TIN TỨC

Cái tôi trong thơ Nguyên Hùng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-01-30 20:15:34
mail facebook google pos stwis
1820 lượt xem

LÊ ĐÌNH HÒA
(Nhân đọc “108 đoản khúc thơ”)    

Một tác phẩm văn chương được xem là một tòa kiến trúc nghệ thuật. Bàn về thi pháp học là tìm cái đẹp, cái độc đáo… trong cấu trúc nghệ thuật văn chương.

Với “108 đoản khúc thơ”, Nguyên Hùng đã tạo dựng từ cảm xúc của mình được tích tụ ở nhiều góc độ khác nhau. Cái “tôi” đang tìm cho anh một chỗ đứng trong thơ. Thi pháp học có nhiều điều. Nhưng trước tiên ta cùng xem về thi pháp thể loại vì nó chi phối các thi pháp khác. Thơ bốn câu lời ít ý nhiều, sâu xa, có khi gây bất ngờ cho cảm xúc người đọc, đang được Nguyên Hùng dàn dựng. Thơ anh có những câu kết khó đoán trước, có bài ta phải suy ngẫm mới thấy cái hay, cái lạ của tứ thơ. “Thiên hạ đua nhau lùng số đẹp/Từ số xe số điện thoại số nhà/Ta dễ tính gặp số nào cũng duyệt”. Đọc đến câu thứ ba này tưởng như đã bắt gặp ý tưởng của thơ. Nhưng câu cuối: “Nên trời đì bắt số đào hoa. Cái lạ, cái bất ngờ ở câu cuối tạo nên giá trị thẩm mỹ cao. Khi thơ anh kể chuyện câu cá: “Buông câu anh đứng em ngồi/Dăm con cá nhỏ đủ cười ngả nghiêng/Niềm vui chung bến chung thuyền/Hồn nhiên giản dị, bạc tiền khó mua. Hồn bài thơ ở câu thứ ba. Chuyện câu cá đã tự nó chuyển hóa thành niềm vui vì mối tình chung thủy. (Câu cá - tr.36). Thơ bốn câu của Nguyên Hùng thường chia hai vế, ít khi một chiều thuận mà hay gây trái ngược để tạo bất ngờ cho cảm xúc. Thơ bốn câu đòi hỏi phải có cấu trúc nghệ thuật chặt chẽ, súc tích mà gợi cảm đột biến. Nhà thơ đã thành công trong suốt tập thơ bốn câu.

Ta tiếp tục đì tìm thi pháp không gian và thời gian trong “108 đoản khúc thơ”. Anh chịu khó “bươn chải” nhiều nơi. Mỗi địa danh anh đến đều mang về cho anh những cảm xúc ấn tượng.

Khác với tầm nhìn thơ xưa không từ trực cảm mà từ tâm thức và ý tưởng. Ta cùng đọc bài “Khi ta làm thơ” (tr.9): “Khi ta uống uống rượu cùng trăng/Ngoài kia người lính gồng căng hết mình/Khi ta ngồi viết thơ tình/Ngoài kia biển cháy thái bình lâm nguy”. Đó là nỗi trăn trở của anh là nhà thơ với Tổ quốc, được coi là ý tưởng chủ đề khi cầm bút. Đến Móng Cái nơi địa đầu Tổ quốc… “Lẽ nào cam chịu để người nhăm nhe”. (Móng Cái – tr.34)

Có khi xuyên biên giới đến Vạn Lý Trường thành cũng vậy. Khi mọi người đua nhau làm hảo hán, riêng anh “Tôi muốn lên cao nhận sóng từ xa. “Sóng” là một ẩn ý.

Cũng như các nhà thơ luôn lấy thiên nhiên làm không gian tâm trạng, Nguyên Hùng đã thả hồn mình vào trăng, gió, mây, mưa, đồi cao, suối thẳm, miền xuôi, miền ngược cho đến biển cả mênh mông, sóng bạc rì rào… Nhưng luôn đau đáu về miền Trung hàng năm phải “Oằn vai gánh chịu bất công của trời”. Khi thăm lại chiến trường xưa thì “Ngược thời lửa đạn tìm nhau những ngày. Đến thăm nghĩa trang Trường Sơn: “Bao nỗi niềm bia đá cũng rưng rưng. Chi tiết nhân hóa này chưa thấy bao giờ! Sự liên kết trong thi pháp không gian và thời gian tạo nên hình tượng hài hòa đậm chất thơ. Song có những bài giữa không gian, thời gian vật lý lại có khi ngược lại với không gian, thời gian tâm lý. Nhờ đó mà gây bất ngờ tứ thơ:

“Ngày tẻ nhạt dù vang bao câu hát/Đêm ồn ào không xua nổi cô đơn (Ngậm ngùi – tr.63);

“Mê mải phố để vầng trăng đi lạc/Đến bạc đầu còn tiếc nuối ăn năn (Lơ đãng –tr.24).

Có những bài nghe như kể chuyện theo motip thơ trình diễn – tân hình thức mà rất thơ: “Đôi khi chợt ước vu vơ/Được làm nụ súng hé chờ giọt sương/Đôi khi ghen cả cánh chuồn/Nhởn nhơ tìm bạn không buồn không lo/Đôi khi lỡ một chuyến đò/Cả đời vô vọng ngóng chờ qua sông/Đôi khi lỡ chạm gai hồng/Giật mình chợt nhớ mình trồng phong lan (Đôi khi – tr.18). Chuyện “ước, ghen, lỡ” quá đơn giản mà ý lại sâu xa cho người thưởng thực. Có những cảm xúc mang sắc thái trữ tình, lãng mạn nghe sao mà êm dịu, quyến rũ. “Mỗi lần đến với Hà Tiên/Ngấm thêm hương vị của miền biển Tây/Mặt trời ôm biển trọn ngày/ Chiều còn ngụp lặn đắm say đêm dài. Bốn câu mà thành một bức tranh thiên nhiên với không gian và thời gian mơ mộng cho thơ (Hà Tiên – tr.35). Một bài thơ là một cấu trúc nghệ thuật. Cấu trúc cho thơ hay phải từ cấu trúc ngôn từ. Nhà nghiên cứu văn học, Phó giáo sư Phan Ngọc từng phát biểu nghe lạ tai mà sát thực: Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản”.

Trong tiến trình lắp ghép ngôn từ để có hình tượng nghệ thuật, thơ Nguyên Hùng như đã bắt gặp Bachelara: “Tâm thức và trí tưởng của ta đủ khả năng để giúp ta sáng tạo những gì mà ta nhận thức”. Suốt “108 đoản khúc thơ” ta đều cảm nhận thơ anh đã tỏa sáng ở nhiều đề tài. Bốn câu mà cảm giác như khi ta đọc một truyện ngắn hay. Trí tưởng của anh như thấm vào người đọc nhờ sự sáng tạo trong tạo dựng hình tượng. 


Thầy giáo Lê Đình Hòa

Bài thơ “Mặt trời – tr.26: “Khi hãy còn tỏa nắng/Trông cau có, mặt nhăn/Cuối chiều giờ sắp lặn/Bỗng dịu hiền làm trăng”. Chỉ ba từ “Cau có, mặt nhăn, dịu hiền mà tạo thành hai hình ảnh đối lập: Mặt trời khác hẳn mặt trăng. Nhưng bỗng nhiên mặt trời lại biến thành mặt trăng do trí tưởng nhà thơ mà có, mà ai trông cũng thấy vậy dù chỉ là cảm giác. Tình yêu xưa nay là cảm hứng cho mọi con người, không chỉ cho các nhà thơ. Trong trào lưu thơ mới trước 1945 đã một thời dài dậy sóng thơ tình. Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính… Hồn thơ vang vọng song cũng một thời để nhớ. Dù đã cách tân nhưng vẫn pha màu truyền thống cổ điển. Thơ tình yêu của Nguyên Hùng mang màu sắc cách tân, hiện đại. Lời thơ gọn, không rủ rê mà say đắm. Cái say đắm có lúc như nói “liều” mà lại rất nhân văn, thương chứ không trách quá lời. Có nhiều bài cùng ý tưởng nhưng kết cấu nghệ thuật khác nhau. Đọc “Sóng ngầm” (tr.23): “Biển đẹp nhường này, em trốn đâu/Gọi em khản cả tiếng còi tàu/Phải em hóa sóng ngầm đáy biển/Bất chợt xô anh đến bạc đầu. Đứng trước biển người ta thì có người yêu bên cạnh, còn anh trơ trọi nên càng nhớ người yêu. Đó là hiện thực. Nhưng có thật “Gọi em khản cả tiếng còi tàu? Từ tâm lý chờ mong quá đỗi, mất hy vọng nên thả một vần thờ như “nói liều” cho đỡ cơn nhớ. “Phải em hóa sóng ngầm đáy biển rồi “Bất chợt xô anh đến bạc đầu”. Chỉ mấy từ: Biển đẹp, trốn, gọi khản tiếng, sóng ngầm, xô mà tạo nên tứ thơ vừa hiện thực, vừa lãng mạn trong siêu thực. Khi đọc những bài này người ta sẽ liên tưởng “Thơ là điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu”. Nhiều bài đã xây dựng  ấn tượng như vậy.  Nhà văn học Nga Leonit Leonop viết: “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và khám phá về nội dung”. Đọc xong “108 đoản khúc thơ” ta cảm nhận như tác giả đang xây dựng một thể thơ khám phá vào hiện thực nên nhiều bài được vận dụng tu từ ẩn dụ, so sánh, đối lập mà đồng nhất… và có dấu hiệu của chủ nghĩa hình tượng tạo dáng thơ có chiều sâu và tiềm ẩn. Tiềm ẩn để gây bất ngờ. Ta hãy cùng đọc những “Biển cạn”- tr.20, “Lơ đãng“ – tr.24,  “Hoàng hôn” – tr.27, “Ngực đêm” – tr.28, “Lỡ” – tr.42, “Vô tình” – tr. 64, “Em và rượu” – tr.83…

Nhà thơ Nguyên Hùng đang độ nhạy cảm để tạo cho mình một chỗ đứng riêng thực thụ. Và ngày nào đó sẽ có được một nhà thơ mang phong cách thơ Nguyên Hùng.

Trên hai mươi năm với Thơ, anh đã cho ra đời "sáu đứa con” tinh thần đáng giá. Đến thời điểm này, anh đã có trên 90 ca khúc phổ thơ với nhiều ca khúc được các đài truyền hình trung ương và địa phương phát sóng. Trong số đó, có tác phẩm được bình chọn là một trong những ca khúc phổ thơ yêu thích của VTV3, nhiều ca khúc được các ca sĩ chọn biểu diễn và đưa vào albums. Thơ anh cũng được VOH và một số kênh truyền hình chọn giới thiệu.

Nguyên Hùng, một tiến sĩ công trình thủy nghỉ hưu đang sung sức cho thơ. Có người đọc thơ anh nói đùa: Giá như có cái học vị “Tiến sĩ Thơ” thì ông này cum rồi. Anh có bài thơ tự bạch:“Trót rồi duyên nợ thơ ca/Cũng nên biết, ấy chỉ là cuộc chơi /Thi nhân đích thực mấy người/Có thơ bay vút lên trời mấy ai?” (Trót – tr.89). Không phải vậy vì anh là người khiêm tốn. Xin mời cùng đọc mấy câu thơ: “Mỗi nhà văn một tiếng chuông/ Bổng trầm trong đục vui buồn rung lên/Xin đừng vô cảm lặng im / Kẻo làm gió giận nhấn chìm thuyền văn” (Chuông gió – tr.109).   

TP Hồ Chí Minh 30-4-2021

.

Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 09, ngày 20/01/2022.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm