TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Đọc “Trò chuyện với thiên thần” - Những tai họa thế giới và giấc mơ Việt Nam

Đọc “Trò chuyện với thiên thần” - Những tai họa thế giới và giấc mơ Việt Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-12-10 00:25:12
mail facebook google pos stwis
1209 lượt xem

Phạm Chu Sa

Tác phẩm của nhà văn Trương Văn Dân với 75 câu chuyện dưới dạng những bức tâm thư của người cha - và một vài thư dưới danh nghĩa người mẹ - gởi cho đứa con từ lúc còn là một thai nhi. Cùng phụ lục là thư con gởi cha mẹ “từ những đám mây”- bởi con đã bay về miền mây trắng trước khi chào đời! Những cuộc độc thoại như lời tự sự dịu dàng của người cha với đứa con khi còn là một bào thai. Nhưng đó là những cảm nhận sâu sắc của một nhà khoa học, nhà xã hội học, nhà văn về những vấn đề lớn của nhân loại hiện nay…

Những bức tâm thư in liên tiếp với các vấn đề có thể bóc tách ra mà tác giả Trương Văn Dân gọi là tiểu thuyết, nhưng tôi mạn phép tác giả gọi là “đại thuyết”! Bởi tác phẩm được viết theo cấu trúc khá lạ: Thoạt là những lá thư như những lời độc thoại nội tâm, nhưng dần mở rộng ra, bao trùm hết mọi vấn đề mà nhân loại đang đối mặt. Từ chính trị - xã hội, kinh tế, tài chính - ngân hàng, khoa học, môi trường… đến tôn giáo, triết học, chiến tranh, hòa bình, cách mạng công nghệ thông tin, toàn cầu hóa… Có thể có độc giả sẽ phê phán tác giả tham lam, ôm đồm quá; hoặc cho là viết quá lan man. Nhưng tôi đồng cảm với tác giả -một người đầy tâm huyết hoang mang, trăn trở, lo ngại về một thế giới đang ở vào đêm trước một biến động lớn. Những nỗi lo của con người trước thiên tai và nhân họa do con người gây ra thường xuyên chực chờ. Tất cả đều ám ảnh tác giả. Tôi thật sự kinh hãi khi đọc đoạn tác giả kể những câu chuyện ăn thịt người: “Các thương gia Đài Loan ở Quảng Đông gần đây loan truyền một trào lưu bồi bổ rợn tóc gáy: Canh thai nhi 6 - 7 tháng tuổi, được chế biến với một số vị thuốc Đông y được ví như thuốc tráng dương thượng phẩm. Thai nhi được rửa bằng rượu cho khỏi tanh mùi máu, sau đó là xẻ, chặt, cắt để nấu thành món ăn!!! Phần lớn thai nhi đã chết do lưu sản hoặc phá thai…Các món ăn đều được làm từ thai nhi nữ. Đây có phải là tác hại của chính sách một con, hay là do tập tục của người Trung quốc”? Ở đoạn dưới, tác giả viết: “Ngày xưa khi đọc văn Lỗ Tấn, ba cứ tưởng văn hào nói chuyện người Trung quốc ăn thịt người chỉ là nghĩa bóng, ẩn dụ. Nhưng sau những tin tức rợn người, đọc lại những trang sách cổ thì thấy chuyện ăn thịt người khá phổ biến…Mới đây ở Hàn quốc người ta phát hiện những viên nang nhập từ Trung quốc làm bằng bột thịt hài nhi vì khi phân tích thì thấy toàn là DNA của người!!!”

Đây là tác phẩm tâm thuyết nhất của Trương Văn Dân. Anh đã bỏ hơn 5 năm để viết và chỉnh sửa. Những bài viết ngắn tưởng như vụn vặt, lộn xộn, nghĩ gì viết nấy, nhiều chương không liên quan gì với nhau - lại nêu bật được các vấn nạn của nhân loại qua cách nhìn, cách nghĩ của một nhà khoa học. Tác giả vốn là một dược sĩ tốt nghiệp ngành hóa và công nghiệp dược tại Italia. Từ năm 1980 phụ trách tổng hợp hóa dược. Từ 1985 nghiên cứu phát triển dược phẩm dành cho người và thú y, thành viên của một tập đoàn hóa dược lớn của Italia. Nhưng từ 2007, anh rời ngành hóa dược, cùng vợ - một người Ý, thường về Việt Nam du lịch nhiều miền đất nước, ghi chép, viết sách và tham gia hoạt động văn chương với các bạn viết trong nước... Vợ anh, nhà văn Elena Pucillo Truong là tiến sĩ văn chương Pháp, trước đây có thời gian tham gia giảng dạy tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM. Vợ chồng Trương Văn Dân thường đi về giữa Việt Nam và Italia mà anh không biết nên gọi là “Đi hay về?” - như tên một tác phẩm của Trương Văn Dân. Họ sống rất giản dị ở một căn hộ chung cư trên đường Ngô Tất Tố, Bình Thạnh, TPHCM. Sáng sáng anh chị thường ngồi ở cái quán cà phê bình dân không tên dưới sân khu chung cư mà Trương Văn Dân gọi là cà phê “Tắt đèn” - tên tác phẩm của Ngô Tất Tố - bởi quán nằm trên con đường mang tên cố văn sĩ nổi tiếng này. Anh chị ăn uống rất đạm bạc - dạng thực dưỡng: Bắp, khoai lang, khoai mì, đâu phộng luộc, uống nước lọc... Thỉnh thoảng có bạn văn anh chị quen thân mười mấy năm qua ghé thăm trò chuyện văn chương rôm rả, vợ chồng nhà văn cũng chiêu đãi khách thân quý cà phê bình dân với bắp, khoai!...

Khi Trương Văn Dân đang viết dở dang tác phẩm “Trò chuyện với thiên thần”, một bạn văn của anh xin đọc trước 200 trang đầu bản thảo. Đọc xong, bèn có cuộc “phỏng vấn bỏ túi” tác giả. Xin trích một vài câu hỏi - đáp khá thú vị. Vì chính trong đoạn văn trả lời này, tác giả gần như bộc bạch hết nỗi lòng chất chứa những suy nghĩ về thế giới này, cuộc đời này mà anh hằng thiết tha yêu quý!

Hỏi: “Vì sao anh viết cả một cuốn sách về một đứa con mà anh không có trong đời thực?”

 Đáp: “Nhà văn hóa Nguyễn Hiến Lê từng viết: Khi muốn học về một vấn đề nào thì cứ viết về vấn đề ấy. Có lẽ chiêm nghiệm câu nói ấy mà ý tưởng viết về / cho đứa con của một người chưa từng có con đã manh nha trong đầu tôi từ nhiều năm…”

Hỏi: “Nói chuyện với trẻ thơ nhưng vì sao anh lại đề cập đến nhiều vấn đề xã hội?”

Đáp: “Các yếu tố môi trường, xã hội, văn hóa, gia đình và bạn bè đều là những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến tâm hồn con người. Không ai có thể tách rời con trẻ để đóng khung trong bốn bức tường gia đình…”

Hỏi: “Vì sao anh đề cập đến rất nhiều đề tài?”

Đáp: “Cuộc sống luôn đặt ra các câu hỏi về thiên nhiên, về vũ trụ, về thế giới, về sự sống, về kinh tế, xã hội, văn hóa.v.v… Con người tùy trình độ của từng thời đại mà có những câu trả lời khác nhau, có thể không tuyệt đối đúng nhưng phù hợp với thời mình đang sống để có những cách hành xử thích hợp”…

Trương Văn Dân tự bạch: Đây là cuốn sách nói về cuộc đời. Về niềm khao khát sống…Cái tôi của “cha”, của “mẹ” trong sách là “cái tôi văn học”, nó có tính biểu tượng hơn là hiện thực và được viết từ góc độ một nhân chứng đứng bên lề, làm một kẻ quan sát và bình luận về những điều trông thấy, chiêm nghiệm. “Trò chuyện với Thiên Thần” không chỉ kể lại số phận của một đứa bé chưa chào đời, mà còn nói lên những ưu tư và những điều các bậc cha mẹ quan tâm số phận của một thời, một thế hệ kỳ lạ mà anh là chứng nhân của nhiều năm sau khi chiến tranh chấm dứt, sự khó nhọc mưu sinh trong một xã hội đang đổi thay vùn vụt. “Ngoài sự ghê tởm với bao thứ giáo điều, độc đoán, buộc con người thích nghi đến mức tối đa, đời sống vất vưởng đến nỗi sinh lực bị vắt kiệt không còn sức đề kháng lại cái trật tự được lập sẵn, đưa năng lực phát triển cá nhân vào kỷ cương và bị san bằng…”

Phần cuối sách, tác giả cho người mẹ vừa bị sẩy thai do nhiễm phóng xạ trong chuyến đi Nhật gặp lúc động đất, sóng thần làm sụp đổ hai nhà máy điện hạt nhân năm 2011, viết cho đứa con chưa kịp chào đời đã vội bay về trời! Những dòng tâm sự trào nước mắt về sự mất mát lớn lao không thể bù đắp.Và đáp lại là lá thư của đứa con chưa từng xuất hiện trên đời này “viết từ những đám mây” an ủi người mẹ đáng thương rằng: “Xin mẹ đừng buồn vì con không được chào đời. Không có sự hiện diện của con, mẹ không bị những áp lực và lo toan. Mẹ sẽ tránh được ưu tư, được giải thoát một phần khỏi cái vòng quay nghiệp chướng tử sinh…”

Với tác giả Trương Văn Dân, mặc cho toàn cầu hóa, chiến tranh thương mại, biến đổi khí hậu... dẫn đến một thế giới suy tàn thì tác giả vẫn tin vào một ngày không xa, đất nước Việt Nam sẽ có nhiều thay đổi. Anh mơ những người Việt máu đỏ da vàng sẽ ngồi lại với nhau bằng tinh thần hòa ái…Anh mơ một ngày nước ta sẽ có một nền y tế nhân văn và một nền y học tiến bộ để tạo ra những nghiên cứu đột phá chấn động, một nền kỹ nghệ tự lưc tự cường. Anh mơ một Việt Nam nhân ái và kiêu hùng trong thịnh vượng.

 “Trò chuyện với Thiên Thần” là tác phẩm đầy tính nhân bản của một nhà văn - nhà khoa học nặng lòng với vận mệnh nhân loại và đầy tâm huyết với dân tộc Việt. Một tác phẩm rất đáng đọc. Đọc và suy gẫm về những vấn nạn của thế giới hôm nay.

P.C.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm