TIN TỨC

Cuộc “vượt vũ môn” ngoạn mục

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-07 17:42:53
mail facebook google pos stwis
2733 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

Anh Võ Minh là cựu chiến binh, thương binh hạng nặng (mất 81 phần trăm sức khỏe, xếp loại ¼). Chàng thanh niên quê Nghi Thịnh, Nghi Lộc, Nghệ An (sinh 1952), khoác áo lính từ khi tuổi mười tám phơi phới thanh xuân (1970); trải qua bốn năm trận mạc ở chiến trường ác liệt miền Đông Nam Bộ (lính của Trung đoàn 271 Anh hùng, có lẽ vì thế mà tạo  Email/vominh271@gmail.com).

Bị thương trong chiến trận, ròng rã một năm (1974) điều trị vết thương nặng, năm 1975 mới trở về  sống với đời thường, với bút nghiên đèn sách. Từ 1975-1980, anh Võ Minh dùi mài kinh sử ở ngành Điện khí hóa, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội; ra trường công tác tại Cục Cơ khí, Bộ Giao thông vận tải. Chàng Kỹ sư điện trẻ tuổi mang trên mình thương tật nặng nề (đến nay vẫn còn 7 mảnh đạn trong đầu), nhưng yêu nghề, yêu đời và đặc biệt yêu văn chương. Cuộc sống của người lính giữa đời thường không thể nói là suôn sẻ, xuôi chiều mát mái, bằng anh bằng em. Những khi trái gió trở trời, vết thương cũ lại hành hạ. Những cơn đau từ đâu sầm sập kéo đến như những trận lốc xoáy cơ hồ kéo ném Võ Minh ra tận ngoài đảo xa giữa biển Đông hay quẳng lên trên những đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn. Sống được đã là khó huống hồ còn nặng nợ nghiệp văn chương chữ nghĩa. Nhưng phải sống để mà nhớ lấy và ghi lại cả quá khứ đau thương và anh hùng của một thế hệ. Thấm nhuần lời Bác Hồ dạy “Thương binh tàn mà không phế”, anh Võ Minh đã làm được điều phi thường với danh dự của Anh bộ đội Cụ Hồ. Năm 1984, kỹ sư điện Võ Minh là người đầu tiên ở Việt Nam đã thiết kế thành công hệ thống điện cho loại cần cẩu 3 tấn trên tàu biển, cần cẩu tháp trong xây dựng.


Nhà văn Võ Minh

Nhưng có thể nói, tấm gương lao động chân chính, tích cực và hiệu quả nhất của cựu chiến binh, thương binh nặng Võ Minh lại ở lĩnh vực sáng tác văn học, không phải là tay ngang, cũng không phải chỉ là cuộc chơi chữ nghĩa “vô tăm tích” như ai đó thiển cận phát ngôn. Ở lĩnh vực “văn” anh cũng nghiêm túc và nhiệt huyết như trong lĩnh vực “điện”, nghĩa là cũng năng nổ tìm tòi và phát huy sáng kiến. Năm 2007, anh trình làng tập hồi ký “Có một thời như thế” (NXB Thanh niên, tái bản lần thứ 7, năm 2022). Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha nhận xét về văn chương của đồng đội mình: “Võ Minh lại góp phần giúp ta lật lại điềm tĩnh cuốn lịch chiến tranh mà ở đó mỗi ngày đều gầm rú đạn bom, đều thấm đẫm máu người lính trận. (...). Trong suốt hơn 200 trang hồi ký được dựng lại theo thể nhật ký, gần như không có trang nào không thấy rớm máu, không có trang nào không thấy thủng lỗ chỗ vết đạn bom”. Hồi ký “Có một thời như thế” được tái bản tại NXB Chính trị quốc gia Sự thật, số lượng 25.000 cuốn (Sách cấp phát cho quận, phường, xã và thư viện trong cả nước); sách được đưa vào Tủ sách Tiếp lửa truyền thống - Mãi mãi tuổi 20. Người đồng hương xứ Nghệ, dịch giả Hoàng Xuân Thường (Phó Trưởng khoa Điện tử, Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Vinh, Nghệ An) chuyển ngữ tập hồi ký “Có một thời như thế” sang tiếng Ba Lan, sẽ ra mắt độc giả tại quê hương nhạc sỹ thiên tài thế giới Chopin (Sô Panh) một ngày không xa. Vì thủy chung với văn chương, anh quyết tâm dấn thân, khi in tập truyện ngắn “Nghị quyết cây khế” (NXB Hội Nhà văn, 2014). Trong tác phẩm thứ hai, Võ Minh chủ yếu viết về cuộc sống đời thường với nhiều cảnh ngộ, số phận, bằng giọng văn hài hước có vẻ nhẹ nhàng nhưng hàm ẩn sâu sắc tinh thần phê phán nhân văn thói vô cảm (nhà văn Nguyễn Minh Châu gọi là “thói máu cá”) của con người trước đồng loại. Sách được lưu hành trong Hệ thống thư viện tưởng niệm NICHOLSON, HOA KỲ. Tên tuổi Võ Minh trên văn đàn càng định vị khi ra mắt tác phẩm thứ ba “Lốc xoáy” (tiểu thuyết, NXB Phụ nữ Việt Nam, 2022). Bốn năm trăn trở, tu chỉnh (có khi tưởng như phải dỡ ra viết lại), bằng ấy năm nữa tìm lối ra cho đứa con tinh thần khiến Võ Minh cũng không ít hao tâm tổn sức. Không phải không có lúc nản chí. Nhưng tinh thần của người lính đã giúp anh nghị lực, lòng tin, niềm lạc quan. Phía trước là bình minh.

Nếu “Lốc xoáy” chỉ xoáy vào biến cố Cải cách ruộng đất thì tác giả sẽ khó vượt được những người đi trước. Nhưng cơn lốc xoáy Cải cách ruộng đất chỉ là một trong nhiều cơn lốc xoáy - những cuồng phong lịch sử  - khác đã diễn ra trên đất nước ta thời hiện đại. Viết về một thời kỳ lịch sử đầy phong ba bão táp, thông qua con người, là cách nhà văn khác nhà lịch sử chỉ quan tâm và tôn trọng sự kiện. Tác giả đã thực sự “khôn ngoan” chuẩn bị “sân chơi” cho các nhân vật xuyên suốt tác phẩm dài hơi, trong khoảng thời gian bốn thập kỷ. Vì thế “ Lốc xoáy” được nối mở bằng ba phần (I, II, III): Trời long đất lở - Ma quỷ cõi người - Luật đời nhân quả. Phần I, là câu chuyện đấu tố, oan khuất, đập phá chùa chiền, bài trừ văn hóa phong kiến, cho đến ra đời hình thức hợp tác hóa nông nghiệp đều là cuộc bể dâu, dưới ngòi bút của tác giả, hiện lên trần trụi, gai góc qua từng con chữ. Cảm hứng hiện thực phê phán trên tinh thần nhân văn thấm đậm ngòi bút. Cơn lốc xoáy thứ hai là chiến tranh với những cảnh tàn phá, chết chóc nơi hậu phương và những hành động xả thân nơi chiến trường của những người lính quả cảm. Người ta sinh ra vốn không phải là lính. Nhưng những ký ức về chiến trận thường sâu lắng nhất và cũng da diết, bền lâu nhất, lương thiện nhất. Trong “Lốc xoáy” các trang viết về chiến tranh, theo cách viết “có đầu có đuôi”, vẫn đứng được vì nó liền mạch, cố kết, hòa mạng được với phần I và III. Cơn lốc xoáy thứ ba không có tiếng rít của đạn bom song không kém phần khốc liệt vì thị trường cũng có khi đổ máu như chiến trường, cũng nhiều thân bại danh liệt, cũng nhiều lao lý, cũng bể dâu ngút trời, cũng khủng hoảng vỡ trận. Không gian và thời gian sinh tồn của nó có đặc điểm “cộng sinh - chúng sinh - hiện sinh”. Cộng sinh (chung sống) là cái nền tảng cho chúng sinh (toàn dân) và hiện sinh (hiện hữu) mọc lên như một thân cây có gốc rễ tươi tốt. Các nhân vật đều được tô đậm tính chất “đa nhân cách”, “phi truyền thống” (không chia thành chiến tuyến xấu tốt, chính nghĩa - phi nghĩa theo thi pháp văn học dân gian và văn học truyền thống). Nhân vật được đặt trong một hoàn cảnh điển hình, họ đều không có khả năng tự/ được khai phóng. Nói như nhà văn Nga hiện đại tài danh I. Bondarev, tác giả tiểu thuyết “Tuyết nóng” đã được dịch ra tiếng Việt thì: “Một sự thật không thể chối cãi và đau đớn khi tất cả chúng ta đều là tù binh của hoàn cảnh”. Những “hiệu ứng domino” và “ma trận” (matrix), tôi nghĩ, chính là kỹ thuật/bí kíp viết riêng của tác giả được vận dụng thành công trong tiểu thuyết đầu tay “Lốc xoáy”, đã để lại nhiều dư âm.

 Sáng 27/7/2023, tại thị xã Cửa Lò, Nghệ An diễn ra sự kiện văn học đặc biệt “Tọa đàm về tác phẩm của nhà văn Võ Minh” do Tạp chí Sông Lam (Hội LHVHNT Nghệ An), Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam và Chi hội VHNT Thị xã Cửa Lò đồng tổ chức. Kỷ yếu tọa đàm đã tập hợp 13 bài viết của đồng nghiệp, bạn hữu nhà văn Võ Minh trong và ngoài tỉnh (Vũ Ngọc Tiến, Chu Lai, Bùi Việt Thắng, Nguyễn Thụy Kha, Đinh Trí Dũng, Nguyễn Văn Hùng, Hoàn Nguyễn, Phạm Thùy Vinh, Hà Vinh Tâm...). Riêng về “Lốc xoáy” đã có 7 bài viết (có 4 bài đăng báo Văn nghệ, Thời báo VHNT, Nghệ An Cuối tuần và tạp chí Sông Lam). Phần “tọa đàm” rất sôi nổi, chân tình qua ý kiến phát biểu của đồng đội, bạn hữu và các nhà văn tham dự sự kiện (Lê Phương Liên, Nguyên An, Mai Nam Thắng). Trong ý kiến phát biểu của mình, nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhấn mạnh đến công lao của Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là Giám đốc - Tổng biên tập Khúc Thị Hoa Phượng, đã đồng hành, đồng tâm, hiệp lực làm “bà đỡ mát tay” cho “đứa con tinh thần” của nhà văn Võ Minh ra đời - tiểu thuyết “Lốc xoáy”. Ông chia sẻ: “Người ta nói đằng sau một người đàn ông thành đạt có một người phụ nữ. Nhưng với sự ra đời của “Lốc xoáy”, có thể nói, đằng sau nhà văn Võ Minh có hai người phụ nữ - người vợ đảm lược và Giám đốc Khúc Thị Hoa Phượng tràn trề tinh thần đổi mới và sáng tạo”.


Các tập sách của nhà văn Võ Minh.

Năm 2020, cựu chiến binh - thương binh nặng anh Võ Minh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là vinh dự đồng thời là trách nhiệm cao của người cầm bút phụng sự lý tưởng “chân - thiện - mỹ”. Rõ ràng quỹ thời gian của nhà văn Võ Minh không còn dư dả, nên anh đang nỗ lực hết sức mình để vượt khó trong đời sống và trong lao động nghề văn. Nhà văn Võ Minh vẫn còn nung nấu ý tưởng viết tiếp như là cách trả món nợ tinh thần với đồng đội đã không trở về sau chiến tranh, cũng là cách tri ân với đời, với người./.

 Hà Nội, tháng 7-2023

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm