TIN TỨC

Đọc bài thơ “Hỏi sông” của nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-02-12 21:17:05
mail facebook google pos stwis
2681 lượt xem

TRẦN KIM DUNG

Mở tập thơ Sao Khuê 7 dầy dặn gần 300 trang với hơn 170 bài thơ, nhạc chọn lọc của 35 tác giả tôi đã bị cuốn hút từ đầu nhưng để viết một bài là một việc rất khó.

Vì vậy trong khuôn khổ thời gian có hạn, tôi xin phép được trình bày ít dòng suy nghĩ của tôi về một bài thơ của Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo là 1 trong 5 bài được chọn đăng trong tập này, đó là bài HỎI SÔNG.

Tôi được biết đến Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo và đọc thơ của anh đã khá lâu do một người thân giới thiệu nhưng chưa có dịp gặp mặt. Mãi đến khi về Sao Khuê tôi và Nguyễn Vĩnh Bảo mới gặp nhau và hai chị em đồng hương đã dành cho nhau những tình cảm rất quý mến.

Huyện Vĩnh Bảo quê hương anh là một vùng đất địa linh nhân kiệt, quê của quan Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm danh tiếng, một vùng đất hiếu học, là nơi có nhiều hoa thơm trái ngọt, là một trong những vùng trọng điểm lúa với những cánh đồng thẳng cánh cò bay, đặc biệt có những ruộng thuốc lào hương thơm cay nồng, ngan ngát.

Ở nơi quê hương yêu dấu ấy có một dòng sông hiền hòa chảy qua, quanh năm đem lại biết bao màu mỡ bồi đắp cho đồng ruộng. Đó là dòng Sông Chanh êm ả thân thương, đã để lại trong anh bao kỷ niệm ngọt ngào và  hình ảnh của những người yêu dấu:

Mẹ ngồi giặt chiếc áo nâu
mồ hôi mặn xuống một đầu con sông”

Và                                 

“Nước lên nước xuống sớm hôm
nhớ cha đặt đó đặt đơm bao mùa...”

(Trước sông quê)

Hình ảnh dòng sông yêu thương đó đã thấm sâu trong tình cảm của Nguyễn Vĩnh Bảo, cho nên dù đi bốn phương trời, anh  vẫn mang sông đi theo và hễ có dịp là anh lại về với sông quê:
“Con về nương tựa sông Chanh
Như nương tựa những ngọn ngành yêu thương”

(Con về nương tựa sông Chanh)

Sông trong thơ anh đã trở thành một đề tài cháy bỏng. Những bài thơ anh viết về sông khá nhiều. Tính đến nay anh cho ra đời được 6 tác phẩm thì 3 tác phẩm có tựa là “Sông” là  “Sóng”, đó là: Ngẫu hứng sông quê (2016), Thả vào đêm sóng (2020), Hai phía một đời sông (2021).

Tôi đã được đọc trong lời bình của Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh viết về thơ Nguyễn Vĩnh Bảo có đoạn rất ấn tượng: “Sông Chanh nhỏ bé trong thơ Nguyễn Vĩnh Bảo cũng đủ sức rung, sức ngân cho ta cảm tình thương mến. Nó không có tên trên bản đồ địa lý Việt Nam, nhưng giờ đây Nguyễn Vĩnh Bảo đã ghi tên sông Chanh trên “Bản đồ thi ca”…

Ôi, con sông quê đối với anh mới gần gũi và thân thương làm sao ! Sông đối với anh như người bạn tâm tình, chia sẻ niềm thương nỗi nhớ. Ta hãy đọc xem trong bài thơ này anh có gì trăn trở mà lại phải đem ra HỎI SÔNG vậy?

Vâng,  chắc anh muốn mượn hình ảnh ẩn dụ của dòng sông để nói về hình ảnh con người chăng?

Ta hãy lắng nghe hai câu đầu của bài thơ:
“Những dòng sông đánh mất mình trên biển
Có khi nao ngoảnh mặt giữa chừng”

Sông hòa vào biển lớn là quy luật muôn đời của tự nhiên thật mênh mang, thật đẹp đẽ.
Chả thế mà đã có một nhà thơ từng ao ước:
Ước gì ta được là sông
Để ra  đến biển là không còn mình ”

(Lâm Thị Mỹ Dạ)

Vì vậy, việc “đánh mất mình trên biển” chắc chắn không phải là chuyện của sông mà là chuyện của con người. Tác giả đã mượn hình ảnh dòng sông để chia sẻ về chuyện của con người.

Ở đây có lẽ tác giả muốn nhắc đến một số người xuất thân ban đầu từ cuộc sống chân chất, được gia đình quê hương nuôi dưỡng cho ăn học, hoặc có một điều kiện nào đó,họ được thả vào môi trường rộng lớn tại các thành phố lớn hoặc ra nước ngoài. Trong số đó có những người giầu có, thành đạt, có địa vị quyền chức cao sang, hoặc có cả những người điều kiện kinh tế địa vị rất bình thường, nhưng khi chuyển sang một môi trường mới thì có những người thay đổi hẳn bản chất. Đồng tiền có thể làm cho họ lóa mắt và họ bất chấp cả danh dự, làm mọi việc xấu xa, thậm chí phạm pháp, đánh mất cả nhân phẩm đạo đức để có nhiều tiền. Họ đã trở thành một con người khác hẳn không còn giữ được những điều tốt đẹp như trước kia nữa. Họ có thể làm những việc trái với đạo đức lương tâm, họ làm ngược lại những điều tốt đẹp mà trước đây họ từng có, mà nguồn cội tổ tiên đã từng truyền cho họ... Vậy là họ đã tự “đánh mất mình”. Nhìn thời thế như vậy, nhà thơ không vui đã đặt ra câu hỏi, chỉ mong cho họ thức tỉnh, bình tĩnh ngoảnh mặt lại để nhìn lại bước đi của mình, để nhớ đến cội nguồn quê hương, nơi  ngày xưa gian khổ họ được sinh ra và được nuôi nấng để họ thành đạt, họ trưởng thành như ngày nay và mong sao họ sẽ tỉnh ngộ phần nào. Có như thế xã hội sẽ tốt đẹp hơn,  nhân ái hơn, bớt đi những điều nhức nhối về đạo đức con người trong thời đại mới.

Tiếp theo là câu hỏi: 
“Có nhớ núi, nhớ rừng thương mến
Đã sinh thành nguồn nước đầu tiên?”

Đó là những hình ảnh thân thiết, gần gũi, đánh thức bao nhiêu tình cảm yêu thương của mỗi con người, lời nhắc nhở thật nhẹ nhàng mà sâu sắc.
Sang khổ thơ thứ hai, nhà thơ lại nhắc đến một dạng người khác.  Một câu hỏi về dòng sông lại được nêu ra :
“Những dòng sông chảy mãi không dừng
 Có khi nào lặng thầm như lau lách”

Đây có lẽ tác giả muốn nhắc tới một mẫu người cứ lao vào công việc, làm ăn phấn đấu, hoặc đi tìm hạnh phúc, mải mê đến mức không có điểm dừng, không xác định đến bao giờ mới mãn nguyện. Họ bỏ qua, coi thường những gì gần gũi, giản dị nhất ngay ở bên cạnh mình. Bờ sông với cây lau cây sậy như là người bạn gần gũi quấn quýt bên nhau muôn đời, làm nên những cảnh đẹp rung động lòng người mà sông chẳng một lần để tâm tới “Có bao giờ lặng thầm như lau lách”.
Sông mải mê đi tìm hạnh phúc  ở đâu đâu mà quên cả con đò, cây đa bến nước, cả cánh buồm nâu gắn bó muôn đời, cũng như con người đã bỏ qua tất cả những người, những vật cả đời thương yêu gắn bó với mình để đi tìm một hạnh phúc xa xôi thì làm sao hiểu được giá trị của hạnh phúc, làm sao có được có được hạnh phúc lâu bền và đích thực ?

Những hình ảnh sau đây rất gợi cảm:
Một con đò, một cánh buồm nâu quạch
Đã làm nên dáng vẻ một vùng quê?

Câu thơ đã vẽ ra trước mắt chúng ta một cảnh đẹp thân thương của miền quê yên ả mà trong mỗi người xa quê đều đau đáu mang theo, nhắc nhở những người chỉ biết mải mê với những điều cao siêu xa lạ mà quên đi những gì vốn là  gần gũi giản dị yêu thương nhất thật là đáng tiếc!

Sang khổ thơ tiếp theo tác giả lại muốn hỏi dòng sông khác, một dạng người khác
Những dòng sông dào dạt khúc say mê
Xào xạc cỏ cây, xôn xao cá nhảy…

Với những hình ảnh gợi cảm này, có lẽ tác giả muốn nói tới những người có cuộc sống vui vẻ, đủ đầy cả tinh thần và vật chất, mọi cái đều đã mãn nguyện, chẳng còn điều gì phải nói. Nhưng nếu bình tĩnh suy nghĩ lại cái đó chưa chắc đã là bền vững cả đời, đó có thể chỉ là trong một thời điểm nhất định, một giai đoạn nhất định chưa thể nói trước được trong cuộc đời, hoặc dài hơn nữa thì cũng chỉ là điều thoảng qua trong chốn phù vân “sắc sắc không không” mà thôi.

Câu thơ của tác giả mang đậm tính triết lý rất sâu sắc, gợi cho ta nhiều suy nghĩ về kiếp nhân sinh, nhắc nhở chúng ta có cách sống giản dị hơn, giầu tình yêu thương hơn.
Có khi nao bình tĩnh và tự thấy
Sự ồn ào chỉ như gió thoảng qua?

Và đến khổ thơ cuối gần như một câu hỏi tổng hợp cho cả bài:
“Những dòng sông chảy mãi đến bao la
Tới rộng lớn mới biết mình nhỏ bé”

Đây vừa là câu hỏi nhưng cũng vừa là câu trả lời để nhắc nhở con người  dù đã thành đạt, thành công rồi vẫn chưa là gì so với cuộc sống xung quanh, với những thành tựu lớn lao của xã hội,  phải biết khiêm tốn rèn luyện, học hành thêm nhiều lắm thì mới nên người, mới đóng góp và có ích cho xã hội cũng như gia đình, không nên sớm tự phụ, tự mãn về mình quá mức.

Hai câu thơ cuối cùng  là hai câu nhắc nhở con người về lòng biết ơn nguồn cội, lòng yêu thương cuộc sống và mọi người xung quanh để xây dựng cuộc sống tươi đẹp hơn nữa.
Có khi nao ngắm bờ quên, bờ nhớ
Lở và bồi năm tháng đã nuôi ta?


Đọc xong bài thơ ta có cảm giác như vừa được nghe lời tâm tình thủ thỉ của tác giả với dòng sông quê, bao nhiêu mắc mớ đã được giãi bày cùng dòng sông thân thương, chia sẻ  với sông thật nhẹ nhàng mà sâu sắc.
Bài thơ của Nguyễn Vĩnh Bảo chứa đựng ý nghĩa nhân sinh, bài học đạo đức sâu xa, mang tính triết lý cuộc sống.

Toàn bài tác giả đã dùng những câu hỏi tu từ, những từ ngữ và hình ảnh đẹp và gợi cảm, những câu hỏi đó lại chính là câu trả lời và cũng chính là bài học giúp cho người đọc những suy nghĩ  về những việc  cần thiết về cuộc đời, và cuộc sống hàng ngày!
Trên đây là đôi dòng suy nghĩ của cá nhân tôi, chắc rằng  khi đọc bài thơ này mỗi chúng ta sẽ có nhiều ý kiến khác hay hơn nữa.

Xin chúc mừng nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo với những thành công trong các bài thơ nói về sông quê và các đề tài khác, chúc anh sẽ tiếp tục có những thành công mới trong sự nghiệp thi ca của mình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm