TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Đừng nhìn em như thế - Một bức tranh “Trì biệt” duyên tình muôn thuở...

Đừng nhìn em như thế - Một bức tranh “Trì biệt” duyên tình muôn thuở...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-09-19 07:45:51
mail facebook google pos stwis
1968 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Sinh 1955 tại thôn Nhữ Xá, xã Hoằng Anh,  huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. 

Tốt nghiệp khoa Ngữ văn, ngành Ngôn ngữ , Đại học Tổng hợp Hà Nội  1981, ( K22) , nguyên Phóng viên Thời  báo Ngân hàng.

Hiện hưu trí tại TP.HCM. 

 

Lời đầu thưa trước:

• Một lần vào trang “Văn chương thành phố Hồ Chí Minh”, tình cờ tôi thấy tin Lê Thị Kim được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải “Nhà văn ấn tượng nhất năm 2023” của thành phố mang tên Bác. Thực tình, tôi vốn không thích thứ bậc nhất nhì... cụ thể của các loại giải thưởng... nhưng lại rất thú vị với cái danh xưng “ấn tượng”... đầy khiêu khích trí tò mò kia. Nên lần hồi tìm kiếm, mới hay, Lê Thị Kim đích thực là Nhà thơ, Họa sỹ, lại còn là một Doanh nhân thành đạt nữa.

Phải mất mấy giờ lướt Web... tôi mới biết từ lâu Lê Thị Kim đã nổi tiếng trên “thương trường Thi – Họa”...  Tôi chăm chú đọc được khá nhiều lời giới thiệu, bài bình luận và cả ca khúc phổ nhạc bài thơ “Đừng nhìn em như thế”, (có đến bốn nhạc sỹ phổ nhạc bài thơ này). Rồi tôi biết, chẳng phải mới đây, mà thi phẩm “Đừng nhìn em như thế” đã có mặt trên thi đàn, từ những năm 80 của thế kỷ trước, nhưng đến nay nó vẫn dành được mến mộ của công chúng yêu Thơ, yêu Nhạc. Thế thì phải vào Thi Việt đọc bài thơ thôi!...

1.  Và đây là bài thơ có trên Thi Việt:
 

Đừng nhìn em như thế


Đừng nhìn em như thế

Cháy lòng em còn gì

Sự nồng nàn của bể

Cuốn mất hồn em đi

 

Đừng nhìn em như thế

Khắc giờ thành thiên thu

Mắc nợ đời dâu bể

Mắc nợ đời thơ si

 

Em đành làm chim nhỏ

Đứng hót chơi trong chiều

Thả đôi lời hoa cỏ

Cho đời bớt tịch liêu

 

Bởi tình yêu có thật

Vĩnh cửu trong cuộc đời

Bởi ghen tuông có thật

Xuống mồ biết có thôi

 

Đừng nhìn em như thế

Sự dịu dàng nhường kia

Sẽ làm em chết ngạt

Hết một đời thơ si.

 

2.  Tôi đã đọc “Đừng nhìn em như thế” trong xúc cảm ngập tràn... Và,... Rồi tôi bỗng thấy những gì đã được bình phẩm về bài thơ, mà tôi đã đọc được trên Web, khác hẳn với cảm thức của mình. Dưới đây, tôi muốn góp thêm cái thức cảm khác ấy, về bài thơ của “Nhà văn ấn tượng nhất...” Lê Thị Kim dưới tiêu đề: “Đừng nhìn em như thế - Một bức tranh “Trì biệt” duyên tình muôn thuở...”

2.1. Nhưng Trì biệt  là gì?

Trước tiên, ở đây tôi muốn bạn hãy đem từ khóa kia hỏi Google, sẽ biết khái niệm Trì biệt, do Jacques Derrida đề xuất, được hình thành từ sự kết hợp giữa từ difference (nghĩa là sự khác) và deferral (nghĩa là sự trì hoãn) [chữ tiếng Pháp]. Đó là một trong những khái niệm cốt lõi thuộc hệ thống triết học nổi tiếng thế giới hiện đại của triết gia Jacques Derrida ...

2.2.  Và, theo GS.TS Lê Huy Bắc thì, xin trích:

“Trì biệt “nghĩa” trong “chữ” của Derrida đến từ cấu trúc nội tại của nó trong mối tương tác từ vựng của chữ viết trước và sau nó, của những cấu trúc diễn ngôn lộ rõ hay ngầm ẩn, mà nó được đặt vào. Ngoài ra, trì biệt còn là sản phẩm của những tương tác văn hoá. Vấn đề này khá phức tạp, bởi chí ít là có ba lớp văn hoá (hay mã) được lưu giữ trong chữ: ấy là văn hoá của chính chữ đó, văn hoá của người sáng tạo và văn hoá của người tiếp nhận. Vậy nên, chữ là nơi giao nhau của nhiều lớp văn hoá để định hình nghĩa. Trong nhiều trường hợp, chữ được khai sinh cũng nhờ sự trì biệt này”.

(Nguồn: https://daihoctantrao.edu.vn/khoa-hoc-cong-nghe/jacques-derrida-va-tri-biet-ngon-tu-966.html).

3.  Vâng, với tôi, “Đừng nhìn em như thế” là “một bức tranh “Trì biệt” duyên tình muôn thuở...” mà nhà thơ Lê Thị Kim đã khắc họa bằng ngôn ngữ Thơ. Bức tranh ngôn ngữ Thơ ấy đã được tôi cảm nhận với những sắc màu... là như thế này đây:

3.1. Thoạt đầu, “Đừng nhìn em như thế” hiện ra trước mắt tôi là hình ảnh một người con gái đang độ xuân thì. Em ngồi đó, một mình, trong tâm trạng còn chưa hết bàng hoàng... khi vừa bỗng tiếp nhận được cái ánh nhìn “sét đánh” của chàng trai đang yêu... trong cái khoảng khắc gặp gỡ duyên tình “đường xa nghĩ nỗi sau này...” biết có còn gặp lại, như cái nhìn như thế... nữa không? Bởi người thì đã đi... nhưng ánh nhìn kia thì vẫn ghi tạc trong tâm thức em, thiêu đốt lòng em, khiến em miên man, em hoang mang, em tự bủa lưới vây mình trong muôn vàn câu hỏi... không lời đáp...

3.2.  Tôi thấy, “Đừng nhìn em như thế”, đúng là tâm thức của em ở chính cái khoảnh khắc tiếp nhận ánh nhìn kia rồi; nhưng chưa phải đã là lời em thốt ra, mà chỉ là tiếng lòng em vẫn còn giấu kín. “Đừng nhìn em như thế” không phải là lời trách cứ, van xin, mà chỉ là trạng huống hoảng hốt của em trước một điều đang đợi chờ chẳng ngờ đã đến. Để rồi “Đừng nhìn em như thế” trổi dậy biết bao hy vọng, nhập nhòa ánh lửa tình ước nguyện chung đôi. Và, chen lẫn nỗi niềm duyên lành đang đến, là cả dự cảm niềm yêu có phải sự tình biết đâu rồi có thể sẽ chia xa?...

3.3.  Bạn thấy sao? Có phải thế không ư ?

Phải đấy! Bạn hãy đọc “Đừng nhìn em như thế” với tư cách là một câu trong ngữ cảnh của cả văn bản bài Thơ. Cũng chớ cảm nhận “Đừng nhìn em như thế” như một lời nói –  kể cả khi nó là những tiếng câm –  đứng ngoài văn bản. Bạn hãy nhìn để thấy đó là những chữ viết ra để định hình một kết cấu ngôn từ. Chỉ khi đọc với một cảm quan như thế, bạn sẽ thấy sức trì biệt vô tận ngữ nghĩa của cái ánh nhìn yêu đương, như một phúc hạnh tạo hóa đã ban tặng cho con người; sẽ thấy trong chữ có lời, mà không phải chữ chỉ là ký tự của lời như xưa nay người ta vẫn tưởng thế!

3.3.1. Tôi bắt đầu từ chữ “thế” ở cuối câu cảm thán, trong kết cấu nơi đầu đề bài thơ, mà trên kia tôi nhận thấy đó như là tông màu chủ, tạo ra bức tranh với sức trì biệt ngữ nghĩa diệu kỳ của thi phẩm này... Mách bạn ngay, là hãy tìm xem: Từ điển Tiếng Việt 1998, trang 901, mục từ {THẾ}, để xem, khi được dùng ở cuối câu, chữ “thế”  “trợ từ” đã “biểu thị ý ngạc nhiên khi nhận thức ra mức độ cao của một (...) tác động trực tiếp đến mình, hoặc của một trạng thái tình cảm của (chính) bản thân mình”.

3.3.2. Bởi thế, ngay từ đầu, tôi đã nói, “Đừng nhìn em như thế” là cái nhìn “sét đánh” từ phía đối tác, bỗng ánh lên trong chỉ một khoảnh khắc; nhưng thực thì ngọn lửa chung tình kia đã âm ỉ từ lâu, để giờ mới đến, như một định mệnh, của phút cơ duyên định quyết này. Chưa hết, chữ “thế”  “trợ từ” đứng cuối câu cảm thán, kết hợp với “như”, một “kết từ”, đã chỉ ra mức độ rất cao của quan hệ tương đồng. Và, khi cùng nhau tạo nên kết cấu “như thế”, nó cho ta thức nhận rằng, ánh nhìn với cường lực “tia chớp” ấy, quyết không thể là một ngẫu hứng, hay vô duyên bất chợt.

3.3.3.  Hai chữ “như thế” , đến lượt nó lại tạo thêm sức trì biệt ánh nhìn, để nói với ta rằng ngọn lửa tình anh –  em đã nhóm từ lâu. Ánh nhìn “như thế”, sở dĩ xuất hiện, chính bởi nó vừa bị một tác nhân nào đó kích hoạt, nhưng ánh nhìn rõ ràng là một nhân tố được sinh ra từ độ chín của cả một quá trình. “Như thế”..., vậy là đã thông điệp sức mong đợi đã đến từ mong đợi; là ánh nhìn phát ra từ chờ đợi, đã được tiếp nhận bằng tất cả đợi chờ. Cái nhìn, với ánh nhìn “tia chớp” đã “kích hoạt” miền ý thức yêu đương, như mây đã tích tụ, như sấm chớp sẽ nổ ra, như là... một tất nhiên phải đến!...

3.3.4.  Giờ đến “nhìn” – “động từ” chính của câu thơ đầu đề, được buộc phải đứng sau “phụ từ” “đừng” làm nên kết cấu “đừng nhìn”, khiến ánh lửa tình trì biệt cháy suốt thi phẩm. Bởi “đừng nhìn” nổi lên đối tượng là “em”, nhưng cái đích của sự nhìn, chìm dưới ánh nhìn, lại là “như thế”, mà không phải là “em”. “Như thế” trong kết cấu câu thơ bỗng tạo sinh nghĩa mới, là ý niệm mà không phải là khái niệm, như một kết quả về đối tượng. Ý niệm đó là một cái vô cùng, tùy vào tâm trạng, hoặc tùy vào linh cảm mách bảo, mà thả sức định biệt, thế thôi. “Nhìn” mà, nhất lại là ánh nhìn chói sáng ngọn lửa tình, chứ không phải là cái nhìn của một sự quan sát thị giác để nhận biết đối tượng... là như thế đấy!...  

4.  Và bạn thấy đấy, ánh nhìn cứ thế rực lên sức sáng lớp lớp xung động sóng trào!

4.1.  Lớp sóng xung động “Như thế” đầu tiên là sức cháy có thể thiêu đốt “lòng em”, đẩy đến bước sóng tiếp theo là “Sự nồng nàn...”, nhưng là “nồng nàn của bể” lớn, trì biệt nhịp điệu và cường độ, trào lên rồi dội xuống... tưởng có thể “Cuốn mất hồn em”. 

4.2.  Ánh nhìn tạo lớp sóng sáng “như thế” thứ hai, tưởng chỉ “khắc giờ”, nhưng là “thiên thu”, nhưng là “dâu bể”, “thơ si” thiên di muôn mãi một tình yêu, như “nợ đời” nhận – chia của kiếp sống con người, trong tình yêu thương bất diệt...

4.3.  Rồi vô thường trở lại, con “chim nhỏ” lơ đãng “hót chơi”, buông vào chiều những lời “hoa cỏ”. Bởi có thật, là tình yêu vẫn “như thế”  tồn sinh, ngọt bùi, cay đắng, trách cứ, hờn ghen... Tình ta đó anh, sẽ trải hết, thấu hết, biết hết...

4.4.  “Bởi tình yêu có thật/ Vĩnh cửu trong cuộc đời/ Bởi ghen tuông có thật/ xuống mồ biết có thôi”. Là không thôi được đâu anh! Bởi tình yêu là trải nghiệm những cung bậc xuân thì, khởi thủy – chung cuộc... hạnh phúc nào ai biết trước...

4.5.  “Đừng nhìn em như thế” rốt rồi cũng đã trở lại – một trì biệt ngữ nghĩa sau cuối:

“Đừng nhìn em như thế

Sự dịu dàng nhường kia

Sẽ làm em chết ngạt

Hết một đời thơ si.”  

Và tôi biết, tôi tin “Sự dịu dàng nhường kia”, sẽ đưa cuộc tình “tia chớp” đi “Hết một đời thơ si” ...

5. tóm lại: “Đừng nhìn em như thế” là câu chuyện về cái khoảnh khắc ánh nhìn bừng sáng một tình yêu đẹp! Nhịp điệu đồng dao xưa thật đắc dụng dưới bàn tay khắc họa tài hoa của thi sỹ – họa sỹ Lê Thị Kim. Tôi không ngạc nhiên khi đã có đến bốn nhạc sỹ lấy bài thơ của bà làm lời cho nhạc khúc tình ca của mình. Để gần nửa thế kỷ qua, cả thơ và nhạc vẫn giữ được tình yêu của công chúng. Lê Thị Kim thật xứng danh nữ  “Nhà văn ấn tượng” của Thành phố Hồ Chí Minh, vừa được Hội Nhà văn Việt Nam vinh danh...


Bài rút từ tập "Thơ như tôi hiểu...", sắp xuất bản:


Bìa: Nguyễn Bấc

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm