TIN TỨC

Đa mang anh: Những trăn trở về tình yêu và hạnh phúc qua thơ phái nữ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-15 08:30:59
mail facebook google pos stwis
3382 lượt xem

NGUYỄN THỊ THU THỦY

“Đa mang anh” là tập thơ khá xinh xắn của năm tác giả nữ đến từ những vùng đất khác nhau: Thủy Hướng Dương, Minh Đan, Trần Mai Hường, Võ Thi Nhung và Thy Nguyên.

Tập thơ đã mạnh dạn khẳng định chất nữ tính, những khao khát bạo liệt rất đàn bà. Những khát khao ấy vốn bị kiềm tỏa bởi cái nhìn đầy định kiến, nếp nghĩ đầy thiển cận còn rơi rớt lại của một bộ phận người trong xã hội “trọng nam khinh nữ” ngày xưa. Đối diện với những quan niệm lạc hậu đó, người phụ nữ nói chung và người phụ nữ làm thơ nói riêng đã phải tranh đấu rất nhiều để vươn lên.

Hành trình kiếm tìm hạnh phúc của họ thật nhọc nhằn. Bằng lối đi riêng, năm nữ sĩ đã chân thành bộc bạch tâm sự về tình yêu, về thân phận phái nữ giữa cuộc đời. Mỗi chị đã dẫn người đọc đến với quan niệm hạnh phúc bằng nét tinh túy riêng của thơ mình.

Minh Đan - cô “Lọ lem đất Võ” đã suy ngẫm rất nhiều về hạnh phúc. Hạnh phúc với chị là sự thật, là những phút thật lòng với tình yêu, với người yêu: Hạnh phúc là nụ cười bình yên xẻ nửa - Có cho nhau một phút thật lòng (Đêm vỡ). Cách định nghĩa về hạnh phúc của chị giản dị đầy mùi vị Bình Định, giòn như bánh tráng dừa thơm mùi quê Nẫu. Võ Thi Nhung - người con gái miền Trung, bốn mùa nắng gió, hạnh phúc là sự đồng điệu, sẻ chia, cùng nhau nắm chặt tay đi hết chuyến tàu tình yêu: Anh hứa sẽ cùng em đi hết - Cuối con đường dẫu nắng phai phôi - Sao chẳng nắm bàn tay cho chặt - Để âm thầm em hứng mưa rơi (Không đề). Còn ở Thy Nguyên - người phụ nữ đất cảng Hải Phòng: Hạnh phúc là gì sao nổi giữa mong manh? (Đêm đợi sáng). Đọc những dòng thơ Thy Nguyên, ta lại gặp những trăn trở của Xuân Quỳnh thuở nào: Lời yêu mỏng mảnh như màu khói- Ai biết tình anh có đổi thay? (Hoa cỏ may). Hai người phụ nữ, hai thời đại, hai thế hệ nhưng cùng chung một niềm trở trăn về hạnh phúc. Thủy Hướng Dương suốt quãng đường làm bạn với thơ, chị mãi truy tìm câu trả lời về hạnh phúc đến mệt nhoài: Ta miệt mài tìm kiếm giữa bể dâu - Một chút nắng vương - Một làn gió nhẹ - Một ánh mắt hiền chia sẻ lúc ta đau (Trò chuyện với con đường)

Khác với những niềm riêng không dám tỏ bày của người phụ nữ xưa, thơ hiện đại của phái nữ đã bộc bạch những bứt phá ngoạn mục, sẵn sàng dấn thân, nhập cuộc cả với nỗi đau của người phụ nữ hôm nay. Với Trần Mai Hường - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, đêm là khoảng thời gian chị suy tư nhiều nhất về tình yêu. Không phải ngẫu nhiên, Hường đã đặt nhan đề gắn với đêm: Người đàn bà đội đêm, Giấc mơ em, Đối diện đêm, Nỗi nhớ mang tên đêm…Bởi đây là khoảng lặng để chị soi rọi mình sau những giờ phút tất bật với công việc và gia đình: Em sợ một mai- Thơ không đủ từ để đền cảm xúc - Mình không đủ nhau đành giả quên ký ức - Sóng không đủ hờn mắc cạn giữa trăm năm…(Đối diện đêm). Người phụ nữ trong thơ Thủy Hướng Dương vô tư khám phá và trò chuyện với những con đường. Cuộc trò chuyện của chị đầy những men đau rập rình nhưng với đôi chân rướm máu, chị vẫn cứ đi: Ta vẫn vô tư khám phá những con đường - ở đó có người đàn ông chạy theo những bóng hồng - Có men rượu, men tình - Có cả men đau rập rình nơi xa lắm. Một Minh Đan luôn quyết liệt và tự tin trước những dèm pha của người đời: kiêu hãnh mặc đời ghẹo trêu xấu hổ - hôm nay em ngước lên cao (Thị Nở vùng lên). Võ Thi Nhung đã hành trình về hội Lim để cùng say câu hát mời trầu, và chị đã khẳng định bằng thơ: Đã say câu hát mời trầu - Dẫu cho gãy nhịp sông Cầu vẫn sang (Về Lim). Hơi thơ chị phảng phất chút ngang tàng thách thức của nữ sĩ họ Hồ năm xưa. Thy Nguyên cũng vậy, trên con đường kiếm tìm hạnh phúc cho mình và cho thơ, không ít lần chị trở trăn: Cánh đồng chữ cuộc đời run rẩy vấp đêm - Cho con tập yêu thêm một niềm hạnh phúc - Thèm chắt chiu thêm mùa giáp hạt - Thèm được gột mình bằng trăm mảnh phận mưa (Người đàn bà và cánh đồng chữ).

Đến với Đa mang anh, ta như đắm chìm vào những cháy bỏng đam mê, khát khao được giải phóng bản ngã để sống thực với chính mình, không giả dối, che đậy. Các chị đã khẳng định được sức mạnh vô cùng vô tận của tình yêu phái nữ.

Đọc những câu thơ bộc bạch nỗi khát thèm tình yêu của Thủy Hướng Dương, bất giác ta đỏ mặt: Giấu cơn thèm tình trong túi - chẳng dám tiêu tốn đồng nào…Tình đàn bà giãy quá- túm chặt rồi mà cảm xúc cứ nhào ra (Giấu) Hay: Tôi mở cúc áo - Giấu nỗi mong anh vào ngực - Thở dài (Sonate đợi anh). Chất võ hòa trong chất thơ đã tạo nên một Minh Đan mãnh liệt và bạo dạn. Nếu ở tập thơ Phút 89 cô đã từng có những khát khao không thể đặt vòng với: Giữa mùa trăng, em muốn cúc áo này nới lỏng - ngọn gió lùa vào thơm mát thịt da (Em muốn) thì ở Đa mang anh, Minh Đan đã nhắc gió đừng ghen với những thao thiết ngông cuồng: Ngang dọc - thậm thụt váy - hớ hênh - gió vô tình – lùa - đỏ mặt (Ghen). Yêu không chỉ là ghen mà còn day dứt nhớ và còn có cả những phút xao lòng. Với Trần Mai Hường, biết có gì trỗi dậy từ những lúc gặp gỡ tình cờ, chị đã phải gồng mình để kìm nén nỗi nhớ nhức căng em, thậm chí phải trầm mình hóa giải những đam mê. Khác với nét dữ dằn, bạo liệt của các chị kia, Võ Thi Nhung ít nhiều còn chút nhút nhát, ít dám thể hiện mình của người miền Trung. Nhưng Nhung vẫn tự nhận mình là kiếp đa mang, vì đa mang nên phải nợ nần, những nợ nần không thể trả bằng vật chất: Thu riêng mấy độ lá vàng- Em từ muôn kiếp đeo mang nợ nần (Bến chiều). Ở Thy Nguyên, thơ chị có vẻ khó hiểu như Tạ Trăn (đời Minh) có nói: Thi khả giải, bất khả giải, bất tất giải. Đọc những thi phẩm có nhan đề: Ước lệ, Giả thiết, Người đàn bà và cánh đồng chữ…phần nào, ta được tiếp xúc với những nét lạ, bất thường đó. Những trở trăn về tình yêu của chị không ngông cuồng như Minh Đan, không dạn dĩ như Hướng Dương, Mai Hường, cũng không “nai” như Thi Nhung mà rất riêng: Em biển động mà thị phi kín mít- Khép lại mọi nhắm mắt mà mảnh ghép thừa ra (Ước lệ).

Để có thể bộc lộ những suy ngẫm của mình về tình yêu, về hạnh phúc, các nhà thơ phải nhọc nhằn cày xới trên cánh đồng chữ, để cho đời những đứa con tinh thần hoàn hảo bởi mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và khám phá về nội dung. Có thể nói, mỗi nhà thơ nữ có một phong cách riêng, một dụng công riêng trong khám phá nghệ thuật để hòa vào dòng chảy chung của thơ ca dân tộc thời đổi mới.

Một cây bút đầy sáng tạo của Đa mang anh là Minh Đan. Thơ chị độc đáo trong nhịp điệu, tinh tế trong dùng từ, mới lạ trong cấu tứ: Uống sao cho hết-những chiều- tròn tròn khuyết khuyết- liêu xiêu trăng gầy (Phơi). Thơ chị vừa thấp thoáng những đường quyền của võ Bình Định vừa mang hơi hướng của điệu hát chầu văn xứ Bắc. Thơ lục bát qua tay chị được biến ảo thành những đường gươm ngọt lịm đắm say lòng người. Bên cạnh cách ngắt nhịp linh hoạt, thơ Minh Đan quyến rũ bởi cách dùng từ khi mạnh bạo lúc nhẹ nhàng, khi quyết liệt, lúc mềm mại và đầy nữ tính. Đọc những câu thơ sau của chị, ta sẽ cảm nhận rõ những cảm xúc trái chiều đó: Đã quên-quên tụt huyết say/ đã say- say tụt những cay đắng vờ (Phơi)… Ơ kìa! Tháng ngày lật đật/ neo vào hi vọng rồi tan/ hai đầu nắng mưa được mất/ tình nhân cơn bão vừa ngang (Xin).

Còn ở Thủy Hướng Dương, Trần Mai Hường, Võ Thi Nhung lục bát cũng là một thể thơ rất quen nhưng mà lạ. Quen bởi đây là thể thơ truyền thống của dân tộc nhưng lạ bởi các chị đã khoác áo mới cho nó bằng nhịp gãy: Từ người- ân ái sang trang/ Em - bao kiêu hãnh bỗng bàng hoàng. Rơi (Từ phút ấy - Trần Mai Hường); Ráng chiều buông sẫm mé ngày - Rưng rưng-khỏa-một vốc đầy - hoàng hôn (Lối cỏ may - Thi Nhung). Thơ các chị thật giàu hình ảnh bắt nguồn từ những liên tưởng, tưởng tượng nhưng chân thực đến không ngờ. Ca dao ngày xưa đã viết về những thao thức vì nhớ: Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt - Mắt thương nhớ ai, mắt ngủ không yên thì Thủy Hướng Dương từ sự liên tưởng về sự rụng rơi của bông cúc héo mà nghĩ suy về giọt lệ nhớ thương: Em thương những bông cúc héo - Rơi rơi từng cánh tình cờ - Mắt thu ứa từng giọt lệ - Nhớ anh đọng giữa ngu ngơ (Những bông cúc héo).

Còn ở Thy Nguyên, trong tập thơ này chị ít dùng lục bát biến thể mà đến với thơ tự do. Thơ chị còn tự do trong cảm xúc, với sự xuất hiện đậm đặc của thủ pháp so sánh, nhân hóa: Kiếp nhân gian như lời biển - Một chiều thả rớt lời câm (Lời ru). Thu buông mành cỏ dại - thanh âm guitare bắc thang nối vai gầy - Chiều như là dọc ngang - Thu như người khách trọ (Mùa thu và thiếu phụ); Sự im lặng như găm vào phố - Như thả vào mưa - Như đánh rơi vào tiếng nện giày típ tắp - Như bát đũa, như chốt cửa, như chúng mình giận nhau (Ước lệ)…

Đọc bốn mươi lăm bài thơ của Đa mang anh, chúng ta hòa cùng những thổn thức, suy ngẫm, những khát khao không có điểm dừng của năm trái tim phái nữ. Ta luôn tôn trọng và cảm thông với những khao khát của họ bởi đó là tiếng nói đấu tranh vì bình đẳng giới. Thơ các chị mãi mãi là tiếng lòng của hàng triệu phụ nữ mong muốn được sống trọn vẹn và hết mình cho tình yêu và hạnh phúc.

Đà Nẵng, 8/2015

(Theo Tạp chí Non Nước)

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm