TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • ‘Chiều không để làm thơ’ – Góc nhìn đặc sắc về đất nước ngàn năm và tình yêu tràn ngập sắc hương

‘Chiều không để làm thơ’ – Góc nhìn đặc sắc về đất nước ngàn năm và tình yêu tràn ngập sắc hương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-04-29 00:32:37
mail facebook google pos stwis
2412 lượt xem

Nguyên Bình

(Vanchuongphuongnam.vn) – Nếu nói rằng trời sinh Lê Nhật Ánh ra là chỉ để làm nhiếp ảnh và làm báo thôi thì chưa đủ. Anh viết báo và chộp ảnh đâu ra đó thật. Đó là những bài báo đi kèm với những bức ảnh sống động, nắm bắt những “khoảnh khắc vàng” xảy ra trên quê hương đang bị xói mòn bởi những bàn tay đen đúa, với khát vọng gìn giữ màu xanh cho đất nước mến yêu. “Chuyện của núi” là một tập thơ ảnh đậm chất nhân văn, là bản cáo trạng dành cho các thế lực, nhóm lợi ích cường quyền đang từng ngày bòn rút và tàn phá tài nguyên đất mẹ.

Ngoài nhiếp ảnh, Lê Nhật Ánh còn là một nhà thơ, một nhà thơ thực thụ với sự ra đời tác phẩm thứ ba Chiều không để làm thơ mà tôi (Nguyên Bình) được hân hạnh được anh gởi tặng rất sớm.


Bìa tập thơ “Chiều không để làm thơ” của Lê Nhật Ánh.

Danh họa Leone de Vinci nói: “Hội họa là thi ca được ngắm thay vì được cảm nhận, và thi ca là hội họa được cảm nhận thay vì được ngắm.” (Painting is poetry that is seen rather than felt, and poetry is painting that is felt rather than seen.). Nếu thay vì hội họa là nhiếp ảnh, Lê Nhật Ánh có trong tay cả hai lĩnh vực nghệ thuật này. Khi anh giương máy, nheo mắt, điều chỉnh khẩu độ, chọn góc sáng và lấy điểm vàng rồi bấm máy cũng là lúc hồn thơ anh bắt gặp cảm xúc. Tương tự như thế, chắc hẳn khi Lê Nhật Ánh làm thơ là lúc những hình ảnh mà anh hằng ngày đưa vào tầm ngắm tạo cho anh niềm vui sáng tạo dạt dào.

Nhưng, nói gì thì nói, giá trị của một nghệ sĩ là ở tác phẩm mà họ dày công sáng tạo. Và công chúng là người phán xét công bằng nhất. Tôi là một công chúng lạc quan, tôi đọc và cảm nhận Chiều không để làm thơ dưới góc độ một người yêu thơ với cái đẹp muôn đời của loại hình nghệ thuật này.

Hình thức của tập thơ Chiều không để làm thơ không thể chê vào đâu được. Bìa trước sang trọng và ấn tượng không thua kém bất kỳ một cuốn sách của một nhà xuất bản nước ngoài danh tiếng nào ấn hành. Với hơn 250 trang, thiết kế công phu tỉ mỉ, nhiều phụ bản in màu, tính minh họa cao, gắn bó chặc chẻ với nội dung, cho thấy tác giả đầu tư nhiều công sức và tâm ý vào tác phẩm.

Khi bạn cầm trong tay Chiều không để làm thơ, bạn sẽ cảm nhận được sức viết của Lê Nhật Ánh sung mãn như thế nào. Anh viết đủ các thể loại, thơ 5 chữ, lục bát, 7, 8 chữ và cả thơ xuôi, văn xuôi nữa. Thể thơ 6 chữ dạt dào vần điệu chừng như là thế mạnh của anh, chiếm tỉ trọng cao trong tác  phẩm. Lê Nhật Ánh vận dụng vốn sống ngồn ngộn của mình trong quá trình tác nghiệp ảnh để làm thơ, vì thế, thơ anh luôn tươi mới, không trùng lặp, mỗi bài thơ có một đề tài, mang một sắc thái riêng biệt. Ngôn ngữ thơ bình dân, không hoa mỹ, tạo ra một giọng thơ tự nhiên, thân thiện, gắn liền với đời sống  dân tộc, đặc biệt các dân tộc miền núi bắc Tây Nguyên. Và một góc quê nhà của Tổ tiên ông bà miền Tiên Phước – Quảng Nam, nơi đã chiếm lĩnh gần trọn vẹn tâm hồn anh với một tình yêu sâu nặng.

1. Một góc nhìn đặc sắc về đất nước ngàn năm

Mảng viết cho quê hương là một thế mạnh của Lê Nhật Ánh. Ta luôn bắt gặp trong Chiều không để làm thơ những phát hiện tinh tế khi nhà thơ thực hiện những chuyến trải nghiệm dọc theo chiều dài đất nước. Đi tới đâu, gặp cảnh hoang tàn lở lói trên quê hương, Lê Nhật Ánh quan sát, chụp ảnh và suy tư, lòng anh như quặn thắt lại, rồi từ trong tâm khảm bật ra tiếng kêu thảng thốt của một công dân có trách nhiệm nhìn nước non mình nham nhở vết cày xới tàn phá của những bàn tay vô cảm, lạnh lùng:

Chiều không để làm thơ.

Tôi chúm tay gọi:

Rừng ơi! Núi ơi! Quê hương ơi!…

Nghe sao mà buồn quá!

Những ruộng keo lai ăn mất cánh đồng.

Núi đồi trơ trọi, quanh co những cung đường xói lở.

Anh gần gũi với thiên nhiên tươi đẹp và thấu cảm với những mất mát khổ đau của đồng bào, với cả muôn thú giữa rừng xanh đang dần mất đất sống, ngơ ngác lạc loài giữa mùa li hương:

Mai anh về phía núi

Hiu hắt những ngàn xưa

Hươu nai không tác nữa

Đi giữa mùa li hương


Nhà thơ, nhiếp ảnh gia Lê Nhật Ánh.

Những địa danh truyền thống của đất nước qua đôi mắt quan sát sắc sảo của một nhiếp ảnh gia giúp anh phát hiện nhiều góc độ sáng tối của sự thật, sự mất còn của danh thắng đang dần bị đánh cắp và biến đổi. Trong một chuyến hành hương về với đất Thăng Long ngàn năm văn vật, Lê Nhật Ánh có một góc cảm thụ hoàn toàn mới mẻ, vượt qua cái rung động xưa cũ mang tính cảm hoài của nhiều ngòi bút đã từng viết về Hà Nội:

Đêm phương Bắc nằm nghe đời vội

Biết tìm đâu thương nhớ ngàn năm

Câu hát xẩm bên đền Quán Thánh

Nước non xưa đi mãi không về.

Trong một lần tìm về thăm nhà người thân ở Phan Rang, nhà thơ không bàng quan “đứng nhìn mà làm thơ” về vùng quê chan hòa nắng gió ấy. Anh dấn thân, vào cuộc, gieo sức sống vào thi ảnh sinh động với các cụm từ “leo xe”, “mùa mênh mang nắng”, “Hồn Chăm hút gió lên non”, khiến hình ảnh miền đất mênh mông cỏ cây lơ thơ gió cát như được phả vào hơi thở nóng hổi, hồn đất trỗi dậy lăn theo từng vòng xe “thổ mộ qua làng”:

Ngày ấy tìm về Lương Cách

Leo xe thổ mộ qua làng

Phan Rang mùa mênh mang nắng

Hồn Chăm hút gió lên non.

Có một nhà phê bình nói, không có thực tiễn thì không thể có những bài thơ hay. Ta lắng nghe Lê Nhật Ánh ghi lại cảm xúc cái giây phút anh “chạm” với mây trời thân quen Bà Rịa, nơi anh đang sống. Tôi cứ ngỡ đây là một bức ảnh độc đáo mà người nghệ sĩ chụp – được – chất – thơ của không gian thân thuộc chứ không phải là lời thơ tình tự. Phải chăng đó là sự hòa trộn diệu kì của thi tâm và thi ảnh trong tâm cảm nhà thơ. Hai động từ “đợi én” và “mây lên” sau hai địa danh thể hiện một cú pháp mới mẻ, gây cảm giác xao lòng, đó cũng là khoảnh khắc đắt giá của một ngưòi ngày đêm vác máy đi săn ảnh trên khắp mọi nẻo đường:

Em bảo còn thương người cũ

Mai về Bà Rịa tìm quên

Ngã ba Long Toàn đợi én

Bên chiều Chợ Bến mây lên

Dĩ nhiên, hơn đâu hết, vùng đất Tây Nguyên nơi anh sinh ra và lớn lên chiếm lĩnh trọn vẹn tâm hồn anh với tình yêu bao la sâu đậm. Những địa danh của “Hoàng triều cương thổ” chi chít trong thơ anh, từ chim muông, động vật bản địa đặc hữu, rừng cây, hồ nước, bản Thượng với những già làng, cô thôn nữ, em bé ẩn hiện trong tình cảm thân thương gần gủi, tạo ra một bức tranh lớn sinh động đầy đủ sắc màu. Theo tôi, đây là ưu điểm nổi bật trong thơ Lê Nhật Ánh.

Mai về Tiên Phước hỉ

Đứng ngóng sông đầu nguồn

Tài Thành mưa ướt núi…

Quê cũ chùng trong sương.

Mỗi địa danh của vùng đất nơi anh sinh ra và lớn lên không chỉ là cái tên, mà là máu thịt và hơi thở nóng hổi đầy cá tính vùng miền được anh phả vào hình tượng thơ, vì chính anh hiểu rõ và yêu thương nơi đây như yêu bàn tay mình:

Nóc nhà có hình gà trống

Cặp sừng trâu giữa bậc thềm

Hổ báo vờn quanh vách gỗ

Bếp chiều thở khói tranh tre.

Ngoài ra, kiến văn vùng miền của tác giả rất rộng, đủ để trải thành tấm thảm xanh đón đưa chân khách thơ nối gót cùng anh. Theo chân thơ Lê Nhật Ánh, ta có cả một hành trình tìm về với nhiều địa phương khắp trong cả nước. Những bài viết về các địa danh giống như một thiên ký sự dài hơi, tôi không thể nào ghi lại hết những tên sông tên núi tên làng, nhưng dấy lên trong tôi nỗi khao khát thực hiện một chuyến đi trải nghiệm cùng nhà thơ. Phải chăng sự thu hút này là một phần ghi dấu ấn thành công trong thi tập Chiều không để làm thơ.

2. Một tình yêu tràn đầy sắc hương

Tôi chọn 4 câu lục bát và mời các bạn cùng tôi lắng nghe Lê Nhật Ánh trải lòng với “mùa yêu”, đó là mùa thương mùa nhớ, cái mùa đẹp nhất của đời người với bao nỗi bâng khuâng mà anh chắc lọc trong suốt cả cuộc đời mình, ấp ủ nó cho từng ngày cây tâm hồn hé nụ hoa thơ:

Trong tim còn mỗi mùa yêu

Trong ta còn mỗi bóng chiều thiết tha

Mùa yêu em giấu hôm qua

Ngày thương nhớ cứ sa đà trăm năm.

Trái tim nhà thơ vẫn không ngừng thổn thức với rất nhiều bài thơ tiếp nối nhau trải dài trong không gian thơ Chiều không để làm thơ. Tình yêu, một cái gì đó khó định hình định lượng, nhưng tình yêu lãng đãng chế ngự tâm hồn ta, xao xuyến vấn vương như mùa thu lá vàng, mùa đông khói bếp, như ban mai xanh, như “bóng chiều thiết tha” mây trắng. Dẫu em có giấu cất vào đâu thì trái tim ta vẫn “sa đà trăm năm” khát khao hò hẹn.

Thơ tình Lê Nhật Ánh không là lời tình tự giao duyên của đôi lứa, anh viết cho cảm xúc dâng trào khi nghĩ về tình yêu. Trong Chiều không để làm thơ vắng bóng những bài thơ sầu muộn sướt mướt của những cuộc tình xa thường tình. Với bản lĩnh của một con người năng động xông xáo, ta cảm giác Lê Nhật Ánh nuốt lệ vào trong, chịu nhận những vết cứa đau đớn của cuộc đời ngay cả khi mối tình đầu của nhà thơ vỗ cánh bay đi. Tôi rưng rức xúc cảm với những phút giây hồi tưởng chơi vơi về những tháng ngày mộng mị đã xa vời, đã mất dấu trong cuộc đời, khi mối tình thuở nảo thuở nao bỗng chia lìa đôi ngã được anh thể hiện trong 6 cái tự truyện in kèm theo ở cuối tập sách. Chia ly rồi hạnh ngộ cũng đủ để người ta cùng khóc cười với anh… Cuộc đời lắm ngả rẽ, chia phôi giữa biển đời xao động, chỉ đủ cho anh viết những câu thơ với sự nuối tiếc câm lặng, thương tiếc phố cũ ngày xưa chỉ còn lại dấu chân kỉ niệm đã phôi pha dập vùi mưa nắng, đời buồn tênh chỉ còn lặng nghe “nỗi buồn kết nụ”:

Em ngang chiều phố cũ

Nghe mưa nắng đời mình

Có nỗi buồn kết nụ

Bên phố người lặng thinh.

Có đôi khi, nhà thơ độc thoại với chính nội tâm mình, anh thủ thỉ với người tình xa vắng, lặng lẽ ôm giấc mơ luôn hiện hữu trong trái tim yêu đương. Vì thế, “một ngày như mọi ngày” của nhà thơ luôn “có dáng em nho nhỏ” ẩn hiện trong tâm hồn:

Ngày của anh

Có dáng em nho nhỏ

Có mắt cười đâu đó xa xăm

Rồi có những phút giây lao xao kỉ niệm dấu yêu hiện về, nỗi nhớ mong chắp cánh bay cao, dịu êm và lãng mạn, nguyên vẹn tinh khôi cái ngày hai đứa bên nhau. Hai câu thơ cuối của khổ thơ vô cùng đắt giá, tác giả khắc họa mối tình trẻ trung của đôi tình nhân trong thời khắc cận kề chỉ là “Mình ngồi lơ mơ quán gió” không tình tự, không vòng tay ôm ấp, không môi hôn nồng nàn dấu yêu mà họ cùng “ngắm mùa hoa đỏ quên yêu”. Thật là một hình tượng tình yêu thánh thiện, như Sait Exupery từng nói: “Yêu nhau không phải là nhìn nhau, nhưng là cùng nhau nhìn về một hướng.” 

Bỗng dưng anh nhớ thật nhiều

Con đường qua nhà em trọ

Mình ngồi lơ ngơ quán gió

Ngắm mùa hoa đỏ quên yêu.

Khi yêu đương, ai mà không hờn dỗi, ai mà không mũi lòng, rồi trách móc, rồi xót xa. Họ giận hờn về một duyên cớ vu vơ nào ai mà biết được. Bốn câu thơ sau đây thật tinh tế, nói mà không nói, mơ mơ hồ hồ, không có lời than thở mà nghe có cảm giác nghèn nghẹn từ đâu đó trong ngôn ngữ thơ cất lên:

Hình như gió đổi rồi em

Chừng nghe thương nhớ êm đềm sang sông

Có điều gì đó đợi trông

Có niềm kiêu hãnh vẫn không quay về.

Nhà thơ cũng luôn tự khẳng định tình yêu đầu của mình dành cho “nhỏ”, đó là từ anh thích dùng cho người con gái thuở anh mới tập tành yêu đương trong giảng đường sư phạm. Thi sĩ không năn nỉ người mình yêu, mà ngữa bàn tay về phía trời xanh, anh xin giọt sương ban mai mãi long lanh, xin chiều thu cứ lững lơ mây trắng, để chiếc lá vàng cuối cùng của ngày hẹn hò còn mãi lưu dấu trên cây. Tình yêu của “kẻ ăn mày” tình yêu như gã hành khất Lê Nhật Ánh vô cùng lãng mạn, tôi rất muốn chạy theo mà có lẽ theo không kịp:

Khi yêu anh bỗng hoá ăn mày

Xin sớm đọng sương, xin chiều thu nắng

Xin chiếc lá vàng lưu dấu trên cây.

Thiết tha là thế, nhưng nhà thơ nhận thức tình yêu như chiếc lá mùa thu mong manh, như trái tim ngọc ngà dễ vỡ, thi sĩ khẩn cầu tất cả hãy lặng yên cho tình chàng vẹn nguyên, xin đừng chạm vào nó,  “dẫu chỉ là cơn gió” cho ta phơi cuộc tình*:

Đừng chạm vào chiếc lá thu

Dẫu chỉ là cơn gió

Đừng chạm vào xưa thương nhớ

Mộng vẫn trên cành chiêm bao

Thế rồi, bỗng một hôm, trải qua bao chia lìa nghiệt ngã, khi “tơ tóc ngã màu khói mây” thì trời đất dung rủi cho đôi tình nhân thuở xưa hạnh ngộ, một cuộc hạnh ngộ ứa nước mắt hạnh phúc của hai trái tim đã chịu nhiều đau khổ, nếu Lê Nhật Ánh nhờ ai đó bấm máy, chắc chúng ta sẽ có một bức ảnh tuyệt vời:

Mấy lần qua bến nông sâu

Thương người tơ tóc ngã màu khói mây

Ơn trời còn buổi sương bay

Chiều nay em khóc giữa vòng tay yêu

Và bây giờ, chàng thi sĩ lãng tử một thời dọc ngang bỗng ngoan hơn bao giờ hết, khi ở trong vòng tay yêu thương, chàng đã thỏ thẻ hứa với nàng, chao ơi, ngoan như vậy là cùng:

Mình hứa với người sẽ ngoan

Hứa là sẽ chẳng đi hoang mỗi chiều

Mình hứa với đời sẽ yêu

Hứa ngày quên nhớ buồn vui cùng người

Giờ đây, tôi hình dung họ đang chung bóng trên đường đời và mỗi khi nàng giận hờn, nhà thơ tự tin ru tình để viết những câu thơ dổ dành ngọt lịm:

Giận hờn em trách vậy thôi

Yêu mà để hết là đời rong rêu

Con tim zích zắc bao điều

Rằng thương nhớ đã quá chiều mây bay.

Tôi nghĩ mình không thể miên man rơi vào cái không gian yêu dấu này mãi được dù đang đắm chìm trong những cảm xúc yêu đương rất đời mà cũng vô cùng đẹp đẽ ấy. Thế nên xin nhường lại thời gian cho các bạn khám phá tâm hồn thơ Lê Nhật Ánh trong thi tập Chiều không để làm thơ nhé!

Nhà thơ Lê Nhật Ánh đang ở tuổi xấp xỉ 60, cái tuổi sung mãn của sức lực và trí tuệ, tôi tin anh còn tiếp tục sáng tác nhiều năm nữa, để cho ra đời nhiều tác phẩm giá trị cống hiến cho nghệ thuật với súc sáng tạo của một cá tính thơ đặc biệt.

Bà Rịa, ngày 9/3/2022

N.B

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm