TIN TỨC

Đặc trưng giọng điệu nghệ thuật trong truyện ngắn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-07-26 12:12:07
mail facebook google pos stwis
2497 lượt xem

Bậc thầy truyện ngắn Nga A.P.Chekhov (1860 - 1904) từng cho rằng: “Muốn đánh giá một nhà văn, hãy xem giọng điệu văn chương của anh ta”. Như vậy, giọng điệu văn chương (hay giọng điệu nghệ thuật) là một yếu tố rất quan trọng trong tác phẩm, nhất là trong truyện ngắn, vì những đặc điểm riêng biệt của nó.

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

Điều đầu tiên phải khẳng định là trong truyện ngắn không phải thuần túy chỉ một giọng. Truyện ngắn là thể loại vừa có lời kể của nhân vật, lại có lời trần thuật của tác giả. Ngoài ra còn có giọng của “người thứ ba” trong một số truyện của nhiều tác giả. Những nhà văn có tài, trong tác phẩm của họ luôn có sự hòa quyện, tranh giao giữa các giọng điệu càng lớn. Mỗi giọng điệu là một “cái loa” cho một tư tưởng nhất định. Điều này làm cho truyện ngắn là thể loại “đa thanh, phức điệu” (nói theo lý thuyết của nhà văn M.M.Bakhtin, 1895-1975), là thể loại “chưa hoàn kết” về mặt nội dung tư tưởng. Ở đây, truyện ngắn có nét chung với tiểu thuyết nhưng đặc biệt khác với thơ trữ tình.

Ở truyện ngắn, có bao nhiêu nhân vật trong tác phẩm thì ít nhất cũng có bấy nhiêu giọng điệu. Có khi chỉ một nhân vật nhưng lại có nhiều cách nói khác nhau: lúc ôn hòa thân mật, lúc tha thiết đắm say; khi ân cần, lúc phẫn nộ; khi suồng sã, lúc trang nghiêm… Nhân vật ở trong kịch cũng có đặc điểm này. Nhưng phần lớn nhân vật trong kịch “đã sắm” vai đại diện cho một tư tưởng hoàn toàn thống nhất, trọn vẹn. Trong trào lưu văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX đến năm 1945, nhất là các tác giả Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao…, tư tưởng nhân vật thể hiện qua giọng điệu luôn được các tác giả bày ra cảnh “cheo leo trên dây xiếc”. Nhân vật có khi là tiếng nói của tác giả, nhưng lại có lúc sống độc lập, đối thoại lại với tác giả. Truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng, đặc biệt là Nam Cao, đậm đặc tính chất này. Thơ chủ yếu không có nhân vật. Nếu có thì nhân vật này xoay quanh cái trục của chủ thể trữ tình là tác giả. Khi nhân vật trong thơ phân thành những hệ thống cấp độ, tách ra khỏi chủ thể trữ tình, thì tính chất thơ ở đây chỉ nằm ở mặt hình thức biểu hiện. Không phải là không có lí mà Truyện Kiều của Nguyễn Du, truyện Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu được gọi là “truyện thơ” hoặc “tiểu thuyết bằng thơ”. Nghĩa là lúc đó tính chất tự sự đã thâm nhập vào bản chất thể loại trữ tình, nó phá vỡ cấu trúc vốn có. Tác nhân ấy là do mỗi nhân vật đều có giọng điệu riêng, tư tưởng, tiếng nói riêng.

Ở đây cũng cần phân biệt giọng điệu nhân vật trong truyện ngắn và trong tiểu thuyết. Nhân vật trong truyện ngắn thường không nhiều, có khi nhà văn giới thiệu bằng một giai đoạn cơ bản nhất trong cuộc đời của một nhân vật. Chính vì vậy mà cơ hội về giọng điệu với sự phức tạp trong nhân vật càng lớn. Khi không có điều kiện nhiều để bộc lộ giọng điệu của mình qua sự đối thoại với nhân vật khác, nhân vật truyện ngắn tự tìm vào sự đối thoại với mình nhiều hơn. Bản chất của mỗi con người vốn không phải lặng im, xuôi chiều. Nó luôn ẩn giấu những tranh giao tư tưởng, suy nghĩ. Khi ngoại cảnh khách quan đưa bản chất chủ thể ấy vào thế “gàng bẫy”, và “tình huống có vấn đề” thì sự giằng xé tương giao càng cao. Nó là cơ sở cho sự “đa giọng điệu” của mỗi nhân vật trong truyện ngắn. Nhà văn càng tạo ra nhiều thế “gàng bẫy” thì chân tài càng được khẳng định. Sự giải quyết của mỗi nhà văn qua những thế “gàng bẫy” cho thấy thế giới quan của mỗi nhà văn. Các nhà văn lãng mạn trong giai đoạn văn học 1930-1945 ở nước ta thường giải quyết theo “tinh thần” riêng của mình, trong lúc đó các tác giả hiện thực lại để cho tính chất khách quan quyết định và đưa đến kết quả giải quyết “vốn nó là vậy”. Vì thế mà hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chủ yếu là một giọng, còn các nhà văn hiện thực như Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Kim Lân, Nam Cao… tính chất đa giọng điệu rất rõ.

Điểm thứ ba cần nói ở đây là truyện ngắn chỉ chú ý đến một vài biến cố riêng biệt của cuộc sống con người, cho nên khả năng đi sâu vào nội tâm của nhân vật rất cao. Khi đó hành động, suy nghĩ, những lời thốt ra của nhân vật đều mang mang gánh nặng tư tưởng cả một quá trình trong hình tượng nhân vật đó. Tư tưởng bộc lộ một cách gay gắt trong những mấu chốt nhỏ của truyện. Trong tiểu thuyết, tư tưởng nhân vật phần lớn được xây dựng trên cơ sở khá thoáng hơn. Nó được rút ra từ một quá trình tương đối dài, nhất là qua sự tương quan giữa các nhân vật thông suốt cả câu truyện. Trong truyện ngắn, nhiều khi chỉ xét giọng điệu ở một câu văn, câu đối thoại nhỏ cũng có thể coi đó là tư tưởng của tác phẩm. Lê Tư Chỉ (trong cuốn Phân tích truyện ngắn) có lý khi cho rằng ở truyện ngắn ngôn ngữ nhân vật ít nhưng nó có khả năng tái hiện hết sức linh động về tâm lí, kinh nghiệm sống và tính cách nhân vật, tư tưởng tác phẩm.

Ngoài ra, cách kể, giọng kể của người kể chuyện trong truyện ngắn cũng có những nét riêng so với các thể loại khác. Trong kịch, chúng ta không mảy may tìm thấy giọng điệu của người kể. Các nhân vật đang nói với nhau bằng giọng nói của chính mình, riêng mình, đại diện cho một tư tưởng của tác giả. Trong thơ trữ tình, giọng của người kể lại càng không thể xuất hiện. M.M.Bakhtin cho rằng giữa nhà thơ và ngôn từ của anh ta không có một khoảng cách: “Tính đa nghĩa của biểu tượng thi ca đặt tiền đề cho sự thống nhất và đồng nhất của giọng nói trong mối quan hệ với chính nó, cho sự cô đơn toàn vẹn trong lời nói của nó”. Chính vì thế mà trong thơ trữ tình chủ yếu là một giọng, “khi một giọng khác lạ tham gia vào “trò chơi biểu tượng” ấy, lập tức bình diện thi ca bị phá vỡ và chuyển sang bình diện văn xuôi. Để chứng minh cho điều này, Đặng Anh Đào trích hai câu thơ của Hồ Chí Minh trong bài Trên đường phố so với một bài thơ thuần túy trữ tình là Ngắm trăng trong Nhật kí trong tù để thấy sự chuyển hóa trong mặt giọng điệu, dẫn đến bình diện thi ca bị phá vỡ.

Cuối cùng, tính chất ngắn gọn của thể loại truyện ngắn đã quy định giọng điệu phù hợp với nó. Sự phù hợp này xác định ở chủ thể sáng tác là nhà văn. Truyện ngắn chỉ dành cho một số nhà văn có “sở trường”. Làm sao để có thể dồn nén hết mức tính chất tiểu thuyết vào trong một truyện ngắn? Nhà văn phải tham gia một cách tích cực vào những “cuộc khởi nghĩa sôi động trong tư tưởng” về bất cứ vấn đề gì dù nhỏ nhặt của cuộc sống. Phải vận dụng mọi thủ pháp vốn có của đặc trưng thể loại ở mức độ cao nhất mới mong truyện ngắn của mình là một “tòa đại lầu” (nói như nhà văn Lỗ Tấn). Tất cả những điều đó đều định hình nên phong cách riêng, một giọng điệu riêng...

Trần Ngọc Tuấn

1997

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm