TIN TỨC

Đọc “Đất nước hình tia chớp” của Trần Mạnh Hảo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-12-04 22:56:46
mail facebook google pos stwis
2384 lượt xem

                                      Châu Thạch

Vì sao nhà thơ Trần Mạnh Hảo dùng tia chớp đề làm hình ảnh đại diện cho đất nước? Theo tôi có lẽ bởi vì tia chớp có vẻ đẹp hùng vĩ nhất, bởi vì tia chớp có năng lương rất lớn, và bởi vì tia chớp có đường đi sáng rực và ngoằn ngoèo. Dùng hình ảnh tia chớp làm đại diện cho đất nước, Trần Manh Hảo muốn tôn vinh đất nước, muốn hóa hình đất nước vào hiện tượng thiên nhiên kỳ vỹ, để người đọc thấy đất nước qua 5 giác quan và qua tâm linh của mình.

2 - Tập trường thi của Trần Mạnh Hảo có chủ đề chung là “Đất Nước Hình Tia Chớp”, trong đó có 9 tiêu đề riêng, mỗi tiêu đề dùng một cụm từ khác nhau. Trong 9 cụm từ đó thì 5 cụm từ có chữ mẹ và 4 cụm từ không có chữ mẹ. Thế nhưng mở đầu các đoạn thơ có tiêu đề không có chữ mẹ đó, nhà thơ đều có nhắc đến mẹ. Như thế ta có thể hiểu được, với  trường thi “Đất Nước Hình Tia Chớp”, nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết về mẹ mình hay mẹ mỗi người trong chúng ta là việc nhỏ, việc lớn trong trường thi nầy là nhà thơ viết về người mẹ lớn hơn, đó là Mẹ của quê hương, hay nói chính xác hơn là Mẹ Việt Nam.

3 - Bây giờ mời đi vào chương một có tiêu đề: “Trong Nhà Có Mẹ”

Đoạn thơ nầy Trần Mạnh Hảo viết về sự gian nan của mẹ khi sinh ra và nuôi mình lớn khôn. Tất nhiên để nuôi con lớn khôn, mẹ phải chịu nhọc nhằn, mẹ phải mò cua bắt ốc thì mẹ mới được đưa vào thơ là lẽ tự nhiên. Không mấy thi sĩ nào đưa người mẹ giàu sang phú quý vào thơ cả. Thế nhưng khác với nhiều tác giả, nhà thơ Trần Mạnh Hảo hóa hình đất nước như tia chớp vào dáng dấp tiều tụy, gầy còm của mẹ mình một cách quá ư là tự nhiên:

Khi mẹ nuôi con đất nước cong hình cái cày

Đất nước mãi là hình chữ S

Đất nước kẽo kà kẽo kẹt

Đất nước là mẹ đây

Vậy theo thơ thì mẹ, nhỏ là cái cày, là sợi dây coi nôi, nhưng mẹ lớn lao, chính là đất nước Việt Nạm. Từ đó ta suy ra mẹ đối với Trần Mạnh Hảo cũng mang hình tia chớp trên bầu trời quê hương yêu dấu.

4 - Bây giờ mời đi vào chương hai có tiêu đề “Khúc Đàn Bầu”:

Biển sinh ra đã bạc đầu

Mẹ ru một khúc đàn bầu cho con

Một dây một trái đất tròn

Mỗi hồn núi ngỡ một hòn vọng phu

Bây giờ nhà thơ Trần Mạnh Hảo lại biến hóa tiếng hát ru con của mẹ thành tiếng đàn bầu, lồng chiếc đàn bầu trong sự vĩ đại của sông núi và trong hình tượng hòn vọng phu chơ vơ trên vách đá.  Bằng 4 câu thơ, Trần Mạnh Hảo đã đưa mẹ trong nhạc, mẹ trong ca dao, mẹ trong văn hóa dân gian và mẹ trong huyền thoại vào thơ, khiến cho không mấy ai đọc thơ mà không nhớ đến tình mẹ bao la, không se lòng với “Biển sinh ra đã bạc đầu” như tóc mẹ.

5 - Bây giờ xin đi vào chương  ba với tiêu đề “Mẹ Cho Con Trái Thị”:

Trái thị rớt bị bà già” trong chuyện dân gian Tấm Cám ngày xưa. Nay nhà thơ Trần Mạnh Hảo đưa vào trường thi của mình để làm hình ảnh của mẹ “Từ trong giọt lệ đi ra/Gánh đau thương tưởng chẳng là đau thương”. Trái thị ngày xưa rơi vào tay bà già, bà cất chớ bà không ăn. Trái thị ngày nay rơi vào tay Trần Mạnh Hảo, và nhà thơ đã ăn trái thị, ăn để nhả ra những câu thơ tuyệt vời cho mẹ mình và cho mẹ Việt Nam:

Trái thị vàng mặt trăng con ăn

Cô Tấm đó hay là mẹ đó

Trái đất này hay trái đất ngày xưa?

… Lịch sử trong trái thị

Lịch sử chín mỗi ngày

Trái thị con cầm trên tay

Có giống trái đất nầy dài rộng?

Mẹ ơi qua nghìn biến động

Mẹ lại về trồng lúa trồng dâu

Đất nước cúa con mang hồn dây bí dây bầu.

6 - Xin mời đi vào chương bốn có tiêu đề “Ngọn Lửa”:

Không phải lên trời ăn cắp lửa

Không phải xin hàng xóm xa gần

Bếp tro trấu như tấm lòng lịch sử

Mẹ truyền lịch sử mấy ngàn năm

Tiêu đề là “Ngọn Lửa” không có chữ mẹ, nhưng đoạn trường thi nầy tác giả viết về mẹ đẹp không khác gì tia chớp ngoằn ngoèo rực sáng chứa đầy năng lượng. Nhà thơ viết; “Mẹ mặc áo xanh mẹ mặc áo chàm/Đất nước bỗng mang dáng hình tia chớp”, hay nhà thơ viết: “Mẹ ơi, mẹ hãy ngắm nhìn đất nước/ Sao giống vô cùng ngọn lửa con soi?”. Ngọn lửa con soi là ai? Đó chính là mẹ. Với hai câu thơ nầy nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã đồng hóa đất nước và mẹ mình là một.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo

7 - Xin mời đi vào chương 5 có tiêu đề “Thương Nhau Cởi Áo Cho Nhau”.

Đọc cái tiêu đề, tất nhiên ta biết ngay đoạn trường thi nầy nhà thơ viết cho tình yêu. Em trong “Thương Nhau Cởi áo cho Nhau” thật đẹp, vừa nhu mì vừa dịu hiền, mang hình ảnh của những mỹ nhân trong cổ tích Việt Nam: “Là khi chàng Tú Uyên mơ/Dáng Kiều người đẹp bao giờ hiện ra”, “Là khi Từ Thức đi qua/Suốt hang động biết có là yêu thượng”, “Là em con gái Hùng Vương/Sơn tình lường trước đoạn đường phải qua”. Nhà thơ tả em đẹp với dáng hình của người trong cổ tích, và rồi cái nết đánh chết không chừa, Trần Mạnh Hảo lồng em trong khung kính của mẹ, nghĩa là cũng hóa thân em trong tia chớp hình đất nước quê hương:

Biết em từ thuở Hùng Vương

Lưng ong thắt đáy như lưng nước mình

Dẫu từng đi suốt chiến chinh

Mà sao đất nước vẫn hình dáng em

 

…Chiếc khăn hoa lý bay lên

Theo hình đất nước nằm bên biển đầy

…Đất nước mang hình vành khuyên

Khi em mười tám cái duyên đậm đà

…Thương nhau thì nhớ đừng quên

Về xin phep mẹ mà lên qua cầu

Nước mình cởi áo cho nhau

Thương nhau thì đến bạc đầu còn thương.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã ví tình anh và em, tình em và anh không khác chi tình chúng ta với đất nước, cởi áo cho nhau và bạc đầu còn thương.

8 - Bây giờ xin mời đi vào chương 6 có tiêu đề “Những Lời Ru Mẹ”

Tất nhiên trong đoạn trưởng thi nầy nhà thơ Trần Mạnh Hảo ẩn dụ lời ru của đất nước trong lời ru của mẹ. Mẹ chỉ sống trăm năm nhưng trong thơ lời ru của mẹ sống đến ngàn năm:

Mẹ ru một tiếng ầu ơ

Mà nghìn năm đến bây giờ còn ngân

Trở mình trên võng con lăn

Nghe như trái đất nghiêng dần một bên

…Người hy sinh tự ngàn xưa

Khi nằm xuống đất vẫn mơ chuyện đời

Mẹ ru người đã khuất rồi

Ngủ say trong đất những lời tái sinh

9 - Mời xem chương 7 có tiêu đề “Ngọn Gió Của Mẹ”:

Trong đoạn trường thi nầy, mẹ chính là nguồn cội của gió. Con “là gió tìm về vòm cây mẹ/ Mẹ chính là nguồn cội gió khai sinh”, “Trong chiêm bao con biến thành ngọn gió”, “Hơi thở cúa đôi ta nối nhau thành ngọn gió/ Trái tim ta gõ mãi của mong chờ”. Như vậy ta thấy qua thơ, tác giả là ngọn gió đi phiêu lưu, ngọn gió của cơn mơ, của ước vọng, ngọn gió của tình yêu, tất cả phát xuất từ mẹ và sẽ tìm quay về với mẹ. Như vậy mẹ khác chi là quê hương, là đất nước, là tổ quốc, là giống nòi tiềm tàng, di truyền trong dòng máu của ta, mà dầu ta đi bốn phương trời, cũng không quên được một lời Mẹ Việt Nam.

10 - Mời xem chương 8 có tiêu đề là “Thời Chúng Con Yêu Nhau”

Thời chúng con yêu nhau trong trường thi nầy là thời chiến tranh ly loạn, khói lửa và đạn bon tàn khốc. Thế nhưng tình yêu của họ là thứ tình yêu “cao hơn sự chết/Hơn cả sự sông hai ta là sự sống giống nòi”. Nhà thơ ước vọng ngàn sau không có lại cái thời yêu nhau trong gian khổ nữa:

Thời anh yêu em ngàn sau rồi chẳng có

Hơn chuyện cô Tấm kia, hơn cách trở Kim Kiều

Hàng vạn người đi không trở về thành phố

Dãy Trường Sơn sừng sững tạc phù điêu

Đoạn trường thi nầy không thấy nói về mẹ nhưng đọc thơ, trong chúng ta ai cũng biết lòng mẹ lúc nầy đau đớn biêt bao.

11 - Mời xem chương thứ 9 có tiêu đề “Mẹ Sinh Nhiều Con Trai”;

Đây là chương cuối của trường thi, như là kết luận làm sáng tỏ chủ ý của người cầm bút, nhà thơ viết về mẹ Âu Cơ, viết về con cháu Lạc Hồng và khẳng định, và hứa hẹn trung thành, hãnh diện về VIệt Nam, tổ quốc mà “Mẹ đã tìm ra dãi đất mang hình tia chớp/Chọn vùng tâm bão để sinh con”:

Mẹ ơi, bất kỳ từ điểm nào trên trái đất

Ai cũng thấy mẹ sinh nhiều con trai

Khi đất nước VIệt Nam dáng hình tia chớp

Rạch chân trời một lối đến tương lai

12- Kết Luận:  Trường thi “Đất Nước Hình Tin Chớp” in trên gần 100 trang giấy, có đến ngàn câu thơ, người viết bài nầy chỉ trích ra vài chục câu và viết trên vài trang giấy thì chỉ như phi ngựa xem hoa cũng chưa thật là đúng. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo là bóng núi trong nền văn học hiện nay, Châu Thạch viết về ông chỉ như là tên hầu trà đứng vòng tay nói leo vào bàn nghị luận. Vậy sự sai trật chắc chắn là có, mong được mọi người thứ lỗi.

Vói tôi, trường thi “Đất Nước Hình Tia Chớp” của Trần Mạnh Hảo là một anh hùng ca. Anh hùng ca bởi vì đó là một bản trường thi có đủ tính chất là một tác phẩm tự sự có dung lượng lớn, bộc lô tính tích cực, có chủ đề mang tính chất toàn dân tộc Việt Nam.

Đọc trường thi của Trần Mạnh Hảo, từng câu thơ hùng hồn, lời thơ gói trọn hình ảnh bình dị của con người, của cuộc sống, nhưng lại chứa trong đó ý nghĩa cao vời của non sông, của đất nước, của niềm kiêu hảnh dân tộc. Tiếng thơ như tiếng gió bay qua trùng dương, bay qua đại ngàn, bay trên sa mạc, trên sự thăng trầm của lịch sử, sáng như tia chớp trên bầu trời. Mỗi câu thơ trong “Đất Nước Hình Tia Chớp” như một xúc tu của hình tia chớp ấy tỏa sắc màu trên không gian.

Thật tình tôi viết về thơ Trần Mạnh Hảo, cố lắm thì cũng chỉ như thằng mù tả voi mà thôi. Thế nhưng tôi vẫn viết, vì đọc thơ Trần Mạnh Hảo, tôi thấy mình trẻ lại như thời xa xưa còn cầm súng./.

 

                                             C.T                                               

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm