TIN TỨC

Đọc bài thơ “Hỏi sông” của nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-02-12 21:17:05
mail facebook google pos stwis
2831 lượt xem

TRẦN KIM DUNG

Mở tập thơ Sao Khuê 7 dầy dặn gần 300 trang với hơn 170 bài thơ, nhạc chọn lọc của 35 tác giả tôi đã bị cuốn hút từ đầu nhưng để viết một bài là một việc rất khó.

Vì vậy trong khuôn khổ thời gian có hạn, tôi xin phép được trình bày ít dòng suy nghĩ của tôi về một bài thơ của Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo là 1 trong 5 bài được chọn đăng trong tập này, đó là bài HỎI SÔNG.

Tôi được biết đến Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo và đọc thơ của anh đã khá lâu do một người thân giới thiệu nhưng chưa có dịp gặp mặt. Mãi đến khi về Sao Khuê tôi và Nguyễn Vĩnh Bảo mới gặp nhau và hai chị em đồng hương đã dành cho nhau những tình cảm rất quý mến.

Huyện Vĩnh Bảo quê hương anh là một vùng đất địa linh nhân kiệt, quê của quan Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm danh tiếng, một vùng đất hiếu học, là nơi có nhiều hoa thơm trái ngọt, là một trong những vùng trọng điểm lúa với những cánh đồng thẳng cánh cò bay, đặc biệt có những ruộng thuốc lào hương thơm cay nồng, ngan ngát.

Ở nơi quê hương yêu dấu ấy có một dòng sông hiền hòa chảy qua, quanh năm đem lại biết bao màu mỡ bồi đắp cho đồng ruộng. Đó là dòng Sông Chanh êm ả thân thương, đã để lại trong anh bao kỷ niệm ngọt ngào và  hình ảnh của những người yêu dấu:

Mẹ ngồi giặt chiếc áo nâu
mồ hôi mặn xuống một đầu con sông”

Và                                 

“Nước lên nước xuống sớm hôm
nhớ cha đặt đó đặt đơm bao mùa...”

(Trước sông quê)

Hình ảnh dòng sông yêu thương đó đã thấm sâu trong tình cảm của Nguyễn Vĩnh Bảo, cho nên dù đi bốn phương trời, anh  vẫn mang sông đi theo và hễ có dịp là anh lại về với sông quê:
“Con về nương tựa sông Chanh
Như nương tựa những ngọn ngành yêu thương”

(Con về nương tựa sông Chanh)

Sông trong thơ anh đã trở thành một đề tài cháy bỏng. Những bài thơ anh viết về sông khá nhiều. Tính đến nay anh cho ra đời được 6 tác phẩm thì 3 tác phẩm có tựa là “Sông” là  “Sóng”, đó là: Ngẫu hứng sông quê (2016), Thả vào đêm sóng (2020), Hai phía một đời sông (2021).

Tôi đã được đọc trong lời bình của Nhà thơ Đặng Nguyệt Anh viết về thơ Nguyễn Vĩnh Bảo có đoạn rất ấn tượng: “Sông Chanh nhỏ bé trong thơ Nguyễn Vĩnh Bảo cũng đủ sức rung, sức ngân cho ta cảm tình thương mến. Nó không có tên trên bản đồ địa lý Việt Nam, nhưng giờ đây Nguyễn Vĩnh Bảo đã ghi tên sông Chanh trên “Bản đồ thi ca”…

Ôi, con sông quê đối với anh mới gần gũi và thân thương làm sao ! Sông đối với anh như người bạn tâm tình, chia sẻ niềm thương nỗi nhớ. Ta hãy đọc xem trong bài thơ này anh có gì trăn trở mà lại phải đem ra HỎI SÔNG vậy?

Vâng,  chắc anh muốn mượn hình ảnh ẩn dụ của dòng sông để nói về hình ảnh con người chăng?

Ta hãy lắng nghe hai câu đầu của bài thơ:
“Những dòng sông đánh mất mình trên biển
Có khi nao ngoảnh mặt giữa chừng”

Sông hòa vào biển lớn là quy luật muôn đời của tự nhiên thật mênh mang, thật đẹp đẽ.
Chả thế mà đã có một nhà thơ từng ao ước:
Ước gì ta được là sông
Để ra  đến biển là không còn mình ”

(Lâm Thị Mỹ Dạ)

Vì vậy, việc “đánh mất mình trên biển” chắc chắn không phải là chuyện của sông mà là chuyện của con người. Tác giả đã mượn hình ảnh dòng sông để chia sẻ về chuyện của con người.

Ở đây có lẽ tác giả muốn nhắc đến một số người xuất thân ban đầu từ cuộc sống chân chất, được gia đình quê hương nuôi dưỡng cho ăn học, hoặc có một điều kiện nào đó,họ được thả vào môi trường rộng lớn tại các thành phố lớn hoặc ra nước ngoài. Trong số đó có những người giầu có, thành đạt, có địa vị quyền chức cao sang, hoặc có cả những người điều kiện kinh tế địa vị rất bình thường, nhưng khi chuyển sang một môi trường mới thì có những người thay đổi hẳn bản chất. Đồng tiền có thể làm cho họ lóa mắt và họ bất chấp cả danh dự, làm mọi việc xấu xa, thậm chí phạm pháp, đánh mất cả nhân phẩm đạo đức để có nhiều tiền. Họ đã trở thành một con người khác hẳn không còn giữ được những điều tốt đẹp như trước kia nữa. Họ có thể làm những việc trái với đạo đức lương tâm, họ làm ngược lại những điều tốt đẹp mà trước đây họ từng có, mà nguồn cội tổ tiên đã từng truyền cho họ... Vậy là họ đã tự “đánh mất mình”. Nhìn thời thế như vậy, nhà thơ không vui đã đặt ra câu hỏi, chỉ mong cho họ thức tỉnh, bình tĩnh ngoảnh mặt lại để nhìn lại bước đi của mình, để nhớ đến cội nguồn quê hương, nơi  ngày xưa gian khổ họ được sinh ra và được nuôi nấng để họ thành đạt, họ trưởng thành như ngày nay và mong sao họ sẽ tỉnh ngộ phần nào. Có như thế xã hội sẽ tốt đẹp hơn,  nhân ái hơn, bớt đi những điều nhức nhối về đạo đức con người trong thời đại mới.

Tiếp theo là câu hỏi: 
“Có nhớ núi, nhớ rừng thương mến
Đã sinh thành nguồn nước đầu tiên?”

Đó là những hình ảnh thân thiết, gần gũi, đánh thức bao nhiêu tình cảm yêu thương của mỗi con người, lời nhắc nhở thật nhẹ nhàng mà sâu sắc.
Sang khổ thơ thứ hai, nhà thơ lại nhắc đến một dạng người khác.  Một câu hỏi về dòng sông lại được nêu ra :
“Những dòng sông chảy mãi không dừng
 Có khi nào lặng thầm như lau lách”

Đây có lẽ tác giả muốn nhắc tới một mẫu người cứ lao vào công việc, làm ăn phấn đấu, hoặc đi tìm hạnh phúc, mải mê đến mức không có điểm dừng, không xác định đến bao giờ mới mãn nguyện. Họ bỏ qua, coi thường những gì gần gũi, giản dị nhất ngay ở bên cạnh mình. Bờ sông với cây lau cây sậy như là người bạn gần gũi quấn quýt bên nhau muôn đời, làm nên những cảnh đẹp rung động lòng người mà sông chẳng một lần để tâm tới “Có bao giờ lặng thầm như lau lách”.
Sông mải mê đi tìm hạnh phúc  ở đâu đâu mà quên cả con đò, cây đa bến nước, cả cánh buồm nâu gắn bó muôn đời, cũng như con người đã bỏ qua tất cả những người, những vật cả đời thương yêu gắn bó với mình để đi tìm một hạnh phúc xa xôi thì làm sao hiểu được giá trị của hạnh phúc, làm sao có được có được hạnh phúc lâu bền và đích thực ?

Những hình ảnh sau đây rất gợi cảm:
Một con đò, một cánh buồm nâu quạch
Đã làm nên dáng vẻ một vùng quê?

Câu thơ đã vẽ ra trước mắt chúng ta một cảnh đẹp thân thương của miền quê yên ả mà trong mỗi người xa quê đều đau đáu mang theo, nhắc nhở những người chỉ biết mải mê với những điều cao siêu xa lạ mà quên đi những gì vốn là  gần gũi giản dị yêu thương nhất thật là đáng tiếc!

Sang khổ thơ tiếp theo tác giả lại muốn hỏi dòng sông khác, một dạng người khác
Những dòng sông dào dạt khúc say mê
Xào xạc cỏ cây, xôn xao cá nhảy…

Với những hình ảnh gợi cảm này, có lẽ tác giả muốn nói tới những người có cuộc sống vui vẻ, đủ đầy cả tinh thần và vật chất, mọi cái đều đã mãn nguyện, chẳng còn điều gì phải nói. Nhưng nếu bình tĩnh suy nghĩ lại cái đó chưa chắc đã là bền vững cả đời, đó có thể chỉ là trong một thời điểm nhất định, một giai đoạn nhất định chưa thể nói trước được trong cuộc đời, hoặc dài hơn nữa thì cũng chỉ là điều thoảng qua trong chốn phù vân “sắc sắc không không” mà thôi.

Câu thơ của tác giả mang đậm tính triết lý rất sâu sắc, gợi cho ta nhiều suy nghĩ về kiếp nhân sinh, nhắc nhở chúng ta có cách sống giản dị hơn, giầu tình yêu thương hơn.
Có khi nao bình tĩnh và tự thấy
Sự ồn ào chỉ như gió thoảng qua?

Và đến khổ thơ cuối gần như một câu hỏi tổng hợp cho cả bài:
“Những dòng sông chảy mãi đến bao la
Tới rộng lớn mới biết mình nhỏ bé”

Đây vừa là câu hỏi nhưng cũng vừa là câu trả lời để nhắc nhở con người  dù đã thành đạt, thành công rồi vẫn chưa là gì so với cuộc sống xung quanh, với những thành tựu lớn lao của xã hội,  phải biết khiêm tốn rèn luyện, học hành thêm nhiều lắm thì mới nên người, mới đóng góp và có ích cho xã hội cũng như gia đình, không nên sớm tự phụ, tự mãn về mình quá mức.

Hai câu thơ cuối cùng  là hai câu nhắc nhở con người về lòng biết ơn nguồn cội, lòng yêu thương cuộc sống và mọi người xung quanh để xây dựng cuộc sống tươi đẹp hơn nữa.
Có khi nao ngắm bờ quên, bờ nhớ
Lở và bồi năm tháng đã nuôi ta?


Đọc xong bài thơ ta có cảm giác như vừa được nghe lời tâm tình thủ thỉ của tác giả với dòng sông quê, bao nhiêu mắc mớ đã được giãi bày cùng dòng sông thân thương, chia sẻ  với sông thật nhẹ nhàng mà sâu sắc.
Bài thơ của Nguyễn Vĩnh Bảo chứa đựng ý nghĩa nhân sinh, bài học đạo đức sâu xa, mang tính triết lý cuộc sống.

Toàn bài tác giả đã dùng những câu hỏi tu từ, những từ ngữ và hình ảnh đẹp và gợi cảm, những câu hỏi đó lại chính là câu trả lời và cũng chính là bài học giúp cho người đọc những suy nghĩ  về những việc  cần thiết về cuộc đời, và cuộc sống hàng ngày!
Trên đây là đôi dòng suy nghĩ của cá nhân tôi, chắc rằng  khi đọc bài thơ này mỗi chúng ta sẽ có nhiều ý kiến khác hay hơn nữa.

Xin chúc mừng nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo với những thành công trong các bài thơ nói về sông quê và các đề tài khác, chúc anh sẽ tiếp tục có những thành công mới trong sự nghiệp thi ca của mình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm