TIN TỨC

“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-05 21:36:51
mail facebook google pos stwis
725 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.

 

Cuộc phiêu du của Chép Hồng - Tác giả Phạm Hồng Điệp

 

Hệ sinh thái văn hóa và văn học xanh

Quốc gia (Nước) Việt Nam trong truyền thống hàng ngàn năm tựa vào núi non (Đất) để tồn tại và phát triển (nên mới có truyền thuyết Sơn tinh thắng Thủy tinh). Nhưng đến thế kỷ XXI, Việt Nam trở thành một quốc gia biển, vì thế kiến tạo thực tế tâm thức cộng đồng mới Tổ quốc nhìn từ biển (nhan đề một trường ca thành công của thi sĩ Nguyễn Việt Chiến, không hẳn về ý nghĩa đề tài, mà nhờ chủ đề về cương vực lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân khí và hào khí Đông A).

Đọc xong Cuộc phiêu du của Chép Hồng, đang suy nghĩ tìm cách viết phê bình một tác phẩm mới lạ, hấp dẫn thì hoàn toàn bất chợt và ngẫu nhiên tôi đọc được trên Tạp chí Tia Sáng (Online, 10/3/2026) bài viết hấp dẫn Giáo sư Chung Hoàng Chương - Người đi tìm “vân tay sinh thái” của sông Cửu Long. Bài viết dưới dạng tiểu sử khoa học, đã đành, nhưng quan trọng hơn là nói về năng lực phát kiến của nhà khoa học có tâm và có tầm: “Tại sao một nhà xã hội học lại chuyển hướng sang nghiên cứu thủy văn? Trong thế giới quan của thầy Chương, dòng sông chính là “vân tay” của vùng đất. Nếu mỗi con người có một mã định danh riêng thì mỗi khúc sông Mekong cũng có một bản sắc độc đáo (...).

Trong những cuộc đối thoại gần đây với một số bạn trẻ khởi nghiệp bên dòng Mekong, giáo sư Chương đặc biệt nhấn mạnh khái niệm hydro - humanities - tạm dịch là thủy nhân văn học. Khung lý thuyết hiện đại này được giới thiệu trong cuốn sách Hydrohumanities: Water Discourse and Environmental Futures (Thủy nhân văn học: Diễn ngôn về Nước và Tương lai môi trường) xuất bản năm 2021 của nhóm tác giả Mỹ, theo đó, nước không chỉ là thực thể vật lý mà là chở theo diễn ngôn định hình bản sắc”.

Tôi mạnh dạn gọi Cuộc phiêu du của Chép Hồng của Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp là một tác phẩm đặc tuyển thuộc về phạm trù “văn học xanh” trong hệ sinh thái văn hóa, theo quan điểm hiện đại. Nó rất gần gũi với những tác phẩm thành công gần đây góp phần kiến thiết “văn học xanh”, “văn học sinh thái” sẽ thống ngự trong tương lai trên văn đàn kiểu như Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu, Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, Người bay trong gió xanh của Phạm Duy Nghĩa, Thương ngàn của Vĩnh Quyền...

 

Chép Hồng như một biểu tượng nghệ thuật

Cá chép (tiếng Hán: Lý Ngư) trong tâm thức dân gian biểu trưng cho trí thông minh, lòng dũng cảm, tinh thần vượt khó, chí tiến thủ “vượt vũ môn”, “hóa rồng”, đem lại niềm vui và lợi ích cho cộng đồng như câu chuyện sự tích Cá Chép Đỏ lưu truyền trong văn học dân gian Trung Hoa.

Trong tác phẩm đồng thoại Cuộc phiêu du của Chép Hồng, trong một không gian thủy sinh có tên hồ Cá Chéo điển hình (rộng hơn 30 mẫu bắc Bộ/ gần 11 héc-ta/ 108.000 mét vuông), Chép Hồng được xây dựng thành một “nhân vật” trung tâm, sinh động, đáng yêu, trong một không gian sinh tồn đặc trưng bởi tính chất “quần ngư tranh thực” (cá lớn nuốt cá bé); nơi tác giả gửi gắm những nỗi niềm được nâng lên thành triết lý về đời sống xã hội thông qua cuộc khám phá thế giới thủy sinh bằng phương pháp “nhân cách hóa”.

 

“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước - 2

Tác giả Phạm Hồng Điệp và nhà văn, nhà báo Hoàng Dự tại Lễ ra mắt sách “Cuộc phiêu du của Chép Hồng”

​

Nếu nhìn thế giới từ con mắt của Cá Chép Hồng thì trước tiên hẳn là từ đôi mắt xanh của tuổi trẻ. Khi người ta trẻ ắt hẳn cái nhìn cuộc đời bằng con mắt xanh, sẽ đậm tính chất viễn kiến. Viễn kiến trên quan điểm hiện sinh. Vũ trụ quan, thế giới quan của Cá Chép Hồng với nơi mình trú ngụ và sinh tồn (hồ Cá Chéo), ắt hẳn luôn là “vừa là mái nhà quen thuộc, vừa là vùng nước chất chứa không ít rủi ro trong cuộc sống của Cá Chép Hồng”. Đó là nhãn giới cần được trang bị và bất ly thân với những công dân tương lai, sớm có cái nhìn thấu thị về quy luật sinh tồn trong những không gian và thời gian mặc định, khi mới bước vào đời.

Thế giới hẳn không chỉ có một màu hồng hay chỉ một màu đen. Những bài học đầu đời mà Cá Chép Hồng thấm nhuần là nhận được từ bác Cá Trê, lão làng ở thế giới thủy sinh nơi hồ Cá Chéo. Rõ ràng tác giả không có ý định dọn “mâm cao cỗ đầy” cho nhân vật chính, cũng không bày đặt ra đại lộ thẳng tắp rải đầy hoa lá, đan kết cổng chào rực rỡ để nó thẳng tiến bước trong những điệu hoan ca vang rền, mà có thể tạo nên con đường chông gai để thử thách, theo lối “lửa thử vàng gian nan thử sức”, hay “thất bại là mẹ của thành công”.

Bác Cá Trê ưu ái truyền đạt kinh nghiệm ứng xử khi vào đời cho Cá Chép Hồng: “Sau này nhớ tránh xa những chỗ nước nông, kẻo gặp nguy hiểm cháu nhé”. Đúng vậy, đồng thời có triết lý của nhân gian “dưới chân cột đèn là nơi tối nhất”. Đây chính là cách thức dạy kĩ năng sống cho trẻ thơ từ khi rời khỏi ngôi nhà thân yêu của mình và vòng tay âu yếm ôm ấp chở che của ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột thịt. Nó trái với cách hiện nay chúng ta dạy trẻ thơ bắt đầu từ yêu những cái lớn lao quá đỗi, nhưng xa xôi, vô hình, thiếu tinh thần “thực” học, thực hành, thực tế. Theo cách nói hiện đại là thiếu hay kém hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả.

Sau khi gặp gỡ bác Cá Trê, Chép Hồng còn có cơ hội được giao kiến với cụ Trắm Đen, bác Cá Trôi, cụ Cá Rô, bác Lươn Già, chú Cua Đực, cụ Cá Vược,... toàn là những vị tiên chỉ lão làng. Bài học tiếp theo giúp Cá Chép Hồng trưởng thành là “cuộc sống thú vị nhưng luôn có hiểm nguy”. Vượt qua những hiểm nguy bất thường đã là khó. Nhưng khó hơn là bản thân có trở nên hữu ích, có thể tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, nhất là với những ai yếu thế, sức hèn lực cạn. Rõ ràng là, cuộc sống không đơn thuần chỉ là chuyện mưu sinh, mà còn là hành trình biết quan tâm, giúp đỡ nhau để mỗi ngày trôi qua đều có giá trị và đáng sống. Bài học đầu đời của Cá Chép Hồng chính là mối quan hệ mật thiết giữa “tôi” và “ta” (mình vì mọi người, mọi người vì mình). Bài học về mục đích sống và giá trị của đời sống.

Nhưng nếu Cá Chép Hồng chỉ ru rú trong hồ Cá Chéo (dù được coi là rộng lớn, khoáng đạt, sung túc cái ăn), thì cũng chỉ là một góc quê kiểng, khó tiến bộ, trưởng thành nếu không được ném ra biển lớn (môi trường, không gian vĩ mô, có tính mở với giao diện rộng lớn hơn gấp bội). Cá Chép Hồng không thể không chấp nhận và thực thi một cuộc phiêu bạt (dạt) ra cánh đồng mẫu lớn. Mà thường là những cánh đồng bất tận. Đây là một cuộc phiêu dạt, xê dịch, viễn du, phiêu du làm thỏa chí tang bồng của một trang  thanh niên tuấn tú (nếu chúng ta coi Cá Chép Hồng là một nhân vật). Nay Cá Chép Hồng tạm coi là đủ lông đủ cánh, đủ sức đi xa, sẵn sàng vượt vũ môn, sẵn sàng hóa rồng.

Ở giai đoạn trưởng thành, Cá Chép Hồng học được kĩ năng sống ở cấp độ cao sâu hơn - nhận biết thế giới xung quanh càng thấu tỏ thì càng gia tăng tính an toàn trong quy luật sinh tồn khắc nghiệt. Cũng như trong chiến trận, khi người chiến binh phải “biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”.

Đi ra cánh đồng lớn như ra biển lớn, điều thu lượm bổ ích nhất với Cá Chép Hồng là “thiên nhiên có quy luật riêng”, vì thế ai hiểu được và tôn trọng quy luật ấy (ta thường gọi là quy luật “thuận thiên”, hợp lẽ trời) thì sẽ biết cách tránh được nguy hiểm và tìm kiếm niềm vui sống, kể cả khi bĩ cực hay thái lai. Cứ như thế từng bước một, Cá Chép Hồng đã trưởng thành với ý thức “cứ đi, cứ đi, trời xanh thêm”. Càng đi càng thấm thía chân lý sức mạnh của tập thể (cộng đồng) lớn hơn rất nhiều sức mạnh của một cá nhân đơn lẻ, nhất là khi mọi người biết chung tay vì mục đích chung. Càng trải nghiệm, Cá Chép Hồng càng nhanh chóng từ bỏ được cái tâm thế ếch ngồi đáy giếng, thoát khỏi cái gọi là “tiểu nhân đắc chí” của những “vĩ nhân tỉnh lẻ”.

Người ta thường nói một cá thể (người hay vật) chỉ có giá trị trong một hệ thống nhất định nào đó. Đúng như thế. Nên kể từ khi Cá Chép Hồng giáp mặt với con người và can dự vào “cuộc chiến với con người” (từ chương 13) thì tình thế xoay vần, kết cục cũng sẽ khác nếu như chỉ sống chung với cùng họ hàng nhà mình hay cùng loài thủy sinh. Một tình huống mới sẽ xảy ra bởi “Sắp có một cuộc đánh bắt cá động trời, có thể hủy diệt cả họ nhà chúng ta”. Do đó “Dưới lòng hồ, các loài cá và toàn bộ thủy sinh đều bị chấn động bởi cơn “địa chấn” mang tên loài người”. Đây không phải là “cuộc chiến tranh giữa các vì sao” như trong văn học giả tưởng nữa, đây đích thực là một cuộc chiến giữa người và loài vật ở chính trên mảnh đất này. Tất cả khẩn trương cho một cuộc di cư lớn vì chiến tranh giữa người và loài vật sắp nổ ra. Vì cuộc sống là một hành trình không ngừng dịch chuyển. Khi biến cố và hoàn cảnh khắc nghiệt đến, chúng ta cần chủ động tìm lối đi mới để tồn tại và vươn lên. Đây không đơn thuần là triết lý, mà là thực tiễn, có tác dụng kiểm tra chân lý.

Cuộc sống mới của Cá Chép Hồng và họ hàng cua cá, thủy sinh bây giờ trong không gian sinh tồn mới - mương nổi, rồi ra đầm lúa. Tưởng bề yên thân, yên vị, yên hàn để mưu sinh nhưng thực ra “hiểm nguy ở đầm lúa” vẫn cứ rình rập (từ chương 20). Nhưng Cá Chép Hồng đã thông minh và dũng cảm “dẫn đàn vượt qua hiểm nguy” (từ chương 25). Cứ thế, đàn cá do Chép Hồng dẫn dắt cứ phiêu du từ đầm lúa qua đầm nước lợ (chương 26). Một khoảng cách di chuyển thêm, Cá Chép Hồng lại tích lũy thêm được “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, đoàn kết hơn để thêm bạn bớt thù. Kết quả mỹ mãn nhất với Cá Chép Hồng và loài cá là càng đi càng có cơ hội khám phá thiên nhiên kỳ thú (từ chương 31). Mỗi chặng phiêu du của Cá Chép Hồng và đồng loại là giúp nó tri nhận quy luật: Không phải loài thông minh, không phải kẻ mạnh, mà kẻ nào thích nghi nhanh, kẻ đó sẽ tồn tại và phát triển; ai chậm trễ và trì trệ sẽ nhận thất bại.

Nhưng Cá Chép Hồng, bản thân nó không vượt thoát được tấm xiêm áo dù đẹp nhưng bó hẹp tầm nhìn nếu không có chuyến vượt vũ môn, hóa rồng, cùng với Chép Đực như là song kiếm hợp bích, hơn thế một cặp đôi hoàn hảo. Trong tình huống của truyện đồng thoại này, với nhân vật Cá Chép Hồng là “giấc mơ vượt đê” (từ chương 37). Vì theo bậc “tiền bối’ là bác Cá Măng thì “Bác đã bơi sang đó nhiều lần rồi. Ở bên rừng nước mặn có rất nhiều điều lý thú đó, mang tiếng là rừng nước mặn nhưng nước bên đó lên xuống điều hòa vì vậy độ mặn của nước cũng chỉ bằng ở bên này thôi các cháu ạ. Nếu các cháu muốn chu du chinh phục rừng nước mặn thì bác sẽ mở lối đưa đường nhé. Các cháu cứ yên tâm đi với bác”. Kể từ đó, cá  Chép Hồng và đồng loại cùng chung cái tâm tưởng “hướng tới rừng nước mặn”, “chinh phục rừng nước mặn”, tìm ra “lợi ích của rừng ngập mặn”. Từ đây Cá Chép Hồng có thêm người bạn đường tin tưởng, cùng chí hướng là Chép Đực.

Cái kết của truyện đồng thoại Cuộc phiêu du của Chép Hồng tương thích với tư duy hình tượng của folklore: “Đúng lúc đó, vòng xoáy trôn ốc tích tụ đầy năng lượng thò sâu xuống mặt hồ, hút trọn nguồn năng lượng tuyệt đối của đôi chép hóa rồng. Một tiếng nổ “Bùng! Bùng!”, vang trời, tiếng thần sấm dội xuống, đưa Chép Hồng và Chép Đực bay vút lên thiên đình với nguồn năng lượng đỉnh cao, mang theo những tinh túy thuần khiết nhất của trời và đất, ghi dấu một ấn tượng tuyệt vời về câu chuyện Chép Hồng. Và từ đó, trong nhân gian vẫn lưu truyền câu chuyện cá chép hóa rồng đưa Táo Quân lên báo cáo Ngọc Hoàng”.

 

Một thông điệp về nhân sinh, hòa bình, hữu nghị

Cuộc phiêu du của Chép Hồng là hình ảnh tái tạo một thế giới khả nhiên, vừa tĩnh vừa động, một dòng chảy thao thiết bất tận phù hợp với quy luật thuận thiên (hợp lẽ trời, hợp tự nhiên), không có sự can thiệp của ý chí luận. Trong con mắt của các nhà hiện thực cổ điển thì cuộc sống đã đến mức “mốc lên, gỉ ra, mòn đi” (Sống mòn - Nam Cao). Nhưng trong con mắt của các nhà tân hiện thực, tân cổ điển thì thế giới mang tính “mở”. Vì thế, văn học thời đại cũng là văn học của thế kỷ mở. Với văn học đương đại Việt Nam, có thể nói, tính mở hằn sâu vào sự chuyển dịch góc nhìn, góc trần thuật tạo nên diễn ngôn mới. đa chiều, đa dạng, đa phong cách, đa  trào lưu và khuynh hướng sáng tác theo lối “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”.

 Tinh thần cộng sinh, nghiệm sinh, hiện sinh (cùng tồn tại và chung sống hòa bình) của các sự vật (thế giới động vật, thực vật) là cách thức tồn tại lấy đối thoại thay cho đối đầu, chung sống hòa bình thay cho chiến tranh hủy diệt chính là triết lý trường tồn mới. Thế giới mở đòi hỏi tương thích một thế hệ mới dám dấn thân, chấp nhận, xả thân qua những trải nghiệm đủ các cung bậc.

Với thế hệ này, ý thức về tự nhiên hài hòa với ý thức về xã hội, tránh cực đoan. Tinh thần thích nghi với hoàn cảnh là một chỉ dấu đánh giá năng lực thực tiễn của mỗi cá nhân. Một thế hệ có tư duy viễn kiến trong một thế giới tranh đấu giữa kỹ trị và tâm linh, giữa cái tôi và cộng đồng, giữa dân tộc và nhân loại. Cá chép vượt vũ môn, hóa rồng dù hiển thị trong tâm thức dân gian hay suy tư triết học hiện đại đều hướng tới xây dựng nhân vật lý tưởng - những “con người khổng lồ” kiểu thời đại Phục hưng theo quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác.

Cuộc phiêu du của Chép Hồng là biểu tượng của một cuộc ra đi tìm kiếm sự sống và chân lý bằng cả lý trí anh minh và tình cảm sâu sắc để thực hiện thành công quá trình đổi mới, khi một thế hệ trẻ khỏe, thông minh và sáng tạo đã sẵn sàng lên đường chinh phục thế giới mới. Tác phẩm khoác bộ xiêm áo “đồng thoại” non tơ và cổ điển “viết cho thiếu nhi” nhưng độ bền, độ đẹp, độ hữu dụng mang tính đại chúng, đặng có thể dành cho mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình độ và khác nhau về sở thích đọc sách văn học. Riêng tôi, tràn đầy hy vọng về Cuộc phiêu du của Chép Hồng sẽ thuộc loại sách hay và đồng thời là “best-seller”.

B.V.T

Nguồn: Thời Báo Văn Học Nghệ Thuật

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm