây khó dễ, ông dỡ nhà chở xuống Vinh “chụm cho vợ chồng thằng Từ cái nhà mà chui vô chui ra”. Dương Hồng Từ - lúc đó đã ra khỏi lực lượng vũ trang về xuôi làm cán bộ ngành văn hóa, ngắm nghía ngôi nhà mà nghèn nghẹn: “Cha à. Con cảm ơn cha! Nhờ cha và các em mà bọn con có nhà ở!” Ông Tân xì xuỵt: “Mi nói chừng chừng”, nhưng đôi mắt sáng bừng.
Những năm 1980-1990, gia đình Dương Hồng Từ rất khó khăn, nên cứ vài ba tháng, ông Tân, bà Niêm hoặc o Thanh, chú Thái lại mang gạo, ngô xuống Vinh thăm, chỉ bởi ông luôn lo lắng "Chúng ăn mì hột mãi tội lắm, con cái lại đang tuổi ăn, tuổi lớn."
*
- Bà ơi! Đoàn Văn công Nghệ An về. Sướng quá! Lại sắp được coi văn nghệ rồi, mà đoàn chuyên nghiệp hẳn hoi.
Bà Niêm biết chắc là “có chuyện” rồi. Sáng sớm mai, ông thủ thỉ:
- Bà đưa tui ít tiền.
- Mần chi rứa?
- Thì mời người ta bựa sáng, khi đêm bà không thấy họ diễn hay rứa à!?
Bà Niêm nguýt một cái rồi cũng mở hầu bao đưa cho ông ít đồng. Đấy là ông còn xin xỏ rõ ràng với bà, chứ nhiều lần ông xúc trộm cả yến thóc ủng hộ đội bóng của làng, v.v... Bà nghe người ta mách, về bảo ông cười khì, “ầy, động viên bọn trẻ hắn đá cho mình vui”.
Bà biết, từ thời nào gia đình ông Tân đã có tiếng rộng lòng, rộng cửa. Trước đây, cha mẹ ông đã nhiều lần đón đoàn tuồng về ngủ nghỉ trong nhà. Rồi vợ chồng ông Tân cũng vậy, khi các đoàn văn công cần là dành chỗ cho anh em nghỉ. Nhà chỉ có ba gian, sáu con người chen trong một gian và cái bếp nhỏ, còn 2 gian nhà ngoài ông bà dành cho cửa hàng mậu dịch làm kho suốt cả thời gian dài. Đồ dùng trong nhà ông Tân cũng chẳng khác gì đồ công cộng. Ai đến mượn cuốc cào, thúng mủng, v.v... ông bảo, cứ lại chỗ nọ chỗ kia mà lấy. Khi ông đi vắng, người làng cũng tự lấy, tiện thì báo sau hoặc dùng xong đến trả. Vậy mới có chuyện, không ít lần ông vừa đi tìm đồ vừa lẩm bẩm: “Ai hầy, ai mượn cái cào nhà mình mà không nói chi hầy?”. Bọn trẻ làng cũng tự nhiên biến nhà ông thành nhà trẻ, hò hét, chạy nhảy váng nhà. Đến bữa không thấy quần, áo, đồ chơi cha mẹ lại hối: “Bây sang nhà ông Tân mà tìm, quên bên đó chứ ở mô!”
Kể cũng lạ, với, văn nghệ, thể thao môn gì ông Tân cũng ham, cũng có năng khiếu. Ba ngày Tết, không năm nào ông bỏ sót chơi cờ thẻ, bắt cả con cả cháu ra làm cờ. Mấy tấm vải đỏ vốn để “lo hậu sự” cho mình, khi cần kíp ông lấy ra làm ô cho tướng ngồi, làm cổng chào cho đẹp xóm làng. Bà Niêm hay con cháu kêu, thì ông cười xòa: “Mai mốt tui đi bán hến, bán bù mua lại, lo chi”.
Ông trồng được nhiều bù, cào được nhiều hến thật.
Bãi sông quanh vùng, chỗ nào người ta trừ ra không làm được là ông đều đào, xới quẳng vô mấy hạt bù hạt bí, tới mùa thu hoạch ông lại chèo thuyền qua bên kia bờ sông Hiếu chở, rồi bê lên xe cải tiến kéo về nhà. Hến ông cũng cào được nhiều, luộc ngay bên sông để bà Niêm và con mang ra chợ Lạt, hoặc xuống chợ Giang Sơn. Mùa nào việc nấy, thân hình tuy gầy nhỏ, chỉ cao chừng 1,60m, nhưng cái sức của ông dẻo dai như cây mây trên lèn Rỏi trước nhà.
Ông quần quật làm suốt ngày, tham gia văn nghệ, thể thao cũng hết độ. Sáng, người làng vừa thấy ông qua nhà hàng xóm giúp cúng hết khó ông chồng, trưa cúng giúp cho nhà ở làng bên, tối đã lại nghe ông hát tuồng giao lưu với Nhà máy Đường Sông Con, v.v... Biết ông xởi lởi, tốt bụng, "nhẹ vía" nên nhiều nhà trong xã nhờ ông cúng giao thừa, ông đành sắp xếp cúng bằng hết để khi về cúng cho nhà mình là vừa chạm khắc 12 giờ đêm. Ông mê tuồng, hễ chỗ nào mở hội là ông sà vô. Ngày mừng thọ ông chín mươi tuổi, ông hồn nhiên “độc tấu” ngâm thơ, hát tuồng suốt buổi yến lão. Những lần Dương Hồng Từ ở đơn vị về kể chuyện sinh hoạt văn hóa văn nghệ của bà con miền Tây Nghệ An, ông thích thú lắm. Hết bàn luận nọ kia, ông lại động viên Dương Hồng Từ: “Vốn văn nghệ của bà con quý lắm đó, con phải thâm nhập, tìm hiểu cho kỹ mà sáng tác, mà làm cái chi có ích cho bà con”.

Minh họa: AI.
Ông Tân còn ham diều nữa. Ông trau chuốt con diều như sửa sang, gìn giữ cái phản rộng dài chiếm hết cả gian nhà của ông “để con cháu có chỗ nằm, chỗ nghỉ khi giỗ đến, Tết về”, ông nói. Diều của ông to, dài, là con diều lớn nhất mấy xã lúc bấy giờ. Chiều chiều ông lại ra bờ sông Hiếu, cả đàn con nít chạy theo hò dô náo động cả bờ sông để kéo diều của ông Tân lên. Cả đám - con nít, kẻ nậy, tóc đen tóc trắng ngửa mặt lên trời - hóng con diều hiên ngang như cánh hạc, hóng tiếng vi vu từ trời cao dội xuống mà lòng dạ hể hả. Cái xóm nhỏ ven sông, thêm cánh diều ông Tân uốn lượn, vi vu tiếng sáo như mềm cả bầu trời xanh lộng, mềm cả lòng người, xóm nhỏ thêm bình yên. Một hôm, già trẻ bỗng hét lên “diều đứt rồi!”. Trẻ già tiu nghỉu, chạy một dọc khắp vùng không tìm ra. Ông Tân buồn mất mấy hôm. Tự nhiên, một sáng ngủ dậy, ông nghe ới ới ngoài cổng:
- Ông Tân Tiền Phong ơi, diều của ông đây phải không? (Vùng ông ở là Nông trang Tiền Phong nên người ta gọi kèm theo tên ông) - hai cậu trai chừng 15, 16 tuổi hồ hởi vác con diều đặt trước sân. Ông Tân mừng ra mặt, vỗ hai bàn tay vào nhau cái độp:
- Thằng ni giỏi! Răng mi biết của ông?
- Cả làng cháu ai cũng bảo diều to a ri chỉ của ông Tân Tiền Phong thôi. Cả vùng ni ai mà nỏ biết ông.
- Ầy, cảm ơn các cháu nhiều nha, đi cả mấy cây số đưa diều đến cho ông! Nhà có ít ổi, chịu khó mang về ăn, ngọt lắm đó con.
Cánh diều lại vi vu trên trời xanh, chở theo cả niềm hân hoan của ông Tân và lũ trẻ làng.
*
Đám cưới anh Thái - chị Phúc diễn ra đơn giản. Chị Phúc đã qua một đời chồng và có một người con. Rồi hai mẹ con chị Phúc về sống chung với anh Thái và ông Tân. Đời ông Tân hai vợ với 7 đứa con chung riêng. Bây giờ là anh Thái, cũng hai đời vợ, con chung, con riêng... khá phức tạp.
Nhưng lạ thay, trời cho gia đình ông Tân cô con dâu có tên là Phúc, cũng là người mang lại hạnh phúc cho gia đình ông. Người làng nói rằng, ông sống có đức nên được phúc phước. Trong 5 người con chung của ông bà Tân - Niêm, anh Thái là người con trai duy nhất. Vợ đầu mất khi anh chị đã có 3 đứa con. Năm 1994, mự Phúc về làm dâu nhà ông Tân, bà Niêm cũng vừa qua đời. Gia đình Thái - Phúc có đến tận 5 đứa con chung riêng. Nhiều người tỏ ra ái ngại cho chị Phúc. Nhưng ông Tân vẫn cầm cân nảy mực, lo vẹn tròn trong ngoài từ việc to cho đến nhỏ. Ngày mẹ của chị Phúc và mẹ của người vợ đầu anh Thái còn sống, lâu lâu thấy chị Phúc đi chợ, ông Tân lại giục “Mi có tiền đó không, ông có mấy đồng đây mua ký thịt ngon ngon mang sang cho 2 bà”. Dù gia đình nhiều “thành phần”, nhưng chị Phúc không phải buồn lòng vì việc này lời kia, bởi đã có ông Tân mẫu mực. Mấy đứa con của anh chị thương yêu ông, thương bố mẹ và biết thương nhau. “Ông sống phúc đức quá nên mình cũng tự thấy phải sống tốt” - chị Phúc chuyện trò với hàng xóm. Còn chị Lục - vợ nhạc sĩ Dương Hồng Từ luôn biết ơn em dâu: “Nhà tôi có phúc nên có được mự Phúc, mọi việc mự thay vợ chồng tôi cáng đáng lo liệu chu tất”.
Ông Tân như có nam châm trong người. Người lớn, trẻ con ai cũng thích chơi với ông, sống với ông. Tấm phản nhà ông, dù rất rộng, rất dài nhưng mỗi khi giỗ, Tết cũng không đủ chỗ nằm vì đứa nào cũng tranh được ngủ với ông. Sau này, mỗi lần về giỗ ông Tân, chị Nhâm (là con của bà Mai ông Kiểm) vẫn cứ nhắc chuyện hồi trẻ theo học Sư phạm Miền núi ở Tân Kỳ, chỉ trông đến thứ Bảy, Chủ nhật được về nhà dượng Tân để ăn bữa cơm ngon, ngủ thỏa giấc. Vợ chồng o con út của ông bà Tân Niêm, thì bảo: “nhà nội cách mấy chục mét thôi, nhưng mỗi lần về cứ thích ăn ngủ chen chúc bên nhà ông Tân, vì “vui quá”.
*
Rồi ông đổ bệnh gan, bệnh viện tỉnh trả về, tưởng đã vĩnh biệt con cháu. Ở quê, ông bác xem thầy xong thì hối thúc, “cho ông về chứ đến ngày ‘đi’ rồi!”. Nhạc sĩ Dương Hồng Từ và các em vội vàng cáng ông ra đến bến xe Vinh. Trời run rủi, một chị đến hỏi chuyện. Chị ớ người ra: “Ông Tân Tiền Phong đây chơ ai! Nhà ta nên đưa ông đến ông Phùng ở Minh Sơn, Đô Lương cắt thuốc thử, nghe bảo hiệu nghiệm lắm”. Chắc trời thương, nhờ thuốc ông Phùng thêm 8 năm nữa ông sống và làm vui cho đời.
Cho đến một ngày đẹp trời năm 2013, người làng, người chợ cả một vùng xã Kỳ Sơn đưa tin “Ông Tân Tiền Phong mất rồi. Người tốt bụng như ông giá mà sống thêm ít ngày nữa là tròn trăm tuổi”. Lâu lắm người trong vùng mới thấy có một đám tang đông đến vậy. Con cháu ruột của ông, con cháu của ông Kiểm bà Mai ở Nghĩa Đàn tất tả xuống. Người làng, người quanh vùng, người trong khu Nhà máy Đường Sông Con cũng tới tiễn đưa ông một đoạn đường.
Ông đi nhanh, nhẹ nhàng, thanh thoát như cách ông đã sống với đời.
Dượng Nguyễn Văn Tân mất đi, nhạc sĩ Dương Hồng Từ thành điểm trung tâm.
Sự đùm bọc sẻ chia vẫn ấm áp trong đại gia đình. Các con cháu chung riêng của ông Tân bà Niêm, và ông Kiểm bà Mai vẫn qua lại với nhau như người thân ruột thịt. Cái nghĩa, cái tình ông Tân xây kết vẫn bền chặt thành truyền thống của một đại gia đình neo qua các thế hệ.
Tấm phản gỗ rộng thênh thang - của gia truyền ông sắm cho con cháu - vẫn hiện hữu ngày ngày trong ngôi nhà ấm tình thân của gia đình anh Thái - chị Phúc. Nay vẫn vậy, chen chật con cháu mỗi dịp giỗ, Tết.
(Theo lời kể của nhạc sĩ Dương Hồng Từ)
1. Từ địa phương Nghệ An, nghĩa là “cải tiến”.
Tác phẩm in Sông Lam số 9/2026