TIN TỨC

Cuộc “vượt vũ môn” ngoạn mục

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-07 17:42:53
mail facebook google pos stwis
2514 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

Anh Võ Minh là cựu chiến binh, thương binh hạng nặng (mất 81 phần trăm sức khỏe, xếp loại ¼). Chàng thanh niên quê Nghi Thịnh, Nghi Lộc, Nghệ An (sinh 1952), khoác áo lính từ khi tuổi mười tám phơi phới thanh xuân (1970); trải qua bốn năm trận mạc ở chiến trường ác liệt miền Đông Nam Bộ (lính của Trung đoàn 271 Anh hùng, có lẽ vì thế mà tạo  Email/vominh271@gmail.com).

Bị thương trong chiến trận, ròng rã một năm (1974) điều trị vết thương nặng, năm 1975 mới trở về  sống với đời thường, với bút nghiên đèn sách. Từ 1975-1980, anh Võ Minh dùi mài kinh sử ở ngành Điện khí hóa, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội; ra trường công tác tại Cục Cơ khí, Bộ Giao thông vận tải. Chàng Kỹ sư điện trẻ tuổi mang trên mình thương tật nặng nề (đến nay vẫn còn 7 mảnh đạn trong đầu), nhưng yêu nghề, yêu đời và đặc biệt yêu văn chương. Cuộc sống của người lính giữa đời thường không thể nói là suôn sẻ, xuôi chiều mát mái, bằng anh bằng em. Những khi trái gió trở trời, vết thương cũ lại hành hạ. Những cơn đau từ đâu sầm sập kéo đến như những trận lốc xoáy cơ hồ kéo ném Võ Minh ra tận ngoài đảo xa giữa biển Đông hay quẳng lên trên những đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn. Sống được đã là khó huống hồ còn nặng nợ nghiệp văn chương chữ nghĩa. Nhưng phải sống để mà nhớ lấy và ghi lại cả quá khứ đau thương và anh hùng của một thế hệ. Thấm nhuần lời Bác Hồ dạy “Thương binh tàn mà không phế”, anh Võ Minh đã làm được điều phi thường với danh dự của Anh bộ đội Cụ Hồ. Năm 1984, kỹ sư điện Võ Minh là người đầu tiên ở Việt Nam đã thiết kế thành công hệ thống điện cho loại cần cẩu 3 tấn trên tàu biển, cần cẩu tháp trong xây dựng.


Nhà văn Võ Minh

Nhưng có thể nói, tấm gương lao động chân chính, tích cực và hiệu quả nhất của cựu chiến binh, thương binh nặng Võ Minh lại ở lĩnh vực sáng tác văn học, không phải là tay ngang, cũng không phải chỉ là cuộc chơi chữ nghĩa “vô tăm tích” như ai đó thiển cận phát ngôn. Ở lĩnh vực “văn” anh cũng nghiêm túc và nhiệt huyết như trong lĩnh vực “điện”, nghĩa là cũng năng nổ tìm tòi và phát huy sáng kiến. Năm 2007, anh trình làng tập hồi ký “Có một thời như thế” (NXB Thanh niên, tái bản lần thứ 7, năm 2022). Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha nhận xét về văn chương của đồng đội mình: “Võ Minh lại góp phần giúp ta lật lại điềm tĩnh cuốn lịch chiến tranh mà ở đó mỗi ngày đều gầm rú đạn bom, đều thấm đẫm máu người lính trận. (...). Trong suốt hơn 200 trang hồi ký được dựng lại theo thể nhật ký, gần như không có trang nào không thấy rớm máu, không có trang nào không thấy thủng lỗ chỗ vết đạn bom”. Hồi ký “Có một thời như thế” được tái bản tại NXB Chính trị quốc gia Sự thật, số lượng 25.000 cuốn (Sách cấp phát cho quận, phường, xã và thư viện trong cả nước); sách được đưa vào Tủ sách Tiếp lửa truyền thống - Mãi mãi tuổi 20. Người đồng hương xứ Nghệ, dịch giả Hoàng Xuân Thường (Phó Trưởng khoa Điện tử, Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Vinh, Nghệ An) chuyển ngữ tập hồi ký “Có một thời như thế” sang tiếng Ba Lan, sẽ ra mắt độc giả tại quê hương nhạc sỹ thiên tài thế giới Chopin (Sô Panh) một ngày không xa. Vì thủy chung với văn chương, anh quyết tâm dấn thân, khi in tập truyện ngắn “Nghị quyết cây khế” (NXB Hội Nhà văn, 2014). Trong tác phẩm thứ hai, Võ Minh chủ yếu viết về cuộc sống đời thường với nhiều cảnh ngộ, số phận, bằng giọng văn hài hước có vẻ nhẹ nhàng nhưng hàm ẩn sâu sắc tinh thần phê phán nhân văn thói vô cảm (nhà văn Nguyễn Minh Châu gọi là “thói máu cá”) của con người trước đồng loại. Sách được lưu hành trong Hệ thống thư viện tưởng niệm NICHOLSON, HOA KỲ. Tên tuổi Võ Minh trên văn đàn càng định vị khi ra mắt tác phẩm thứ ba “Lốc xoáy” (tiểu thuyết, NXB Phụ nữ Việt Nam, 2022). Bốn năm trăn trở, tu chỉnh (có khi tưởng như phải dỡ ra viết lại), bằng ấy năm nữa tìm lối ra cho đứa con tinh thần khiến Võ Minh cũng không ít hao tâm tổn sức. Không phải không có lúc nản chí. Nhưng tinh thần của người lính đã giúp anh nghị lực, lòng tin, niềm lạc quan. Phía trước là bình minh.

Nếu “Lốc xoáy” chỉ xoáy vào biến cố Cải cách ruộng đất thì tác giả sẽ khó vượt được những người đi trước. Nhưng cơn lốc xoáy Cải cách ruộng đất chỉ là một trong nhiều cơn lốc xoáy - những cuồng phong lịch sử  - khác đã diễn ra trên đất nước ta thời hiện đại. Viết về một thời kỳ lịch sử đầy phong ba bão táp, thông qua con người, là cách nhà văn khác nhà lịch sử chỉ quan tâm và tôn trọng sự kiện. Tác giả đã thực sự “khôn ngoan” chuẩn bị “sân chơi” cho các nhân vật xuyên suốt tác phẩm dài hơi, trong khoảng thời gian bốn thập kỷ. Vì thế “ Lốc xoáy” được nối mở bằng ba phần (I, II, III): Trời long đất lở - Ma quỷ cõi người - Luật đời nhân quả. Phần I, là câu chuyện đấu tố, oan khuất, đập phá chùa chiền, bài trừ văn hóa phong kiến, cho đến ra đời hình thức hợp tác hóa nông nghiệp đều là cuộc bể dâu, dưới ngòi bút của tác giả, hiện lên trần trụi, gai góc qua từng con chữ. Cảm hứng hiện thực phê phán trên tinh thần nhân văn thấm đậm ngòi bút. Cơn lốc xoáy thứ hai là chiến tranh với những cảnh tàn phá, chết chóc nơi hậu phương và những hành động xả thân nơi chiến trường của những người lính quả cảm. Người ta sinh ra vốn không phải là lính. Nhưng những ký ức về chiến trận thường sâu lắng nhất và cũng da diết, bền lâu nhất, lương thiện nhất. Trong “Lốc xoáy” các trang viết về chiến tranh, theo cách viết “có đầu có đuôi”, vẫn đứng được vì nó liền mạch, cố kết, hòa mạng được với phần I và III. Cơn lốc xoáy thứ ba không có tiếng rít của đạn bom song không kém phần khốc liệt vì thị trường cũng có khi đổ máu như chiến trường, cũng nhiều thân bại danh liệt, cũng nhiều lao lý, cũng bể dâu ngút trời, cũng khủng hoảng vỡ trận. Không gian và thời gian sinh tồn của nó có đặc điểm “cộng sinh - chúng sinh - hiện sinh”. Cộng sinh (chung sống) là cái nền tảng cho chúng sinh (toàn dân) và hiện sinh (hiện hữu) mọc lên như một thân cây có gốc rễ tươi tốt. Các nhân vật đều được tô đậm tính chất “đa nhân cách”, “phi truyền thống” (không chia thành chiến tuyến xấu tốt, chính nghĩa - phi nghĩa theo thi pháp văn học dân gian và văn học truyền thống). Nhân vật được đặt trong một hoàn cảnh điển hình, họ đều không có khả năng tự/ được khai phóng. Nói như nhà văn Nga hiện đại tài danh I. Bondarev, tác giả tiểu thuyết “Tuyết nóng” đã được dịch ra tiếng Việt thì: “Một sự thật không thể chối cãi và đau đớn khi tất cả chúng ta đều là tù binh của hoàn cảnh”. Những “hiệu ứng domino” và “ma trận” (matrix), tôi nghĩ, chính là kỹ thuật/bí kíp viết riêng của tác giả được vận dụng thành công trong tiểu thuyết đầu tay “Lốc xoáy”, đã để lại nhiều dư âm.

 Sáng 27/7/2023, tại thị xã Cửa Lò, Nghệ An diễn ra sự kiện văn học đặc biệt “Tọa đàm về tác phẩm của nhà văn Võ Minh” do Tạp chí Sông Lam (Hội LHVHNT Nghệ An), Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam và Chi hội VHNT Thị xã Cửa Lò đồng tổ chức. Kỷ yếu tọa đàm đã tập hợp 13 bài viết của đồng nghiệp, bạn hữu nhà văn Võ Minh trong và ngoài tỉnh (Vũ Ngọc Tiến, Chu Lai, Bùi Việt Thắng, Nguyễn Thụy Kha, Đinh Trí Dũng, Nguyễn Văn Hùng, Hoàn Nguyễn, Phạm Thùy Vinh, Hà Vinh Tâm...). Riêng về “Lốc xoáy” đã có 7 bài viết (có 4 bài đăng báo Văn nghệ, Thời báo VHNT, Nghệ An Cuối tuần và tạp chí Sông Lam). Phần “tọa đàm” rất sôi nổi, chân tình qua ý kiến phát biểu của đồng đội, bạn hữu và các nhà văn tham dự sự kiện (Lê Phương Liên, Nguyên An, Mai Nam Thắng). Trong ý kiến phát biểu của mình, nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhấn mạnh đến công lao của Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là Giám đốc - Tổng biên tập Khúc Thị Hoa Phượng, đã đồng hành, đồng tâm, hiệp lực làm “bà đỡ mát tay” cho “đứa con tinh thần” của nhà văn Võ Minh ra đời - tiểu thuyết “Lốc xoáy”. Ông chia sẻ: “Người ta nói đằng sau một người đàn ông thành đạt có một người phụ nữ. Nhưng với sự ra đời của “Lốc xoáy”, có thể nói, đằng sau nhà văn Võ Minh có hai người phụ nữ - người vợ đảm lược và Giám đốc Khúc Thị Hoa Phượng tràn trề tinh thần đổi mới và sáng tạo”.


Các tập sách của nhà văn Võ Minh.

Năm 2020, cựu chiến binh - thương binh nặng anh Võ Minh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là vinh dự đồng thời là trách nhiệm cao của người cầm bút phụng sự lý tưởng “chân - thiện - mỹ”. Rõ ràng quỹ thời gian của nhà văn Võ Minh không còn dư dả, nên anh đang nỗ lực hết sức mình để vượt khó trong đời sống và trong lao động nghề văn. Nhà văn Võ Minh vẫn còn nung nấu ý tưởng viết tiếp như là cách trả món nợ tinh thần với đồng đội đã không trở về sau chiến tranh, cũng là cách tri ân với đời, với người./.

 Hà Nội, tháng 7-2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm