TIN TỨC

Đọc bài thơ “Hỏi sông” của nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-02-12 21:17:05
mail facebook google pos stwis
2925 lượt xem

TRẦN KIM DUNG

Mở tập thơ Sao Khuê 7 dầy dặn gần 300 trang với hơn 170 bài thơ, nhạc chọn lọc của 35 tác giả tôi đã bị cuốn hút từ đầu nhưng để viết một bài là một việc rất khó.

Vì vậy trong khuôn khổ thời gian có hạn, tôi xin phép được trình bày ít dòng suy nghĩ của tôi về một bài thơ của Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo là 1 trong 5 bài được chọn đăng trong tập này, đó là bài HỎI SÔNG.

Tôi được biết đến Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo và đọc thơ của anh đã khá lâu do một người thân giới thiệu nhưng chưa có dịp gặp mặt. Mãi đến khi về Sao Khuê tôi và Nguyễn Vĩnh Bảo mới gặp nhau và hai chị em đồng hương đã dành cho nhau những tình cảm rất quý mến.

Huyện Vĩnh Bảo quê hương anh là một vùng đất địa linh nhân kiệt, quê của quan Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm danh tiếng, một vùng đất hiếu học, là nơi có nhiều hoa thơm trái ngọt, là một trong những vùng trọng điểm lúa với những cánh đồng thẳng cánh cò bay, đặc biệt có những ruộng thuốc lào hương thơm cay nồng, ngan ngát.

Ở nơi quê hương yêu dấu ấy có một dòng sông hiền hòa chảy qua, quanh năm đem lại biết bao màu mỡ bồi đắp cho đồng ruộng. Đó là dòng Sông Chanh êm ả thân thương, đã để lại trong anh bao kỷ niệm ngọt ngào và  hình ảnh của những người yêu dấu:

Mẹ ngồi giặt chiếc áo nâu
mồ hôi mặn xuống một đầu con sông”

Và                                 

“Nước lên nước xuống sớm hôm
nhớ cha đặt đó đặt đơm bao mùa...”

(Trước sông quê)

Hình ảnh dòng sông yêu thương đó đã thấm sâu trong tình cảm của Nguyễn Vĩnh Bảo, cho nên dù đi bốn phương trời, anh  vẫn mang sông đi theo và hễ có dịp là anh lại về với sông quê:
“Con về nương tựa sông Chanh
Như nương tựa những ngọn ngành yêu thương”

(Con về nương tựa sông Chanh)

Sông trong thơ anh đã trở thành một đề tài cháy bỏng. Những bài thơ anh viết về sông khá nhiều. Tính đến nay anh cho ra đời được 6 tác phẩm thì 3 tác phẩm có tựa là “Sông” là  “Sóng”, đó là: Ngẫu hứng sông quê (2016), Thả vào đêm sóng (2020), Hai phía một đời sông (2021).

Tôi đã được đọc trong lời bình của Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh viết về thơ Nguyễn Vĩnh Bảo có đoạn rất ấn tượng: “Sông Chanh nhỏ bé trong thơ Nguyễn Vĩnh Bảo cũng đủ sức rung, sức ngân cho ta cảm tình thương mến. Nó không có tên trên bản đồ địa lý Việt Nam, nhưng giờ đây Nguyễn Vĩnh Bảo đã ghi tên sông Chanh trên “Bản đồ thi ca”…

Ôi, con sông quê đối với anh mới gần gũi và thân thương làm sao ! Sông đối với anh như người bạn tâm tình, chia sẻ niềm thương nỗi nhớ. Ta hãy đọc xem trong bài thơ này anh có gì trăn trở mà lại phải đem ra HỎI SÔNG vậy?

Vâng,  chắc anh muốn mượn hình ảnh ẩn dụ của dòng sông để nói về hình ảnh con người chăng?

Ta hãy lắng nghe hai câu đầu của bài thơ:
“Những dòng sông đánh mất mình trên biển
Có khi nao ngoảnh mặt giữa chừng”

Sông hòa vào biển lớn là quy luật muôn đời của tự nhiên thật mênh mang, thật đẹp đẽ.
Chả thế mà đã có một nhà thơ từng ao ước:
Ước gì ta được là sông
Để ra  đến biển là không còn mình ”

(Lâm Thị Mỹ Dạ)

Vì vậy, việc “đánh mất mình trên biển” chắc chắn không phải là chuyện của sông mà là chuyện của con người. Tác giả đã mượn hình ảnh dòng sông để chia sẻ về chuyện của con người.

Ở đây có lẽ tác giả muốn nhắc đến một số người xuất thân ban đầu từ cuộc sống chân chất, được gia đình quê hương nuôi dưỡng cho ăn học, hoặc có một điều kiện nào đó,họ được thả vào môi trường rộng lớn tại các thành phố lớn hoặc ra nước ngoài. Trong số đó có những người giầu có, thành đạt, có địa vị quyền chức cao sang, hoặc có cả những người điều kiện kinh tế địa vị rất bình thường, nhưng khi chuyển sang một môi trường mới thì có những người thay đổi hẳn bản chất. Đồng tiền có thể làm cho họ lóa mắt và họ bất chấp cả danh dự, làm mọi việc xấu xa, thậm chí phạm pháp, đánh mất cả nhân phẩm đạo đức để có nhiều tiền. Họ đã trở thành một con người khác hẳn không còn giữ được những điều tốt đẹp như trước kia nữa. Họ có thể làm những việc trái với đạo đức lương tâm, họ làm ngược lại những điều tốt đẹp mà trước đây họ từng có, mà nguồn cội tổ tiên đã từng truyền cho họ... Vậy là họ đã tự “đánh mất mình”. Nhìn thời thế như vậy, nhà thơ không vui đã đặt ra câu hỏi, chỉ mong cho họ thức tỉnh, bình tĩnh ngoảnh mặt lại để nhìn lại bước đi của mình, để nhớ đến cội nguồn quê hương, nơi  ngày xưa gian khổ họ được sinh ra và được nuôi nấng để họ thành đạt, họ trưởng thành như ngày nay và mong sao họ sẽ tỉnh ngộ phần nào. Có như thế xã hội sẽ tốt đẹp hơn,  nhân ái hơn, bớt đi những điều nhức nhối về đạo đức con người trong thời đại mới.

Tiếp theo là câu hỏi: 
“Có nhớ núi, nhớ rừng thương mến
Đã sinh thành nguồn nước đầu tiên?”

Đó là những hình ảnh thân thiết, gần gũi, đánh thức bao nhiêu tình cảm yêu thương của mỗi con người, lời nhắc nhở thật nhẹ nhàng mà sâu sắc.
Sang khổ thơ thứ hai, nhà thơ lại nhắc đến một dạng người khác.  Một câu hỏi về dòng sông lại được nêu ra :
“Những dòng sông chảy mãi không dừng
 Có khi nào lặng thầm như lau lách”

Đây có lẽ tác giả muốn nhắc tới một mẫu người cứ lao vào công việc, làm ăn phấn đấu, hoặc đi tìm hạnh phúc, mải mê đến mức không có điểm dừng, không xác định đến bao giờ mới mãn nguyện. Họ bỏ qua, coi thường những gì gần gũi, giản dị nhất ngay ở bên cạnh mình. Bờ sông với cây lau cây sậy như là người bạn gần gũi quấn quýt bên nhau muôn đời, làm nên những cảnh đẹp rung động lòng người mà sông chẳng một lần để tâm tới “Có bao giờ lặng thầm như lau lách”.
Sông mải mê đi tìm hạnh phúc  ở đâu đâu mà quên cả con đò, cây đa bến nước, cả cánh buồm nâu gắn bó muôn đời, cũng như con người đã bỏ qua tất cả những người, những vật cả đời thương yêu gắn bó với mình để đi tìm một hạnh phúc xa xôi thì làm sao hiểu được giá trị của hạnh phúc, làm sao có được có được hạnh phúc lâu bền và đích thực ?

Những hình ảnh sau đây rất gợi cảm:
Một con đò, một cánh buồm nâu quạch
Đã làm nên dáng vẻ một vùng quê?

Câu thơ đã vẽ ra trước mắt chúng ta một cảnh đẹp thân thương của miền quê yên ả mà trong mỗi người xa quê đều đau đáu mang theo, nhắc nhở những người chỉ biết mải mê với những điều cao siêu xa lạ mà quên đi những gì vốn là  gần gũi giản dị yêu thương nhất thật là đáng tiếc!

Sang khổ thơ tiếp theo tác giả lại muốn hỏi dòng sông khác, một dạng người khác
Những dòng sông dào dạt khúc say mê
Xào xạc cỏ cây, xôn xao cá nhảy…

Với những hình ảnh gợi cảm này, có lẽ tác giả muốn nói tới những người có cuộc sống vui vẻ, đủ đầy cả tinh thần và vật chất, mọi cái đều đã mãn nguyện, chẳng còn điều gì phải nói. Nhưng nếu bình tĩnh suy nghĩ lại cái đó chưa chắc đã là bền vững cả đời, đó có thể chỉ là trong một thời điểm nhất định, một giai đoạn nhất định chưa thể nói trước được trong cuộc đời, hoặc dài hơn nữa thì cũng chỉ là điều thoảng qua trong chốn phù vân “sắc sắc không không” mà thôi.

Câu thơ của tác giả mang đậm tính triết lý rất sâu sắc, gợi cho ta nhiều suy nghĩ về kiếp nhân sinh, nhắc nhở chúng ta có cách sống giản dị hơn, giầu tình yêu thương hơn.
Có khi nao bình tĩnh và tự thấy
Sự ồn ào chỉ như gió thoảng qua?

Và đến khổ thơ cuối gần như một câu hỏi tổng hợp cho cả bài:
“Những dòng sông chảy mãi đến bao la
Tới rộng lớn mới biết mình nhỏ bé”

Đây vừa là câu hỏi nhưng cũng vừa là câu trả lời để nhắc nhở con người  dù đã thành đạt, thành công rồi vẫn chưa là gì so với cuộc sống xung quanh, với những thành tựu lớn lao của xã hội,  phải biết khiêm tốn rèn luyện, học hành thêm nhiều lắm thì mới nên người, mới đóng góp và có ích cho xã hội cũng như gia đình, không nên sớm tự phụ, tự mãn về mình quá mức.

Hai câu thơ cuối cùng  là hai câu nhắc nhở con người về lòng biết ơn nguồn cội, lòng yêu thương cuộc sống và mọi người xung quanh để xây dựng cuộc sống tươi đẹp hơn nữa.
Có khi nao ngắm bờ quên, bờ nhớ
Lở và bồi năm tháng đã nuôi ta?


Đọc xong bài thơ ta có cảm giác như vừa được nghe lời tâm tình thủ thỉ của tác giả với dòng sông quê, bao nhiêu mắc mớ đã được giãi bày cùng dòng sông thân thương, chia sẻ  với sông thật nhẹ nhàng mà sâu sắc.
Bài thơ của Nguyễn Vĩnh Bảo chứa đựng ý nghĩa nhân sinh, bài học đạo đức sâu xa, mang tính triết lý cuộc sống.

Toàn bài tác giả đã dùng những câu hỏi tu từ, những từ ngữ và hình ảnh đẹp và gợi cảm, những câu hỏi đó lại chính là câu trả lời và cũng chính là bài học giúp cho người đọc những suy nghĩ  về những việc  cần thiết về cuộc đời, và cuộc sống hàng ngày!
Trên đây là đôi dòng suy nghĩ của cá nhân tôi, chắc rằng  khi đọc bài thơ này mỗi chúng ta sẽ có nhiều ý kiến khác hay hơn nữa.

Xin chúc mừng nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo với những thành công trong các bài thơ nói về sông quê và các đề tài khác, chúc anh sẽ tiếp tục có những thành công mới trong sự nghiệp thi ca của mình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm