TIN TỨC

Cuộc chiến nhân tính – Tiểu luận của Hoàng Thuỵ Anh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-10-02 23:31:07
mail facebook google pos stwis
1294 lượt xem

Nhà văn Hữu Phương là một trong số những cây bút văn xuôi kỳ cựu của miền Trung, đã khẳng định sở trường, sự điêu luyện khi nhìn sâu và cắt nghĩa tính tàn bạo của chiến tranh thông qua những số phận bị chấn thương, bi kịch.

Chân trời mùa hạ là một tiểu thuyết có giá trị về mặt tư liệu, mang chất tự sự của một giai đoạn lịch sử về văn học hiện thực đơn thuần, đơn tuyến; mặc dù bị thi pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa ràng buộc, chi phối nhưng nó vẫn phản ánh chân thực thân phận con người cũng như sự dẻo dai của người dân miền Trung trong những năm tháng bom đạn.

Sự kiện Chân trời mùa hạ đạt giải B, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2011 và Cúp Bông lúa vàng do Bộ NN&PTNT trao tặng đã chứng minh bút lực dồi dào của nhà văn Hữu Phương trong dòng chảy ấy. Nhưng nếu Chân trời mùa hạ còn mang đậm cảm hứng sử thi thì đến Quay đầu lại là bờ – tiểu thuyết đoạt giải nhì Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 5 (2016-2019) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, hoà trong sự vận động của văn học thời hậu chiến, trong sự thay đổi quan niệm, tư tưởng nghệ thuật, đề tài chiến tranh và người lính đã được Hữu Phương soi chiếu ở góc nhìn thế sự, đời tư. Những mâu thuẫn, hận thù không đội trời chung giữa bên này với bên kia được Hữu Phương đặt trong mối quan hệ tình nghĩa, máu mủ gia đình. Không gian gia đình là điểm trung tâm, là sợi dây hàn gắn mọi khúc mắc. Nằm trong dòng mạch văn học hậu chiến, nhưng Trăng mọc nơi bến phà xưa (NXB Văn học, 2023) vẫn thể hiện được ngòi bút tinh tế, sắc bén của nhà văn Hữu Phương khi đào sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật; những luận bàn cởi mở, đa chiều, bộc lộ suy ngẫm về bản chất, nhân tính của con người đã mang đến cho tiểu thuyết nhiều góc nhìn mới lạ, kịch tính.

Nhà văn Hữu Phương (1949 – 2023)

Chiến tranh – trò đùa của cuộc đời

Tổng Thủy, đã có vợ và hai cô con gái, trong lần đi thăm và kiểm tra tiến độ thi công của Công ty Thịnh Đạt, Công Ty Ánh Dương, kí ức những năm tháng chiến tranh hiện về trong ông rõ mồn một, từ chuyện Trái Tim Quỷ, chuyện khoan trúng xương cốt của đồng đội, chuyện Thu Cúc, Phan Vững đến chuyện gặp và yêu chính con gái của mình. Đặc biệt, cuộc gặp gỡ giữa Thủy và ông Chất, đồng đội của ông, sau ba mươi năm, đã bày ra số phận trái khoáy, oan nghiệt. Cứ tưởng Thủy vĩnh viễn giấu chặt đêm ái tình với Thu Cúc – mà chính Thủy đã ăn cắp hạnh phúc cuối cùng của Phan Vững, nhưng cuộc đời đâu dễ dàng thế, kẻ ăn cắp hạnh phúc của người đang cận kề cái chết phải bị trừng phạt, trả giá bằng chính sự dày vò, phỉ báng, đớn đau tột cùng. Thủy chiếm đoạt Thu Cúc thì cuộc đời trả giá Thủy bằng cuộc gặp gỡ oan trái với chính con gái mình – Lệ Thu, lúc Thủy xấp xỉ gần 60 tuổi, cái tuổi mà “con người như nhìn thấy đoạn cuối của đời mình” (tr 196).

Thủy “thuộc loại muốn tròn vai, tròn danh. Luôn ướp danh thơm” (tr.196) nên Thủy mãi mãi “như cây cột gỗ, loại gỗ không có lõi roòng, bao năm sơn phết hào nhoáng” (tr.289). Đây là căn bệnh của những người muốn làm anh hùng ngay từ khi còn trẻ, mặc kệ những thương tổn của người khác, sẵn sàng táng tận lương tâm để thực hiện mưu đồ của mình. Nhân vật Thủy làm chúng ta nhớ đến nhân vật Bá trong tiểu thuyết Cát trọc đầu của Nguyễn Quang Vinh, họ đều là những di họa của chiến  tranh, lợi dụng triệt để hoàn cảnh chiến tranh nhằm bảo toàn tính mạng và thăng tiến.  Nếu Bá bộc lộ bản chất một cách trực diện, không giấu diếm thì Thủy lại khéo che đậy, sự quay trở lại quá khứ của Thủy lúc này là lợi thế để Hữu Phương khơi dậy, cật vấn mặc cảm tội lỗi của Thủy. Nhưng hòn đá mà Thủy đeo vào cuộc đời quá nặng, quá sắc, buộc Thủy phải trả giá bằng hình phạt khủng khiếp. Chỉ trong hình phạt khủng khiếp ấy, Thủy mới thực sự tỉnh thức.

Thủy che giấu được cái đen tối, xấu xa bên trong của mình gần 30 năm qua, để mãi trong cái mác là bậc đáng kính, nghiêm chỉnh, lịch lãm. Bản thành tích Thủy viết lần này lần khác cùng với thanh âm trầm bổng đã lấy đi nước mắt của nhiều người và cũng là bàn đạp để Thủy đào tẩu một cách danh dự và vững vàng trên lưng ngựa. Trước sự dẫn dắt của những người chuyên đi “xây dựng anh hùng”, Thủy diễn hết sức tinh vi, càng ngày càng dày dặn kinh nghiệm, từ cuộc sống hằng ngày trong chiến tranh, tình cảm cá nhân đến danh vọng, chức quyền, rốt cuối Thủy phi chuẩn xác: từ bến phà Long Sọ, thẳng sang Mạc Tư Khoa, rồi về Hà Nội rong ruổi với các công trình, trở thành Tổng giám đốc Tổng công ty Ánh Dương. Nhưng trăng mọc nơi bến phà xưa cứ lung linh, huyền ảo, trêu ngươi, soi rọi, lật tẩy cuộc đời Thủy.

Thủy trốn tránh nhiệm vụ quét sạch bom từ trường trên dòng Nhật Lệ, thông tuyến cho sà lan chở tăng đi bằng cái tờ quyết định cử đi Liên Xô học. Người cho Thủy sự sống bằng cái chết của chính mình ấy là Phan Vững và Toàn. Cả hai đã mãi mãi nằm lại lòng sông. 2 lần Phan Vững được truy điệu sống, 2 lần xung phong lái ca nô cảm tử nhưng may mắn không đến với anh lần thứ 2. Nếu phù sa Nhật Lệ “đắp cho Phan Vững ngôi mộ bùn” thì cuộc đời trả cho Vững nỗi oan Thị Mầu qua thước phim “tội ác và trừng phạt” của Thủy.

Tiểu thuyết Trăng mọc nơi bến phà xưa của nhà văn Hữu Phương

Chiến tranh không can dự về mặt đạo đức, nhân tính

Nhưng cái kim trong bọc có bao giờ yên? Nỗi đau có bao giờ lắng xuống khi lòng đầy vướng mắc, âu lo, ngay cả giấc mơ cũng bị trì níu, dày vò? Sự hi sinh thêm lần nữa của những đồng đội nằm lại dưới đá ngầm Tà Khơn do mũi khoan của Công ty Thịnh Đạt lúc đang thi công cầu chữ U, ngôi mộ bùn của Phan Vững dưới đáy sông,… dần dần mở ra chuỗi tội lỗi của Thủy. Năm xưa, nếu quả bom từ trường của Mỹ đã lấy đi xác của cậu Toàn, cậu Vững để Thủy nhanh chóng thực hiện con đường đi của mình thì dẫu quả bom từ trường của Thu Cúc không thể giết chết Thủy lúc ấy, nhưng gần 30 năm sau, sự trở lại của quả bom từ trường Thu Cúc bằng hình hài của đứa con Lệ Thu, đã đẩy Thủy vào tột cùng bi kịch, đớn đau, thảm hại hơn ngàn vạn lần.

Hữu Phương rất khéo léo khi đặt ra tình huống oái ăm, tréo ngoe, đó là mối tình tay ba, giữa Thủy – Thu Cúc và Thủy – Lệ Thu, đứa con ruột rà của Thủy. Thu Cúc xin về Trung đội thanh niêm xung phong bờ bắc phà Long Sọ, toàn nam, là phà Long Sơn bom dội đêm ngày, để gột rửa vết đen lý lịch con địa chủ. Nàng về đơn vị sống động, thay đổi hẳn, trái tim nàng chỉ dành cho Phan Vững, người đàn ông hiền lành, tốt bụng. Nhưng sự ngẫu nhiên của cuộc đời lại cho Thủy quá nhiều cơ hội, kể cả cơ hội được 2 lần ở với Thu Cúc, mà chính Thu Cúc cũng không hề hay biết. Và tất nhiên, cái gì đến nó sẽ đến. Chiến tranh mở ra trò đùa của cuộc đời. Nhưng cuộc đời lại mở ra trò đùa của cái chết tâm hồn. Sống mà như đã chết. Chết khi đang còn sống.

Lệ Thu là kỹ sư cầu đường, một đời chồng, có con gái gần 5 tuổi, là một cô gái vừa sắc sảo, thông minh vừa hoang dã, dịu dàng, nhưng rất thẳng thắn, trách nhiệm, đã khiến giám đốc Thông và kỹ sư tư vấn giám sát Hồ Rật khiếp vía khi vấp phải sự cố về quy trình kỹ thuật rải thảm bê tông nhựa. Việc Hồ Rần bị căn bệnh nan y, hay bản thân đã phải lòng Tổng Thủy cũng không làm Lệ Thu nương tay, bỏ qua chuyện lấp liếm, đồng lõa, dối trá trong xây dựng, thiết kế một đàng làm một nẻo, dẫn đến chất lượng cầu đường kém, nhanh xuống cấp. Con người, tính cách Lệ Thu khác hẳn với Thủy. Nhưng Lệ Thu lại bị sức cám dỗ mãnh liệt của con người khéo che đậy ấy. Để rồi, cô nhanh chóng trở thành chất xúc tác trình hiện những mặc cảm tội lỗi, hành hạ và trừng phạt Thủy. Sự xuất hiện của Lệ Thu khiến Thủy bị ám ảnh bởi đôi mắt Trái Tim Quỷ – Thu Cúc nhiều hơn. Đôi mắt ấy vừa khơi dậy Trái Tim Quỷ cách đây gần 30 năm đã từng khiến Thủy sống trong nỗi sợ hãi, lo lắng, vừa mê hoặc, dẫn dắt Thủy thêm lần nữa bước vào động Trái Tim Quỷ.

Mặc cảm tội lỗi chiến thắng thể xác Thu Cúc luôn ám ảnh, quấy rối Thủy, đến độ ông cảm tưởng như Trái Tim Quỷ – Thu Cúc luôn thấy tất cả việc ông làm, nhận ra con người giả, anh hùng giả của ông. Trái Tim Quỷ còn trêu ngươi ông, đặt ông trong những tình huống oái ăm: sự trùng hợp ngẫu nhiên khi Thu ôm một bó hoa dại đứng trước hang Hàm Rồng lúc ông chuẩn bị làm lễ thi công cầu Long Sơn của Công ty Bình Minh y như hình ảnh Trái Tim Quỷ đã từng ôm bó hoa rừng dõi theo con đường Mười Lăm; cái hoang cỏ ngày xưa nơi ông cởi áo ngực Thu Cúc cũng giống cái hoang cỏ mà ông gặp Lệ Thu.

Sự đồng nhất giữa huyền thoại, Thu Cúc và Lệ Thu trong hình dáng, giọng nói, ánh mắt của Trái Tim Quỷ dựng nên biểu tượng trạng thái chấn thương. Chiến tranh vừa gây nên nỗi mất mát, đớn đau vừa gọi tên đầy đủ về nỗi mất mát, đớn đau của con người. Trong tiểu thuyết, có hai gia đình, một gia đình ảo và một gia đình thật. Phan Vững, Thu Cúc và Lệ Thu là một gia đình ảo nhưng lại chịu nhiều oan khuất, đớn đau. Thủy, Thu Cúc và Lệ Thu là một gia đình thật nhưng không ai biết. Sự đánh tráo đầy nghịch lý này một mặt vừa tố cáo tính khốc liệt, bi thương của chiến tranh, mặt khác bày ra những bi kịch của người phụ nữ bị cuộc chiến dày xéo, bị cuộc đời “giỡn mặt”.

Kỹ sư Vũ Lượng, 30 tuổi, tổng chỉ huy công trình cầu Long Sơn là con của ông Chất, Thủy là thủ trưởng của ông Chất, sau cũng là thủ trưởng của cậu Lượng. Cuộc gặp gỡ giữa ông Chất và Thủy theo chuyện tình cảm giữa Vũ Lượng và Thảo Duyên, phóng viên báo ngành, đã bày ra số phận hết sức oan nghiệt, ông Thủy đã yêu con gái của mình mà ông không cách gì bôi xóa, tẩy trắng được. Ông Thủy ghê tởm chính mình. Ông tự xỉ vả mình. Nhưng ai đã chơi khăm ông? Ai đã gây ra tai họa, đẩy ông vào ngõ cụt, phải trả giá? Cuộc đời? Số phận? Ma quỷ? Hay chính con người hám danh của ông?

Nhà phê bình Hoàng Thuỵ Anh

Trái Tim Quỷ đã đưa đường dẫn lối để Thủy phải trả giá, một cái giá quá kinh khủng, nghiệt ngã. Thủy muốn đập nát Trái Tim Quỷ nơi hang Hàm Rồng mà bấy lâu nay trong mắt mọi người cứ ám người này đến người khác, song thực ra, Trái Tim Quỷ không đâu xa, nó ở ngay trong con người ông, cái con người chỉ sắm vai đẹp mã, còn bên trong giả dối, rỗng tuếch. Cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội, quặn quại trong vết thương, cùng những lời tự thú trước hang Hàm Rồng như là quy luật nhân quả tất yếu mà ông phải chịu trách nhiệm, phải mang vác.

Từ một bến phà Long Sọ xưa, kí ức chiến tranh chống Mỹ cứu nước ác liệt hiện lên rõ mồn một. Nhất là hình thức lễ truy điệu sống tại bờ sông với chiếc quan tài cùng hương hoa vải liệm gây ấn tượng mạnh đối với người đọc. Ở nơi được xem là túi bom này, chỉ có nước mắt, máu và cái chết hiện hữu. Nhưng Hữu Phương mượn chiến tranh làm nền để nhân vật của mình đối diện với cuộc chiến kinh hoàng khác nữa, cuộc chiến nội tâm. Cảm thức tội lỗi trong những năm tháng chiến tranh dày vò, đè nặng lên cuộc đời Thủy, đặt Thủy trước những mâu thuẫn tự thú hay không tự thú. Mặc dù Thủy đã hơn 2 lần tự thú trước người khác rằng mình không phải là anh hùng, trước Hồ Rần – khi ông đang bị căn bệnh ung thư hành hạ và trước Hồ Rật, con trai Hồ Rần, nhưng bản thân ông vẫn không vượt qua được cám dỗ của danh vọng, vẫn bị cái vòng kim cô anh hùng thít chặt, ghìm lại, vì thế, sống trong hiện tại mà lúc nào ánh trăng nơi bến phà xưa, bóng ma của kí ức, phức cảm tội lỗi cứ mải miết bủa vây, chất vấn ông.

Chiến tranh không can dự về mặt đạo đức, nhân tính, nó chỉ góp phần bóc trần đạo đức, nhân tính của con người. Thủy, Thu Cúc, Phan Vững… đều là nạn nhân của chiến tranh. Nhưng Thu Cúc và Phan Vững không bị chiến tranh hủy hoại nhân tính, Thủy ngược lại. Hữu Phương đã gọi tên được vùng tối nội tâm Thủy: đó là sự thoái hóa nhân tính. Vẫn là kiểu kết cấu chuỗi nhân quả như một số tác phẩm trước đây nhưng Hữu Phương đã tinh tế truy tìm, lắng nghe được tiếng nói nỗi đau vang lên từ con người đang đi giữa hai lằn ranh phi luân và đạo đức, thực tế và danh vọng,… Đó là thành công của tiểu thuyết Trăng mọc nơi bến phà xưa của nhà văn Hữu Phương.

HOÀNG THỤY ANH

Báo Văn Nghệ số 37/2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm