TIN TỨC

Giả dụ - góc khuất của người đàn bà yêu

Người đăng : vanchuong
Ngày đăng: 2021-10-26 11:49:51
mail facebook google pos stwis
2314 lượt xem

Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà thơ Nhật Quỳnh là hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh. Chị tốt nghiệp Đại học Sư phạm khoa Tiếng Nga đúng thời điểm Liên-xô tan rã nên đã không có nhiều cơ hội theo nghề giáo. Dù bận rộn với công việc kinh doanh, chị vẫn dành thời gian cho thơ và đặc biệt có giọng ngâm thơ rất hay, giàu cảm xúc. Nhật Quỳnh viết không ít, nhưng chỉ mới cho xuất bản hai tập thơ: Thế giới của em (2004), Giả dụ (2012).

Trong cơn đại dịch covid-19, nhà thơ Nhật Quỳnh không may bị nhiễm coronavirus và phải vào bệnh viện chữa trị gần một tháng nay. Ngày hôm qua, 25/10/21, chị vừa báo cho chúng tôi biết tin mừng: chị đã được xuất viện! Xin chân thành chúc mừng chị đã chiến thắng covid để trở về với cuộc sống của người kinh doanh kiêm nhà thơ!

Nếu biết rằng, Nhật Quỳnh là tác giả của chùm 2 bài thơ được chọn vào Vòng chung khảo cuộc thi “Nhân nghĩa đất phương Nam” (với bút danh Yên Khang), bạn đọc hẳn sẽ mừng cho chị nhiều hơn. Và, nếu như chùm thơ của Nhật Quỳnh – Yên Khang được trao giải thì niềm vui sẽ tăng lên gấp bội! Chúng ta cùng mong cho Nhật Quỳnh may mắn!

Sau bài viết của nhà báo Bảo Trung, chúng tôi tiếp tục giới thiệu dưới đây bài viết của Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh về tập thơ thứ hai của Nhật Quỳnh.

NGUYỄN VŨ QUỲNH

Vừa rồi Nhật Quỳnh có tặng tôi tập thơ Giả dụ đang thơm mùi mực. Tôi ngắm nghía Giả dụ và mở ra đọc liền một mạch như uống cạn từng hơi, trong mạch nguồn Giả dụ. Cũng xin nói thêm rằng, lâu nay tôi ít khi đọc thơ ai hết cả một tập từ đầu đến cuối, nếu như liếc qua vài ba trang chưa thấy bài nào ưng ý thì tự dung thôi, nhưng trong Giả dụ, từ câu chữ, ngôn ngữ, hình tượng, chất thơ, đến thể loại cứ cuốn tôi đọc tới bài cuối cùng. Đọc xong Giả dụ rồi, tôi thấy không thể không viết đôi dòng suy tư về tập thơ này, vì tác phẩm đáng trân trọng. Giả dụ là bày tỏ nỗi lòng, nơi góc khuất của người đàn bà thơ, vì thơ thật là thơ. Tất cả vì tình yêu:

Ơi tình yêu như rơm rạ

Sưởi ấm mà cũng làm rát bỏng đời nhau.

(Sợ).

Yêu đến cháy lòng, yêu mãnh liệt, yêu vô tư và vị tha. Giả dụ tác giả viết về thân phận mình, khóc vì tình duyên trong hoàn cảnh chia ly. Sưởi ấm mà cũng làm rát bỏng đời nhau. Từ ấm cúng đấy mà cũng trở thành rát bỏng. Bằng ngôn ngữ thấm đẫm yêu thương nhưng sự trớ trêu lại đến. Với lối viết sâu sắc về nội tâm, không lộng ngôn, không ngoa ngữ mà da diết, day dứt. Tác giả ghìm nước mắt lận vào trong để người đọc rung động, cảm nhận, chia sẻ lắng đọng mà không rơi lệ:

Nơi tôi ở cũng phía ngày nắng tắt

nhưng nỗi buồn không thổi được lên cao

tôi thảng thốt nhận ra mình giông bão

trước những triền sông

chảy ngược lũ điên cuồng

(Cũng phía ngày nắng tắt)

Tác giả biết chắt chiu lựa chọn ngôn từ, kéo thể thơ lục bát về với người đọc, bằng sự rung cảm, đau đáu của lời ru. Với thể loại thơ tự do, Nhật Quỳnh dùng ngôn ngữ mới, thi tứ đẹp của thơ ca đương đại nhưng không lẫn vào mô típ cũ của ai cả. Cách viết trong Giả dụ hấp dẫn, không khoe chữ nhưng giàu hình tượng, để câu thơ thoát ra khỏi biển tình mặn chát đầy sóng gió:

Anh là người đàn ông

em khát khao mơ ước có trong đời

nên đã liều mình đánh cắp

mà vẫn trắng tay

thua thiệt phút vui buồn

(Đánh cắp)

Đánh cắp được rồi mà vẫn trắng tay. Trắng tay cái gì đây? Đó là tình yêu, hạnh phúc. Và cũng chính trong cái nỗi mất mát ấy nhà thơ đã tự mình vượt lên cái ái oan bi đát :

Em tự thăng hoa thành cơn mưa

đổ vào anh dửng dưng lòng đất

(Bởi)

Tác giả tự thăng hoa bằng cơn mưa nước mắt, cơn mưa của những giọt buồn trong vị nhân sinh, để rồi:

Em lại về bên anh

khi những giấc mơ tìm về đêm trú ẩn

ngày trôi qua, em gom lại phía mình

Lời thơ với những ngôn từ đẹp, giàu nhân ảnh ấy. Khi những giấc mơ tìm về đêm trú ẩn. Chia xa rồi nhưng vẫn còn lại giấc mơ tạo nên cảm xúc lạ lùng mà lãng mạn sâu lắng, gom cái bất hạnh ấy về lại phía mình. Phải chăng phụ nữ nhân hậu là vậy.

Khi buổi chiều loang vào cơn mưa ồn ã

giọt cà phê buồn sóng sánh

uống vào tan đắng đời nhau

(Cám ơn)

Đắng đót đến như vậy nhưng lại làm tan đắng đời nhau, rồi lại lầm lũi đi tìm cái lạc lõng đã mất:

Người đàn bà đi tìm lửa

đốt đến tàn tro khát vọng đời mình

phút lạc lòng đôi khi quên cầm giữ

ám ảnh nỗi buồn

hoảng loạn cơn mê

(Lạc lòng)

Hạnh phúc của mọi người không biết thế nào, với ai đó trong thơ họ viết về tình yêu không có buồn đau để đầy đọa. Song trong thơ Nhật Quỳnh, buồn đau đầy ắp nhưng vị tha, có sẵn sự mong manh dễ vỡ bởi sự đời:

Biết giờ anh đã quên rồi

tin không nhắn cũng chẳng ngồi nhớ em

một người nhớ một người quên

vậy là em phải đốt đèn tìm em

(Tìm)

Và có lúc tưởng chừng trời đất như sụp đổ, bước chân của người bại trận trong suy tư ủ dột hoang mang đến tận cùng trong vô vọng. Cái mất của tình yêu, cái mất của hạnh phúc đày đọa tâm can, đè nặng đôi vai gầy gò ở chặng đường đầu ấy.

Em giờ chẳng thể yêu ai

chữ yêu trời đặt mỏi vai em rồi

trắng tay lạc nước cờ đời

cho nên thành kẻ đứng ngoài cuộc chơi

(Thua)

Đọc Giả dụ tôi thấy nhà thơ chắt chiu ngôn từ nhưng không ích kỷ, hà khắc với câu chữ để không hệ lụy cho kẻ đáng ghét ở phía bên kia. Tác giả chỉ trách cho thân phận mình một kiếp đa đoan. Trong Giả dụ hình tượng nghệ thuật phong phú, ngôn ngữ đời thường được thi vị hóa, nâng cao hàm súc, sức lan tòa của từ ngữ. Nhật Quỳnh với lời thơ sâu lắng vượt qua cái bình thường, gieo vào người đọc giọt tình riêng của thi ca, thấm đẫm ngọt bùi cay đắng, khiến người đọc cảm thụ được cái thần của từng bài thơ trong tác phẩm. Qua Giả dụ tôi cũng nhận ra một Nhật Quỳnh giản dị và bình tĩnh đến lạ thường trước nỗi đau của con tim tình ái. Điều đó được tác giả thể hiện:

Trước phiên tòa con cứ ngủ say

bởi giấc ngủ của con

đang có hai bàn tay tìm đến

cùng níu kéo, cùng vỗ về tha thiết

con nhỏ quá làm sao con biết

cha mẹ chia tay là vĩnh viễn

suốt đời này không sum họp đâu con

(Viết cho ngày ly dị)

Và một Nhật Quỳnh vị tha trong hờn giận, lời thơ như một bài hát ru mình, cảnh tỉnh cho cuộc đời bởi trước đấy là một tình yêu đẹp trải lên nỗi đau. Song vẫn đợi:

Anh không về qua ngõ cuối mùa thu

Anh không về nên mùa thu qua ngõ

lời yêu thương theo gió tan nhanh

chỉ đóa cúc còn tin lời hò hẹn

đêm chong đèn ngồi đợi mặt trời lên

anh không về qua ngõ cuối mùa thu

cây cải luống, hết ngồng đứng khóc

đốm nắng vàng mong manh cơn gió bấc

giọt sương ngập ngừng lăn qua kẽ tay

(Anh không về)

Đây là bài thơ gói gém lại Giả dụ trong sự chia ly. Mùa thu, mùa lá rụng, làm tôi nhớ tới bài Thơ tình cuối mùa thu của cố nhà thơ Xuân Quỳnh: “Mùa thu vào hoa cúc / Chỉ còn em và anh / Cùng tình yêu ở lại”. Quả là hạnh phúc đối với Xuân Quỳnh còn Nhật Quỳnh thì: Quên cả mùa thu và quên cả còn em. Một trong những bài thơ hay trong tình cảm người đọc, của làng thơ nước nhà.

Giả dụ một tác phẩm thi ca hay, đẹp, nhân ái, đằm thắm và sâu sắc song đây cũng là nỗi buồn ở cái thời mới là đàn bà thơ. Phải chăng những nỗi buồn giằng xé, va đập của thân phận trong tình yêu, mới làm cho thơ tình hay? Nhưng đừng buồn quá để không đạt được mục đích cuối cùng của văn chương và thi ca là hướng con người đi tới chân trời hạnh phúc. Mong đây cũng chỉ là Giả dụ như cái tên của tác phẩm thơ thôi. Rất trân trọng Giả dụ của nhà thơ Nhật Quỳnh.

N.V.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm