TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Đọc “Trò chuyện với thiên thần” - Những tai họa thế giới và giấc mơ Việt Nam

Đọc “Trò chuyện với thiên thần” - Những tai họa thế giới và giấc mơ Việt Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-12-10 00:25:12
mail facebook google pos stwis
1337 lượt xem

Phạm Chu Sa

Tác phẩm của nhà văn Trương Văn Dân với 75 câu chuyện dưới dạng những bức tâm thư của người cha - và một vài thư dưới danh nghĩa người mẹ - gởi cho đứa con từ lúc còn là một thai nhi. Cùng phụ lục là thư con gởi cha mẹ “từ những đám mây”- bởi con đã bay về miền mây trắng trước khi chào đời! Những cuộc độc thoại như lời tự sự dịu dàng của người cha với đứa con khi còn là một bào thai. Nhưng đó là những cảm nhận sâu sắc của một nhà khoa học, nhà xã hội học, nhà văn về những vấn đề lớn của nhân loại hiện nay…

Những bức tâm thư in liên tiếp với các vấn đề có thể bóc tách ra mà tác giả Trương Văn Dân gọi là tiểu thuyết, nhưng tôi mạn phép tác giả gọi là “đại thuyết”! Bởi tác phẩm được viết theo cấu trúc khá lạ: Thoạt là những lá thư như những lời độc thoại nội tâm, nhưng dần mở rộng ra, bao trùm hết mọi vấn đề mà nhân loại đang đối mặt. Từ chính trị - xã hội, kinh tế, tài chính - ngân hàng, khoa học, môi trường… đến tôn giáo, triết học, chiến tranh, hòa bình, cách mạng công nghệ thông tin, toàn cầu hóa… Có thể có độc giả sẽ phê phán tác giả tham lam, ôm đồm quá; hoặc cho là viết quá lan man. Nhưng tôi đồng cảm với tác giả -một người đầy tâm huyết hoang mang, trăn trở, lo ngại về một thế giới đang ở vào đêm trước một biến động lớn. Những nỗi lo của con người trước thiên tai và nhân họa do con người gây ra thường xuyên chực chờ. Tất cả đều ám ảnh tác giả. Tôi thật sự kinh hãi khi đọc đoạn tác giả kể những câu chuyện ăn thịt người: “Các thương gia Đài Loan ở Quảng Đông gần đây loan truyền một trào lưu bồi bổ rợn tóc gáy: Canh thai nhi 6 - 7 tháng tuổi, được chế biến với một số vị thuốc Đông y được ví như thuốc tráng dương thượng phẩm. Thai nhi được rửa bằng rượu cho khỏi tanh mùi máu, sau đó là xẻ, chặt, cắt để nấu thành món ăn!!! Phần lớn thai nhi đã chết do lưu sản hoặc phá thai…Các món ăn đều được làm từ thai nhi nữ. Đây có phải là tác hại của chính sách một con, hay là do tập tục của người Trung quốc”? Ở đoạn dưới, tác giả viết: “Ngày xưa khi đọc văn Lỗ Tấn, ba cứ tưởng văn hào nói chuyện người Trung quốc ăn thịt người chỉ là nghĩa bóng, ẩn dụ. Nhưng sau những tin tức rợn người, đọc lại những trang sách cổ thì thấy chuyện ăn thịt người khá phổ biến…Mới đây ở Hàn quốc người ta phát hiện những viên nang nhập từ Trung quốc làm bằng bột thịt hài nhi vì khi phân tích thì thấy toàn là DNA của người!!!”

Đây là tác phẩm tâm thuyết nhất của Trương Văn Dân. Anh đã bỏ hơn 5 năm để viết và chỉnh sửa. Những bài viết ngắn tưởng như vụn vặt, lộn xộn, nghĩ gì viết nấy, nhiều chương không liên quan gì với nhau - lại nêu bật được các vấn nạn của nhân loại qua cách nhìn, cách nghĩ của một nhà khoa học. Tác giả vốn là một dược sĩ tốt nghiệp ngành hóa và công nghiệp dược tại Italia. Từ năm 1980 phụ trách tổng hợp hóa dược. Từ 1985 nghiên cứu phát triển dược phẩm dành cho người và thú y, thành viên của một tập đoàn hóa dược lớn của Italia. Nhưng từ 2007, anh rời ngành hóa dược, cùng vợ - một người Ý, thường về Việt Nam du lịch nhiều miền đất nước, ghi chép, viết sách và tham gia hoạt động văn chương với các bạn viết trong nước... Vợ anh, nhà văn Elena Pucillo Truong là tiến sĩ văn chương Pháp, trước đây có thời gian tham gia giảng dạy tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM. Vợ chồng Trương Văn Dân thường đi về giữa Việt Nam và Italia mà anh không biết nên gọi là “Đi hay về?” - như tên một tác phẩm của Trương Văn Dân. Họ sống rất giản dị ở một căn hộ chung cư trên đường Ngô Tất Tố, Bình Thạnh, TPHCM. Sáng sáng anh chị thường ngồi ở cái quán cà phê bình dân không tên dưới sân khu chung cư mà Trương Văn Dân gọi là cà phê “Tắt đèn” - tên tác phẩm của Ngô Tất Tố - bởi quán nằm trên con đường mang tên cố văn sĩ nổi tiếng này. Anh chị ăn uống rất đạm bạc - dạng thực dưỡng: Bắp, khoai lang, khoai mì, đâu phộng luộc, uống nước lọc... Thỉnh thoảng có bạn văn anh chị quen thân mười mấy năm qua ghé thăm trò chuyện văn chương rôm rả, vợ chồng nhà văn cũng chiêu đãi khách thân quý cà phê bình dân với bắp, khoai!...

Khi Trương Văn Dân đang viết dở dang tác phẩm “Trò chuyện với thiên thần”, một bạn văn của anh xin đọc trước 200 trang đầu bản thảo. Đọc xong, bèn có cuộc “phỏng vấn bỏ túi” tác giả. Xin trích một vài câu hỏi - đáp khá thú vị. Vì chính trong đoạn văn trả lời này, tác giả gần như bộc bạch hết nỗi lòng chất chứa những suy nghĩ về thế giới này, cuộc đời này mà anh hằng thiết tha yêu quý!

Hỏi: “Vì sao anh viết cả một cuốn sách về một đứa con mà anh không có trong đời thực?”

 Đáp: “Nhà văn hóa Nguyễn Hiến Lê từng viết: Khi muốn học về một vấn đề nào thì cứ viết về vấn đề ấy. Có lẽ chiêm nghiệm câu nói ấy mà ý tưởng viết về / cho đứa con của một người chưa từng có con đã manh nha trong đầu tôi từ nhiều năm…”

Hỏi: “Nói chuyện với trẻ thơ nhưng vì sao anh lại đề cập đến nhiều vấn đề xã hội?”

Đáp: “Các yếu tố môi trường, xã hội, văn hóa, gia đình và bạn bè đều là những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến tâm hồn con người. Không ai có thể tách rời con trẻ để đóng khung trong bốn bức tường gia đình…”

Hỏi: “Vì sao anh đề cập đến rất nhiều đề tài?”

Đáp: “Cuộc sống luôn đặt ra các câu hỏi về thiên nhiên, về vũ trụ, về thế giới, về sự sống, về kinh tế, xã hội, văn hóa.v.v… Con người tùy trình độ của từng thời đại mà có những câu trả lời khác nhau, có thể không tuyệt đối đúng nhưng phù hợp với thời mình đang sống để có những cách hành xử thích hợp”…

Trương Văn Dân tự bạch: Đây là cuốn sách nói về cuộc đời. Về niềm khao khát sống…Cái tôi của “cha”, của “mẹ” trong sách là “cái tôi văn học”, nó có tính biểu tượng hơn là hiện thực và được viết từ góc độ một nhân chứng đứng bên lề, làm một kẻ quan sát và bình luận về những điều trông thấy, chiêm nghiệm. “Trò chuyện với Thiên Thần” không chỉ kể lại số phận của một đứa bé chưa chào đời, mà còn nói lên những ưu tư và những điều các bậc cha mẹ quan tâm số phận của một thời, một thế hệ kỳ lạ mà anh là chứng nhân của nhiều năm sau khi chiến tranh chấm dứt, sự khó nhọc mưu sinh trong một xã hội đang đổi thay vùn vụt. “Ngoài sự ghê tởm với bao thứ giáo điều, độc đoán, buộc con người thích nghi đến mức tối đa, đời sống vất vưởng đến nỗi sinh lực bị vắt kiệt không còn sức đề kháng lại cái trật tự được lập sẵn, đưa năng lực phát triển cá nhân vào kỷ cương và bị san bằng…”

Phần cuối sách, tác giả cho người mẹ vừa bị sẩy thai do nhiễm phóng xạ trong chuyến đi Nhật gặp lúc động đất, sóng thần làm sụp đổ hai nhà máy điện hạt nhân năm 2011, viết cho đứa con chưa kịp chào đời đã vội bay về trời! Những dòng tâm sự trào nước mắt về sự mất mát lớn lao không thể bù đắp.Và đáp lại là lá thư của đứa con chưa từng xuất hiện trên đời này “viết từ những đám mây” an ủi người mẹ đáng thương rằng: “Xin mẹ đừng buồn vì con không được chào đời. Không có sự hiện diện của con, mẹ không bị những áp lực và lo toan. Mẹ sẽ tránh được ưu tư, được giải thoát một phần khỏi cái vòng quay nghiệp chướng tử sinh…”

Với tác giả Trương Văn Dân, mặc cho toàn cầu hóa, chiến tranh thương mại, biến đổi khí hậu... dẫn đến một thế giới suy tàn thì tác giả vẫn tin vào một ngày không xa, đất nước Việt Nam sẽ có nhiều thay đổi. Anh mơ những người Việt máu đỏ da vàng sẽ ngồi lại với nhau bằng tinh thần hòa ái…Anh mơ một ngày nước ta sẽ có một nền y tế nhân văn và một nền y học tiến bộ để tạo ra những nghiên cứu đột phá chấn động, một nền kỹ nghệ tự lưc tự cường. Anh mơ một Việt Nam nhân ái và kiêu hùng trong thịnh vượng.

 “Trò chuyện với Thiên Thần” là tác phẩm đầy tính nhân bản của một nhà văn - nhà khoa học nặng lòng với vận mệnh nhân loại và đầy tâm huyết với dân tộc Việt. Một tác phẩm rất đáng đọc. Đọc và suy gẫm về những vấn nạn của thế giới hôm nay.

P.C.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm