TIN TỨC

Đọc thơ Nguyên Hùng qua 100 ca khúc

Người đăng : vanchuong
Ngày đăng: 2024-09-01 21:22:57
mail facebook google pos stwis
2562 lượt xem

HUỆ HƯƠNG HOÀNG

Trăm khúc hát một chữ duyên” là tuyển tập những bài thơ của Nguyên Hùng được phổ thành ca khúc. Cầm cuốn sách anh gửi tặng trên tay, tôi mỉm cười: ngày xưa mà có được cuốn sách như này là quý lắm đây. Vì ngày đó đi dạy, cứ mỗi lần nhà trường tổ chức hội diễn văn nghệ, là cô trò lại đi tìm một cuốn sách nhạc để tìm bài hát, rồi tập luyện cả tháng. Hài hước là sách nhạc ngày xưa, chỉ in lời bài hát mà không có bản nhạc (phù hợp với thế hệ chúng tôi, những người yêu nhạc nhưng không được học lý thuyết về nhạc, nên có bản nhạc cũng chả đọc được. Các bài hát chủ yếu là truyền miệng). 

Còn cuốn sách của Nguyên Hùng, với 81 bản nhạc (chọn lọc từ hơn 110 ca khúc phổ thơ), được in ngay ngắn bên cạnh những bài thơ, xinh xắn nhẹ nhàng, dễ thương. Tôi chợt nghĩ, đời sống thời hiện đại cũng sung sướng thật, đời sống vật chất, tinh thần đều đầy đủ. 

Nhà thơ Nguyên Hùng gọi trăm khúc hát từ thơ mình là duyên. Đúng thật. Là cái duyên đằm thắm của anh với thơ, với ca, với bạn bè văn nghệ sĩ, và với cuộc đời. Tôi cũng quen anh bởi cái duyên với ca khúc của anh, khi tôi nghe bài hát “Bến xưa”, là ca khúc của Lê An Tuyên phổ nhạc từ thơ anh. Một tình yêu quê, yêu con sông quê hương, yêu đời, yêu người dào dạt dâng lên trong lòng tôi khi nghe ca khúc ấy. Từ đó biết anh, và biết nữ nhạc sĩ Lê An Tuyên, rồi kết gắn, thành bạn bè thân thiết.

Sự giản dị và giàu tính nhạc

Thơ Nguyên Hùng giản dị và giàu nhạc tính. Và bởi vậy, khi những câu từ bay lên cùng nốt nhạc, ta mới thấy hết cái đẹp của nó: sự trong sáng của những cảm xúc và suy tư, lấp lánh như dưới ánh mặt trời: 

Ta sinh ra từ một dòng sông/ Sông dài rộng con đò ngang thì bé/ Đạn rít bom gầm cày nát thời thơ trẻ/ Khói lửa vừa tan mỗi đứa một phương trời/…/Ơi dòng sông ngọt lịm điệu đò đưa/ Ơi dòng sông mặn mòi câu ví giặm/ Giá mỗi chiều được về quê ngụp lặn/ ” (trích “Gửi dòng sông câu ví”). 

Bài thơ này được nhạc sĩ Hữu Xuân phổ nhạc với tên ca khúc là “Gửi dòng sông”, hầu như để nguyên lời thơ, nghe thật đằm thắm da diết. Với nhạc sĩ Võ Xuân Hùng lại gợi một cảm xúc mênh mang, mênh mang dòng sông, mênh mang tình người. Nhưng phải nói, qua âm nhạc của Lê An Tuyên, với âm hưởng ví giặm và lời thơ đã được thay đổi ít nhiều, tạo nên trong lòng người nghe một xúc cảm bùi ngùi khó tả, một nỗi nhớ thăm thẳm không nguôi: “À ơi, chiều xưa trên bến dưới thuyền. Ai đợi ai lúc trăng soi mạn thuyền. Trăng soi đôi bờ dòng sông xanh. Dòng sông ấy, tuổi thơ ấy còn đây trong giấc mơ em. Hỡi dòng sông quê giữ bao kỷ niệm buồn vui”. Vì thế, khi nghe bài hát lần đầu, tôi đã phải gọi điện cho chị bạn trong Nha Trang, hỏi cho ra ai là tác giả của tuyệt phẩm này.       


Bìa sách “Trăm khúc hát một chữ duyên” của Nguyên Hùng

Thơ Nguyên Hùng có duyên với nhiều nhạc sĩ. Chẳng thế mà có hơn trăm bài thơ của anh được phổ nhạc, trong đó có những bài được nhiều nhạc sĩ cùng phổ. Nhưng có lẽ Lê An Tuyên là người phổ nhạc thơ anh thành công nhất. Có lẽ nhờ cái duyên đồng hương, đồng ly quê nên đồng cảm. Vả lại, với trường cảm xúc phong phú nữ tính, âm nhạc Lê An Tuyên bổ sung cho cái chất nam tính hơi khô cứng của Nguyên Hùng. Một trong số đó là cặp bài thơ “Biển và em” và “Cửa Hội” được Lê An Tuyên phổ thành ca khúc “Sóng không từ biển”, với phong cách âm nhạc hiện đại, được rất nhiều ca sĩ nổi tiếng hát.   

“Tuổi thơ anh trên sóng/ Nên say hoài biển xanh/ Biến đưa ngàn cánh võng/ Ru bồng bềnh, bồng bềnh tuổi thơ”.       

Tôi cho rằng đây là một trong những ca khúc về biển hay nhất, nó gợi cái mênh mang và dạt dào của biển, mênh mang và dạt dào của tình yêu tuổi trẻ. 

Nguyên Hùng thường “vẽ” bạn bè văn chương bằng những bài thơ chứa chan tình yêu mến. Một số trong đó được các nhạc sĩ phổ thành những ca khúc. “Trôi giữa cõi thiền” là bài thơ viết tặng nhà thơ Nguyễn Lê Trung, mà nét họa chính là những tác phẩm của nhà thơ được nhắc tên, làm nên một bức chân dung rất đỗi gây xúc động, nhất là với những ai đã từng quen biết ông: 

“Giá như ngày ấy đừng gàn/ Giờ đâu phải tiếc giọt thầm tuổi hoa/ Lớn lên thiếu vắng tình cha/ Hồn sông trầm tích hồn thơ lắng đằm/ Mẹ đi… chấp chới sông Lam/ Cánh cò một thủa xa xăm cuối trời…” 

Với bài thơ này, nhạc sĩ Đỗ Tiến Lập đã phổ thành ca khúc mang âm hưởng của ca trù và đậm chất thiền. Qua giọng ca của ca sĩ Quế Thương, người nghe cảm thấy như những thanh âm cứ xoáy sâu vào tâm hồn mình, gợi liên tưởng về một nhân vật mang nặng nỗi đau thời cuộc và số phận, cũng mang nét tính cách quật cường như dòng sông dữ dội của quê hương.

Nhạc sĩ Đỗ Tiến Lập cũng là người phổ nhạc nhiều cho thơ Nguyên Hùng, và tôi cho rằng hầu hết những ca khúc đó đều thành công, nâng được hồn cốt của thơ Nguyên Hùng lên một tầng nấc của thăng hoa. 

Lòng trắc ẩn và tình yêu quê hương

Nguyên Hùng viết nhiều về quê hương. Những bài thơ đầy ắp nỗi nhớ, tình yêu đối với chốn quê, nơi cửa sông mênh mang nước và trời gặp gỡ, nơi ký ức về cha về mẹ lam lũ tần tảo trên bến sông, và tuổi thơ như những con còng gió nghịch ngợm bé nhỏ trước cuộc đời. Và tình yêu đó đã chạm đến rất nhiều trái tim của các nhạc sĩ, để họ đồng cảm và viết nên những cánh diều thanh âm chuyên chở câu chữ của anh. Tôi đã nghe một loạt những ca khúc trong đây, thấy hầu hết đều đã được các ca sĩ hát lên, và hầu hết đều rất “đi vào lòng người”. 

“Cha là con của biển khơi/ Thay ông mất sớm, một đời nắng mưa/ … / Thương cha đi sớm về khuya/ Qua bom qua bão mang về mừng vui…” (trích “Nhớ cha”)

“Chiều Cửa Lò chúng mình bên nhau/ Bồng bềnh ẩn hiện đảo Lan Châu/ Thuyền ai nhè nhẹ duềnh con sóng/ Trăng cũng dần nghiêng phía dốc cầu/ Cửa Lò chiều chúng mình trôi đâu?” (trích “Chiều nghiêng Cửa Lò”). 

Chiến tranh cũng thường có mặt trong thơ của Nguyên Hùng, không chỉ là ký ức về một thời đạn bom. Có câu chuyện thú vị mà Nguyên Hùng kể với tôi. Đó là khi anh viết bài thơ “Chờ bố về”: 

“Bố đã bay rất xa/ Không hẹn ngày trở lại/ Mẹ chờ trong lệ nhòa/ … / Đợi bố về cùng ăn/ Mong bố về mua sữa” để tặng cho em bé con liệt sĩ phi công Trần Quang Khải, đã hy sinh trong một cuộc bay huấn luyện trên biển Cửa Lò. Nguyễn Ngọc Tiến, một nhạc sĩ của nhà thờ Thiên Chúa giáo, sống ở Mỹ đã phổ nhạc cho ca khúc này thành bài hát “Chờ cha về”. 

Ca khúc thực sự lay động lòng người vì nó mang âm hưởng của Âm nhạc Kitô giáo – thanh thoát và từ bi, nó cũng nhắc nhở cho người nghe về mối hiểm nguy: đừng tưởng chiến tranh đã xa rồi. Nó vẫn lẩn quất đâu đây quanh cuộc sống của con người, chực chờ gieo rắc thương đau cho chúng ta, cho thế hệ tương lai của chúng ta. Như câu thơ của Nhà thơ Võ Hải: “Chiến tranh chưa khép mắt bao giờ”.     

Nhiều khi, Nguyên Hùng cũng viết lời cho ca khúc được đặt hàng. Như viết cho bệnh viện AF, một bệnh viện chuyên về chữa trị Nam – hiếm muộn, và được Lê An Tuyên phổ nhạc. Hay đến bất ngờ. Trữ tình và thơ mộng, khiến tôi nghe mà không khỏi bật cười. Hay ca khúc “Khát vọng Bảo Lộc” được Đỗ Tiến Lập phổ nhạc: 

“Bảo Lộc đây thơm hương cà phê/ Bảo Lộc xanh Tâm Châu sắc trà/ Bảo Lộc mềm như lụa như tơ/ Mây giăng giăng mênh mang nỗi nhớ…”      

Rất phóng khoáng và rất hào hùng.

Chủ đề của thơ và ca khúc cũng rất phong phú. Chúng ta có thể thấy ở đây, những bài thơ – ca khúc cách mạng (viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, viết về Côn Đảo, chị Võ Thị Sáu, hay viết về những anh hùng thời nay). Nguyên Hùng cũng viết nhiều về nghề tư vấn thiết kế công trình, nơi anh gắn bó gần suốt cuộc đời với đầy cảm xúc ân tình. 

Một đời theo đuổi những áng thơ, Nguyên Hùng đã để lại cho đời hơn trăm ca khúc, bằng cái duyên rất đằm thắm của mình với bạn bè văn nghệ, mà đặc biệt là các nhạc sĩ. Để mỗi khi tiếng nhạc vang lên, những câu thơ của anh cũng lấp lánh cất cánh. Không như thơ của nhà thơ tôi, tâm đắc lắm cũng chỉ để cất vào tủ. Duyên lắm chứ!

Nguồn:     


Mời nghe chùm ca khúc Nguyên Hùng - Lê An Tuyên:

  1. Lời hẹn tình quê: NSƯT Phạm Phương Thảo
  2. Lặng thầm hoa quê: Hoàng Viết Danh
  3. Hoa muống biển: Thanh Tài
  4. Em và biển: Bích Hồng
  5. Bến xưa: Đinh Trang
  6. Sóng không từ biển: NSƯT Vũ Tiến Lâm
  7. Lời yêu Xuân về: Phan Quỳnh Anh
  8. Nghe em hát: Ngọc Linh
  9. Cánh buồm đỏ (Giáng Vân - Nguyên Hùng): Quế Thương
  10. Bảo Lộc khúc tình ca: Minh Sơn & Việt Hòa
  11. Em và biển: NSƯT Vũ Tiến Lâm.
     

Mời đọc:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm