TIN TỨC

Cuộc “vượt vũ môn” ngoạn mục

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-07 17:42:53
mail facebook google pos stwis
2632 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

Anh Võ Minh là cựu chiến binh, thương binh hạng nặng (mất 81 phần trăm sức khỏe, xếp loại ¼). Chàng thanh niên quê Nghi Thịnh, Nghi Lộc, Nghệ An (sinh 1952), khoác áo lính từ khi tuổi mười tám phơi phới thanh xuân (1970); trải qua bốn năm trận mạc ở chiến trường ác liệt miền Đông Nam Bộ (lính của Trung đoàn 271 Anh hùng, có lẽ vì thế mà tạo  Email/vominh271@gmail.com).

Bị thương trong chiến trận, ròng rã một năm (1974) điều trị vết thương nặng, năm 1975 mới trở về  sống với đời thường, với bút nghiên đèn sách. Từ 1975-1980, anh Võ Minh dùi mài kinh sử ở ngành Điện khí hóa, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội; ra trường công tác tại Cục Cơ khí, Bộ Giao thông vận tải. Chàng Kỹ sư điện trẻ tuổi mang trên mình thương tật nặng nề (đến nay vẫn còn 7 mảnh đạn trong đầu), nhưng yêu nghề, yêu đời và đặc biệt yêu văn chương. Cuộc sống của người lính giữa đời thường không thể nói là suôn sẻ, xuôi chiều mát mái, bằng anh bằng em. Những khi trái gió trở trời, vết thương cũ lại hành hạ. Những cơn đau từ đâu sầm sập kéo đến như những trận lốc xoáy cơ hồ kéo ném Võ Minh ra tận ngoài đảo xa giữa biển Đông hay quẳng lên trên những đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn. Sống được đã là khó huống hồ còn nặng nợ nghiệp văn chương chữ nghĩa. Nhưng phải sống để mà nhớ lấy và ghi lại cả quá khứ đau thương và anh hùng của một thế hệ. Thấm nhuần lời Bác Hồ dạy “Thương binh tàn mà không phế”, anh Võ Minh đã làm được điều phi thường với danh dự của Anh bộ đội Cụ Hồ. Năm 1984, kỹ sư điện Võ Minh là người đầu tiên ở Việt Nam đã thiết kế thành công hệ thống điện cho loại cần cẩu 3 tấn trên tàu biển, cần cẩu tháp trong xây dựng.


Nhà văn Võ Minh

Nhưng có thể nói, tấm gương lao động chân chính, tích cực và hiệu quả nhất của cựu chiến binh, thương binh nặng Võ Minh lại ở lĩnh vực sáng tác văn học, không phải là tay ngang, cũng không phải chỉ là cuộc chơi chữ nghĩa “vô tăm tích” như ai đó thiển cận phát ngôn. Ở lĩnh vực “văn” anh cũng nghiêm túc và nhiệt huyết như trong lĩnh vực “điện”, nghĩa là cũng năng nổ tìm tòi và phát huy sáng kiến. Năm 2007, anh trình làng tập hồi ký “Có một thời như thế” (NXB Thanh niên, tái bản lần thứ 7, năm 2022). Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha nhận xét về văn chương của đồng đội mình: “Võ Minh lại góp phần giúp ta lật lại điềm tĩnh cuốn lịch chiến tranh mà ở đó mỗi ngày đều gầm rú đạn bom, đều thấm đẫm máu người lính trận. (...). Trong suốt hơn 200 trang hồi ký được dựng lại theo thể nhật ký, gần như không có trang nào không thấy rớm máu, không có trang nào không thấy thủng lỗ chỗ vết đạn bom”. Hồi ký “Có một thời như thế” được tái bản tại NXB Chính trị quốc gia Sự thật, số lượng 25.000 cuốn (Sách cấp phát cho quận, phường, xã và thư viện trong cả nước); sách được đưa vào Tủ sách Tiếp lửa truyền thống - Mãi mãi tuổi 20. Người đồng hương xứ Nghệ, dịch giả Hoàng Xuân Thường (Phó Trưởng khoa Điện tử, Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Vinh, Nghệ An) chuyển ngữ tập hồi ký “Có một thời như thế” sang tiếng Ba Lan, sẽ ra mắt độc giả tại quê hương nhạc sỹ thiên tài thế giới Chopin (Sô Panh) một ngày không xa. Vì thủy chung với văn chương, anh quyết tâm dấn thân, khi in tập truyện ngắn “Nghị quyết cây khế” (NXB Hội Nhà văn, 2014). Trong tác phẩm thứ hai, Võ Minh chủ yếu viết về cuộc sống đời thường với nhiều cảnh ngộ, số phận, bằng giọng văn hài hước có vẻ nhẹ nhàng nhưng hàm ẩn sâu sắc tinh thần phê phán nhân văn thói vô cảm (nhà văn Nguyễn Minh Châu gọi là “thói máu cá”) của con người trước đồng loại. Sách được lưu hành trong Hệ thống thư viện tưởng niệm NICHOLSON, HOA KỲ. Tên tuổi Võ Minh trên văn đàn càng định vị khi ra mắt tác phẩm thứ ba “Lốc xoáy” (tiểu thuyết, NXB Phụ nữ Việt Nam, 2022). Bốn năm trăn trở, tu chỉnh (có khi tưởng như phải dỡ ra viết lại), bằng ấy năm nữa tìm lối ra cho đứa con tinh thần khiến Võ Minh cũng không ít hao tâm tổn sức. Không phải không có lúc nản chí. Nhưng tinh thần của người lính đã giúp anh nghị lực, lòng tin, niềm lạc quan. Phía trước là bình minh.

Nếu “Lốc xoáy” chỉ xoáy vào biến cố Cải cách ruộng đất thì tác giả sẽ khó vượt được những người đi trước. Nhưng cơn lốc xoáy Cải cách ruộng đất chỉ là một trong nhiều cơn lốc xoáy - những cuồng phong lịch sử  - khác đã diễn ra trên đất nước ta thời hiện đại. Viết về một thời kỳ lịch sử đầy phong ba bão táp, thông qua con người, là cách nhà văn khác nhà lịch sử chỉ quan tâm và tôn trọng sự kiện. Tác giả đã thực sự “khôn ngoan” chuẩn bị “sân chơi” cho các nhân vật xuyên suốt tác phẩm dài hơi, trong khoảng thời gian bốn thập kỷ. Vì thế “ Lốc xoáy” được nối mở bằng ba phần (I, II, III): Trời long đất lở - Ma quỷ cõi người - Luật đời nhân quả. Phần I, là câu chuyện đấu tố, oan khuất, đập phá chùa chiền, bài trừ văn hóa phong kiến, cho đến ra đời hình thức hợp tác hóa nông nghiệp đều là cuộc bể dâu, dưới ngòi bút của tác giả, hiện lên trần trụi, gai góc qua từng con chữ. Cảm hứng hiện thực phê phán trên tinh thần nhân văn thấm đậm ngòi bút. Cơn lốc xoáy thứ hai là chiến tranh với những cảnh tàn phá, chết chóc nơi hậu phương và những hành động xả thân nơi chiến trường của những người lính quả cảm. Người ta sinh ra vốn không phải là lính. Nhưng những ký ức về chiến trận thường sâu lắng nhất và cũng da diết, bền lâu nhất, lương thiện nhất. Trong “Lốc xoáy” các trang viết về chiến tranh, theo cách viết “có đầu có đuôi”, vẫn đứng được vì nó liền mạch, cố kết, hòa mạng được với phần I và III. Cơn lốc xoáy thứ ba không có tiếng rít của đạn bom song không kém phần khốc liệt vì thị trường cũng có khi đổ máu như chiến trường, cũng nhiều thân bại danh liệt, cũng nhiều lao lý, cũng bể dâu ngút trời, cũng khủng hoảng vỡ trận. Không gian và thời gian sinh tồn của nó có đặc điểm “cộng sinh - chúng sinh - hiện sinh”. Cộng sinh (chung sống) là cái nền tảng cho chúng sinh (toàn dân) và hiện sinh (hiện hữu) mọc lên như một thân cây có gốc rễ tươi tốt. Các nhân vật đều được tô đậm tính chất “đa nhân cách”, “phi truyền thống” (không chia thành chiến tuyến xấu tốt, chính nghĩa - phi nghĩa theo thi pháp văn học dân gian và văn học truyền thống). Nhân vật được đặt trong một hoàn cảnh điển hình, họ đều không có khả năng tự/ được khai phóng. Nói như nhà văn Nga hiện đại tài danh I. Bondarev, tác giả tiểu thuyết “Tuyết nóng” đã được dịch ra tiếng Việt thì: “Một sự thật không thể chối cãi và đau đớn khi tất cả chúng ta đều là tù binh của hoàn cảnh”. Những “hiệu ứng domino” và “ma trận” (matrix), tôi nghĩ, chính là kỹ thuật/bí kíp viết riêng của tác giả được vận dụng thành công trong tiểu thuyết đầu tay “Lốc xoáy”, đã để lại nhiều dư âm.

 Sáng 27/7/2023, tại thị xã Cửa Lò, Nghệ An diễn ra sự kiện văn học đặc biệt “Tọa đàm về tác phẩm của nhà văn Võ Minh” do Tạp chí Sông Lam (Hội LHVHNT Nghệ An), Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam và Chi hội VHNT Thị xã Cửa Lò đồng tổ chức. Kỷ yếu tọa đàm đã tập hợp 13 bài viết của đồng nghiệp, bạn hữu nhà văn Võ Minh trong và ngoài tỉnh (Vũ Ngọc Tiến, Chu Lai, Bùi Việt Thắng, Nguyễn Thụy Kha, Đinh Trí Dũng, Nguyễn Văn Hùng, Hoàn Nguyễn, Phạm Thùy Vinh, Hà Vinh Tâm...). Riêng về “Lốc xoáy” đã có 7 bài viết (có 4 bài đăng báo Văn nghệ, Thời báo VHNT, Nghệ An Cuối tuần và tạp chí Sông Lam). Phần “tọa đàm” rất sôi nổi, chân tình qua ý kiến phát biểu của đồng đội, bạn hữu và các nhà văn tham dự sự kiện (Lê Phương Liên, Nguyên An, Mai Nam Thắng). Trong ý kiến phát biểu của mình, nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhấn mạnh đến công lao của Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là Giám đốc - Tổng biên tập Khúc Thị Hoa Phượng, đã đồng hành, đồng tâm, hiệp lực làm “bà đỡ mát tay” cho “đứa con tinh thần” của nhà văn Võ Minh ra đời - tiểu thuyết “Lốc xoáy”. Ông chia sẻ: “Người ta nói đằng sau một người đàn ông thành đạt có một người phụ nữ. Nhưng với sự ra đời của “Lốc xoáy”, có thể nói, đằng sau nhà văn Võ Minh có hai người phụ nữ - người vợ đảm lược và Giám đốc Khúc Thị Hoa Phượng tràn trề tinh thần đổi mới và sáng tạo”.


Các tập sách của nhà văn Võ Minh.

Năm 2020, cựu chiến binh - thương binh nặng anh Võ Minh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là vinh dự đồng thời là trách nhiệm cao của người cầm bút phụng sự lý tưởng “chân - thiện - mỹ”. Rõ ràng quỹ thời gian của nhà văn Võ Minh không còn dư dả, nên anh đang nỗ lực hết sức mình để vượt khó trong đời sống và trong lao động nghề văn. Nhà văn Võ Minh vẫn còn nung nấu ý tưởng viết tiếp như là cách trả món nợ tinh thần với đồng đội đã không trở về sau chiến tranh, cũng là cách tri ân với đời, với người./.

 Hà Nội, tháng 7-2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm