TIN TỨC

Đọc “Đất nước hình tia chớp” của Trần Mạnh Hảo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-12-04 22:56:46
mail facebook google pos stwis
1636 lượt xem

                                      Châu Thạch

Vì sao nhà thơ Trần Mạnh Hảo dùng tia chớp đề làm hình ảnh đại diện cho đất nước? Theo tôi có lẽ bởi vì tia chớp có vẻ đẹp hùng vĩ nhất, bởi vì tia chớp có năng lương rất lớn, và bởi vì tia chớp có đường đi sáng rực và ngoằn ngoèo. Dùng hình ảnh tia chớp làm đại diện cho đất nước, Trần Manh Hảo muốn tôn vinh đất nước, muốn hóa hình đất nước vào hiện tượng thiên nhiên kỳ vỹ, để người đọc thấy đất nước qua 5 giác quan và qua tâm linh của mình.

2 - Tập trường thi của Trần Mạnh Hảo có chủ đề chung là “Đất Nước Hình Tia Chớp”, trong đó có 9 tiêu đề riêng, mỗi tiêu đề dùng một cụm từ khác nhau. Trong 9 cụm từ đó thì 5 cụm từ có chữ mẹ và 4 cụm từ không có chữ mẹ. Thế nhưng mở đầu các đoạn thơ có tiêu đề không có chữ mẹ đó, nhà thơ đều có nhắc đến mẹ. Như thế ta có thể hiểu được, với  trường thi “Đất Nước Hình Tia Chớp”, nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết về mẹ mình hay mẹ mỗi người trong chúng ta là việc nhỏ, việc lớn trong trường thi nầy là nhà thơ viết về người mẹ lớn hơn, đó là Mẹ của quê hương, hay nói chính xác hơn là Mẹ Việt Nam.

3 - Bây giờ mời đi vào chương một có tiêu đề: “Trong Nhà Có Mẹ”

Đoạn thơ nầy Trần Mạnh Hảo viết về sự gian nan của mẹ khi sinh ra và nuôi mình lớn khôn. Tất nhiên để nuôi con lớn khôn, mẹ phải chịu nhọc nhằn, mẹ phải mò cua bắt ốc thì mẹ mới được đưa vào thơ là lẽ tự nhiên. Không mấy thi sĩ nào đưa người mẹ giàu sang phú quý vào thơ cả. Thế nhưng khác với nhiều tác giả, nhà thơ Trần Mạnh Hảo hóa hình đất nước như tia chớp vào dáng dấp tiều tụy, gầy còm của mẹ mình một cách quá ư là tự nhiên:

Khi mẹ nuôi con đất nước cong hình cái cày

Đất nước mãi là hình chữ S

Đất nước kẽo kà kẽo kẹt

Đất nước là mẹ đây

Vậy theo thơ thì mẹ, nhỏ là cái cày, là sợi dây coi nôi, nhưng mẹ lớn lao, chính là đất nước Việt Nạm. Từ đó ta suy ra mẹ đối với Trần Mạnh Hảo cũng mang hình tia chớp trên bầu trời quê hương yêu dấu.

4 - Bây giờ mời đi vào chương hai có tiêu đề “Khúc Đàn Bầu”:

Biển sinh ra đã bạc đầu

Mẹ ru một khúc đàn bầu cho con

Một dây một trái đất tròn

Mỗi hồn núi ngỡ một hòn vọng phu

Bây giờ nhà thơ Trần Mạnh Hảo lại biến hóa tiếng hát ru con của mẹ thành tiếng đàn bầu, lồng chiếc đàn bầu trong sự vĩ đại của sông núi và trong hình tượng hòn vọng phu chơ vơ trên vách đá.  Bằng 4 câu thơ, Trần Mạnh Hảo đã đưa mẹ trong nhạc, mẹ trong ca dao, mẹ trong văn hóa dân gian và mẹ trong huyền thoại vào thơ, khiến cho không mấy ai đọc thơ mà không nhớ đến tình mẹ bao la, không se lòng với “Biển sinh ra đã bạc đầu” như tóc mẹ.

5 - Bây giờ xin đi vào chương  ba với tiêu đề “Mẹ Cho Con Trái Thị”:

Trái thị rớt bị bà già” trong chuyện dân gian Tấm Cám ngày xưa. Nay nhà thơ Trần Mạnh Hảo đưa vào trường thi của mình để làm hình ảnh của mẹ “Từ trong giọt lệ đi ra/Gánh đau thương tưởng chẳng là đau thương”. Trái thị ngày xưa rơi vào tay bà già, bà cất chớ bà không ăn. Trái thị ngày nay rơi vào tay Trần Mạnh Hảo, và nhà thơ đã ăn trái thị, ăn để nhả ra những câu thơ tuyệt vời cho mẹ mình và cho mẹ Việt Nam:

Trái thị vàng mặt trăng con ăn

Cô Tấm đó hay là mẹ đó

Trái đất này hay trái đất ngày xưa?

… Lịch sử trong trái thị

Lịch sử chín mỗi ngày

Trái thị con cầm trên tay

Có giống trái đất nầy dài rộng?

Mẹ ơi qua nghìn biến động

Mẹ lại về trồng lúa trồng dâu

Đất nước cúa con mang hồn dây bí dây bầu.

6 - Xin mời đi vào chương bốn có tiêu đề “Ngọn Lửa”:

Không phải lên trời ăn cắp lửa

Không phải xin hàng xóm xa gần

Bếp tro trấu như tấm lòng lịch sử

Mẹ truyền lịch sử mấy ngàn năm

Tiêu đề là “Ngọn Lửa” không có chữ mẹ, nhưng đoạn trường thi nầy tác giả viết về mẹ đẹp không khác gì tia chớp ngoằn ngoèo rực sáng chứa đầy năng lượng. Nhà thơ viết; “Mẹ mặc áo xanh mẹ mặc áo chàm/Đất nước bỗng mang dáng hình tia chớp”, hay nhà thơ viết: “Mẹ ơi, mẹ hãy ngắm nhìn đất nước/ Sao giống vô cùng ngọn lửa con soi?”. Ngọn lửa con soi là ai? Đó chính là mẹ. Với hai câu thơ nầy nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã đồng hóa đất nước và mẹ mình là một.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo

7 - Xin mời đi vào chương 5 có tiêu đề “Thương Nhau Cởi Áo Cho Nhau”.

Đọc cái tiêu đề, tất nhiên ta biết ngay đoạn trường thi nầy nhà thơ viết cho tình yêu. Em trong “Thương Nhau Cởi áo cho Nhau” thật đẹp, vừa nhu mì vừa dịu hiền, mang hình ảnh của những mỹ nhân trong cổ tích Việt Nam: “Là khi chàng Tú Uyên mơ/Dáng Kiều người đẹp bao giờ hiện ra”, “Là khi Từ Thức đi qua/Suốt hang động biết có là yêu thượng”, “Là em con gái Hùng Vương/Sơn tình lường trước đoạn đường phải qua”. Nhà thơ tả em đẹp với dáng hình của người trong cổ tích, và rồi cái nết đánh chết không chừa, Trần Mạnh Hảo lồng em trong khung kính của mẹ, nghĩa là cũng hóa thân em trong tia chớp hình đất nước quê hương:

Biết em từ thuở Hùng Vương

Lưng ong thắt đáy như lưng nước mình

Dẫu từng đi suốt chiến chinh

Mà sao đất nước vẫn hình dáng em

 

…Chiếc khăn hoa lý bay lên

Theo hình đất nước nằm bên biển đầy

…Đất nước mang hình vành khuyên

Khi em mười tám cái duyên đậm đà

…Thương nhau thì nhớ đừng quên

Về xin phep mẹ mà lên qua cầu

Nước mình cởi áo cho nhau

Thương nhau thì đến bạc đầu còn thương.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã ví tình anh và em, tình em và anh không khác chi tình chúng ta với đất nước, cởi áo cho nhau và bạc đầu còn thương.

8 - Bây giờ xin mời đi vào chương 6 có tiêu đề “Những Lời Ru Mẹ”

Tất nhiên trong đoạn trưởng thi nầy nhà thơ Trần Mạnh Hảo ẩn dụ lời ru của đất nước trong lời ru của mẹ. Mẹ chỉ sống trăm năm nhưng trong thơ lời ru của mẹ sống đến ngàn năm:

Mẹ ru một tiếng ầu ơ

Mà nghìn năm đến bây giờ còn ngân

Trở mình trên võng con lăn

Nghe như trái đất nghiêng dần một bên

…Người hy sinh tự ngàn xưa

Khi nằm xuống đất vẫn mơ chuyện đời

Mẹ ru người đã khuất rồi

Ngủ say trong đất những lời tái sinh

9 - Mời xem chương 7 có tiêu đề “Ngọn Gió Của Mẹ”:

Trong đoạn trường thi nầy, mẹ chính là nguồn cội của gió. Con “là gió tìm về vòm cây mẹ/ Mẹ chính là nguồn cội gió khai sinh”, “Trong chiêm bao con biến thành ngọn gió”, “Hơi thở cúa đôi ta nối nhau thành ngọn gió/ Trái tim ta gõ mãi của mong chờ”. Như vậy ta thấy qua thơ, tác giả là ngọn gió đi phiêu lưu, ngọn gió của cơn mơ, của ước vọng, ngọn gió của tình yêu, tất cả phát xuất từ mẹ và sẽ tìm quay về với mẹ. Như vậy mẹ khác chi là quê hương, là đất nước, là tổ quốc, là giống nòi tiềm tàng, di truyền trong dòng máu của ta, mà dầu ta đi bốn phương trời, cũng không quên được một lời Mẹ Việt Nam.

10 - Mời xem chương 8 có tiêu đề là “Thời Chúng Con Yêu Nhau”

Thời chúng con yêu nhau trong trường thi nầy là thời chiến tranh ly loạn, khói lửa và đạn bon tàn khốc. Thế nhưng tình yêu của họ là thứ tình yêu “cao hơn sự chết/Hơn cả sự sông hai ta là sự sống giống nòi”. Nhà thơ ước vọng ngàn sau không có lại cái thời yêu nhau trong gian khổ nữa:

Thời anh yêu em ngàn sau rồi chẳng có

Hơn chuyện cô Tấm kia, hơn cách trở Kim Kiều

Hàng vạn người đi không trở về thành phố

Dãy Trường Sơn sừng sững tạc phù điêu

Đoạn trường thi nầy không thấy nói về mẹ nhưng đọc thơ, trong chúng ta ai cũng biết lòng mẹ lúc nầy đau đớn biêt bao.

11 - Mời xem chương thứ 9 có tiêu đề “Mẹ Sinh Nhiều Con Trai”;

Đây là chương cuối của trường thi, như là kết luận làm sáng tỏ chủ ý của người cầm bút, nhà thơ viết về mẹ Âu Cơ, viết về con cháu Lạc Hồng và khẳng định, và hứa hẹn trung thành, hãnh diện về VIệt Nam, tổ quốc mà “Mẹ đã tìm ra dãi đất mang hình tia chớp/Chọn vùng tâm bão để sinh con”:

Mẹ ơi, bất kỳ từ điểm nào trên trái đất

Ai cũng thấy mẹ sinh nhiều con trai

Khi đất nước VIệt Nam dáng hình tia chớp

Rạch chân trời một lối đến tương lai

12- Kết Luận:  Trường thi “Đất Nước Hình Tin Chớp” in trên gần 100 trang giấy, có đến ngàn câu thơ, người viết bài nầy chỉ trích ra vài chục câu và viết trên vài trang giấy thì chỉ như phi ngựa xem hoa cũng chưa thật là đúng. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo là bóng núi trong nền văn học hiện nay, Châu Thạch viết về ông chỉ như là tên hầu trà đứng vòng tay nói leo vào bàn nghị luận. Vậy sự sai trật chắc chắn là có, mong được mọi người thứ lỗi.

Vói tôi, trường thi “Đất Nước Hình Tia Chớp” của Trần Mạnh Hảo là một anh hùng ca. Anh hùng ca bởi vì đó là một bản trường thi có đủ tính chất là một tác phẩm tự sự có dung lượng lớn, bộc lô tính tích cực, có chủ đề mang tính chất toàn dân tộc Việt Nam.

Đọc trường thi của Trần Mạnh Hảo, từng câu thơ hùng hồn, lời thơ gói trọn hình ảnh bình dị của con người, của cuộc sống, nhưng lại chứa trong đó ý nghĩa cao vời của non sông, của đất nước, của niềm kiêu hảnh dân tộc. Tiếng thơ như tiếng gió bay qua trùng dương, bay qua đại ngàn, bay trên sa mạc, trên sự thăng trầm của lịch sử, sáng như tia chớp trên bầu trời. Mỗi câu thơ trong “Đất Nước Hình Tia Chớp” như một xúc tu của hình tia chớp ấy tỏa sắc màu trên không gian.

Thật tình tôi viết về thơ Trần Mạnh Hảo, cố lắm thì cũng chỉ như thằng mù tả voi mà thôi. Thế nhưng tôi vẫn viết, vì đọc thơ Trần Mạnh Hảo, tôi thấy mình trẻ lại như thời xa xưa còn cầm súng./.

 

                                             C.T                                               

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm