TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Đọc tác phẩm “Biên bản thặng dư” của Phùng Hiệu dưới góc nhìn từ đời thường

Đọc tác phẩm “Biên bản thặng dư” của Phùng Hiệu dưới góc nhìn từ đời thường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-29 16:41:21
mail facebook google pos stwis
984 lượt xem

NGUYÊN BÌNH


Tôi chợt nảy ra ý định viết đôi dòng cảm nhận về tập thơ “Biên bản thặng dư” (BBTD) của nhà thơ Phùng Hiệu (PH) sau khi tham khảo các bài viết của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình tiếng tăm trong cả nước (Nguyễn Quang Thiều, Lê Thiếu Nhơn, Bảo Trung v.v) về BBTD (Nxb HNV 2019). Là một cây bút không chuyên, tôi muốn trình bày cách tiếp cận BBTD dưới dưới góc nhìn từ đời thường.

Nhà thơ Phùng Hiệu và bìa tập thơ "Biên bản thặng dư"

Đại thi hào Gớt nói: “Thế giới rộng lớn, phong phú và cuộc sống đa dạng tới mức sẽ chẳng thiếu gì nguyên cớ để làm thơ. Nhưng tất cả các bài thơ phải được viết ra “vì nguyên cớ” (nhân cơ hội), nghĩa là hiện thực phải tạo ra nguyên cớ, chất liệu để làm việc đó. Cơ hội riêng lẻ trở thành chung và nên thơ bởi vì nó được nhà thơ gia công. Tất cả thơ của tôi đều là những bài thơ “vì nguyên cớ” (nhân cơ hội); chúng được hiện thực thôi thúc và vì thế có cơ sở”.

Tôi nghĩ nhà thơ Phùng Hiệu cũng vậy, anh lăn lộn nhiều trong cuộc mưu sinh, vừa là nhà báo, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, địa ốc và là người làm thơ trong một hiện thực xã hội CÓ VẤN ĐỀ. Vậy nên, chất liệu thi ca ngồn ngộn giữa đời thường, phản ánh ngổn ngang cái hiện thực sáng tối, đậm nhạt để tạo thành vòng xoáy nhận thức và cảm xúc trong tâm hồn nhạy cảm của một công dân có trách nhiệm. Thơ Phùng Hiệu bật ra những vần điệu trầm hùng và chát đắng trong hoàn cảnh như vậy. Trong suốt quá trình nghiền ngẫm tập thơ, trong tôi chợt lóe lên tia chớp: phải phân loại các bài thơ trong BBTD thành những nhóm nội dung, mặc dù sáng tác của anh là một thể thống nhất không nên tách rời. Nhưng không sao, tôi nghĩ một vài lát cắt đôi khi cũng làm rõ hơn những gì mà tác phẩm chứa đựng bên trong.

Nhà thơ Phùng Hiệu tại buổi ra mắt sách.

Tôi tạm xếp chung những bài có dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất Tôi, Ta, ở đó, nhà thơ nhận diện chính mình khi quan sát thế giới hổn tạp của thời đại, bao gồm : 1.Nhấp phím. 2. Ngôn ngữ lên ngôi. 3. Sự thật không thể bị giết chết. 4. Kẻ hở bình minh. 5. Nghịch lí viên gạch. 6. Giấc mơ hiện thực. 7. Sự giao cảm của tưởng thức. 8. Lửa - trên nóc nhà thế giới. 9. Âm vang của câu ca dao. 10. Ném đá. 11. Ngụy tạo. 12. Phía sau bức tường giải tỏa. 13. Sự lãng mạn của cái ác. 14. Nói với ngài. 15. Di Nguyện.

Nhóm thứ hai gồm 16 bài, là quá trình nhận diện hiện thực phủ phàng tạo giá trị thặng dư, bao gồm:1.Quét rác. 2. Tiếng nấc trong khu rừng cao su. 3. Biên bản thặng dư. 4. Cuộc mưu sinh. 5. Dấu chấm. 6. Tết của người công nhân góa phụ. 7. Phía sau ánh đèn lừa dối. 8. Sự mất tích của người công nhân. 9. Sa thải một cơn mơ. 10. Em vẫn lớn lên. 11. Dấu chân Bình Lộc. 12. Đằng sau tờ vé số. 13. Sau lưng tiếng kẻng công trường. 14. Phố ngập. 15. Bước tha phương. 16. Đứt cáp.

Nhóm thứ ba là những khúc thương ca cho đất nước nhược tiểu, bao gồm: 1. Em giữa miền Trung. 2. Bão lòng. 3. Quy hoạch tự do. 4. Nghĩ về quê hương tôi. 5. Tiếng rên gạch cát. 6. Với mẹ. 7. Điểm danh quá khứ. 8. Cánh chim bám biển. 9. Các anh không về mắt đảo rưng rưng. 10. Biên bản chủ quyền.

Mời bạn cùng tôi dạo đọc thơ anh:

1. Nhận diện

“Nhấp phím/ những con chữ nhảy múa trên cánh đồng ngôn ngữ/ cho cảm xúc tuôn, cho lãng mạn trào/ mơ về em/ ta mới biết cuộc đời còn có tình yêu và câu thơ sót lại”. (BBTD, tr 9).

Vâng, cái sót lại sau cùng vẫn là tình yêu và câu thơ, sau bao lần nhà thơ nhấp phím xâm nhập vào mọi ngõ ngách của thế giới đương đại đa chiều hỗn mang, để niềm tin vào cuộc đời trong tâm hồn thi nhân vẫn là giá trị vĩnh hằng, được nhà thơ khẳng định một lần nữa trong bài Ngôn ngữ lên ngôi:

Tôi nghĩ thế giới này có thể mất đi/ Nhưng còn lại vần thơ nhân cách”. (BBTD tr11).

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhận định: “Đây thực sự là một định nghĩa thơ của nhà thơ Phùng Hiệu” (BBTD, tr 6).

Nhà thơ nhận diện sự thật của xã hội đương đại như một tai ương, thế giới mà anh đang sống đầy dẫy dối lừa, công lý bị bóp méo tàn nhẫn:

Tôi đi tìm công lý/ Tin chắc ở phía chân trời có ánh bình minh.” Thế mà, hỡi ôi, nhà thơ lại băt gặp: “Nhưng khi vừa đến chân trời tôi chạm phải bóng đêm”.

Nơi đó, “lương tri lộ diện”, cái lộ diện chắc chắn ko phải là những tia nắng ấm tốt lành, mà chỉ là “hành trình giả tạo”. Khi vấp phải nghịch lý viên gạch, Phùng Hiệu viết:

Khi những viên gạch vỡ ra/ là lúc bức tường bê tông rắn lại” Anh thấy gì?

“Trên công trường quy hoạch tự do/ Những viên gạch tiếp tục vỡ ra, Hành trình chưa khép lại”. BBTD, tr 21)

Hành trình nào? Có phải là hành trình số phận của con người đang chen lấn, ép sát vào nhau giữa những bức tường bê tông tua tủa mọc lên từ “những cánh tay quen thuộc tìm về”? Để rồi, trong anh, đau đáu một giấc mơ, giấc mơ chua chát:

Giấc mơ tôi được làm người/ một con người thật sự tự do” nhưng khốn khổ thay, giấc mơ ấy chỉ “được hình thành trong tiểu thuyết chiêm bao”

Tại sao vậy? đây là câu trả lời, như một lời buộc tội, như một cáo trạng cho các quan tòa:

Bạch ngài/Một khi thế giới vô hình không đủ sức dọa nạt ác nhân/ Thì hữu hình tất nhiên trả giá.” Đó là những “đố kị, tranh giành, đua chen, đốp chát”, khi mà “con người luôn ném đá về nhau”.

Vậy thì, cái gì còn lại, cái gì đáng để tôn vinh, tôi nín thở lắng nghe nhà thơ giải bày:

Hãy trở về với lãng mạn trường thi/ Để một ngày ta nhận thấy, Để một năm ta nhận ra, Sự lãng mạn không mang đến nguy hại cho con người/ Chỉ có thể làm nên tên tuổi.”

Tôi thở phào nhẹ nhỏm, dẫu sao, chúng ta và nhà thơ cũng còn một con đường, một lối đi nhân cách. Xin phép được mượn lời tác giả Bảo Trung trong bài báo “Ánh sáng phía sau dòng lệ” (GDTĐ, tr 26): “Phùng Hiệu tìm đến sự giải thiêng cho những sự thật, lật tẩy để thanh tẩy bao ngụy tín trong cuộc sống đang tăng tốc phi mã trong vòng xoáy của vật chất, của những toan tính thực dụng…”

2. Hiện thực tạo giá trị thặng dư trong BBTD

Mười sáu bài thơ, như là một tập hợp đầy bản lĩnh của nhà thơ, phản ánh hiện thực xã hội Việt đương đại. Xin được trích trong bài tựa của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều :

“Anh đã dối mặt với những bất hạnh và bất công mà không hề sợ hãi và anh đã thi ca hóa được những thô nháp, trần trụi của đời sống. (“Sự thật của nhà thơ” , BBTD, tr 7).

Tôi đồng cảm với tác giả bài viết, và cho rằng, Phùng Hiệu lượm nhặt chất liệu cuôc sống hết sức chọn lọc và tinh tế. Đôi mắt anh bừng sáng để xoáy sâu đến tận cùng khi nhìn về những mảng tối nhạt nhòa của bóng đêm. Những mảnh đời rách bươm, những bàn tay tóe máu nhọc nhằn lao khổ được anh thi ca hóa, không phải để làm nền cho thơ anh khác lạ, hiếm hoi trong trường chữ nghĩa hiên nay, mà chính là cứu cánh cho lương tri hướng về những con người lao động nghèo khổ, những người không hề biết mình đổ mồ hôi và máu xương để cho các thế hệ hôm nay và mai sau lập BBTD, là bản cáo trạng cho xã hội đầy dẫy bất công:

"Chị quét cả đời nhưng rác chảy về đâu? …Đến cuối cuộc đời người ta quét chị ra/ Vì ngỡ rác trong khu nhà ổ chuột! (Quét rác. BBTD, tr 13)

Phùng Hiệu đã nhìn thấu suốt cả cuộc đời chị công nhân quét rác, và nhà thơ cũng cho chúng ta thấy cách đánh giá của anh về những chủ nhân ông của chị, sử dụng chị để tạo ra giá trị thặng dư, đã coi chị là cái gì, sẽ đền ơn đáp nghĩa với chị như thế nào? Không có một tâm hồn mẫn cảm và đầy cảm thông, không cùng sống chết với những con người lam lũ, người ta không thể nào viết lên những câu thơ nhu thế.

Chị bấu vào chỉ số thặng dư/Tờ văn bản được ghi bằng nước mắt/…Anh lê những bước chân về phía công trường/ Lót vào lòng nắm xôi lên giá.”/….Em cầm tuổi mười lăm/ Bước vào nhà máy/…Được cấp bằng “chiến sĩ tăng ca”….Thặng dư/ Thặng dư/Thặng dư./ ..Áp đặt lên những mảnh đời vô sản/ Biên bản ….thặng dư…”

Chúng ta còn có cơ hội thốt lên lời nào nữa? Những câu thơ của nhà thơ Phùng Hiệu đã là cục máu bầm của tình trạng xuất huyết nội, nhà thơ viết bằng chính bàn tay cầm công cụ của những người vô sản hiện đại, có khác gì của các tầng lớp vô sản thế kỉ trước? Vậy thì làm sao? Nói lên cái gì? Lí thuyết nào cứu rỗi cho họ? bàn tay nào nâng họ lên khỏi những vũng sình nhầy nhụa mồ hôi và nước mắt? Thượng tầng xã hội ru ngủ họ những gì? Hay bất công và lợi ích nhóm vẫn là những bàn tay bạo Chúa?

Và đây là thân phận các nàng Kiều thời đại, Phùng Hiệu không lột tả tâm tư nhức nhối của Kiều, nhà thơ thấy các em như là một biểu trưng cho thất nghiệp, cái trinh trắng rủ bỏ nhân cách vì bó tay trước cuộc đời, bởi bàn tay các em nhỏ bé yêu ớt quá, mà thế lực đồng tiền quá là “vĩ đại”, nó ngốn ngấu tất cả:

“Em cầm tấm bằng phổ thông rong ruổi…./ ở đây không nói chuyện học đường…./trong ánh đèn lừa dối/ nhan sắc được phô trương bằng những đường cong thân thể…/ em hiện diện như một nàng tiên chơi trò chuyển nhượng…” (Phía sau ánh đàn lừa dối. BBTD, tr 29.)

Tôi tạm dừng trích dẫn thơ Phùng Hiệu mà xin mượn lời nhà thơ Lê Thiếu Nhơn:

“Đọc tập thơ “Biên bản thặng dư”của Phùng Hiệu, cảm giác nặng lòng khó tránh khỏi. Thế nhưng, qua những câu chua chát lại thấy vẻ đẹp của nước mắt, qua những lời ai oán lại thấy sức mạnh của tình thương….” (Phùng Hiệu - Niềm riêng rét cóng từng ngọn lửa tàn - Lê Thiếu Nhơn, BBTD, tr 85.

3.Thương ca nhuợc tiểu

Mảng cảm xúc dành cho quê hương trong BBTD trầm hùng giai điệu của một bản thương ca, gióng giả lay động trái tim hàng triệu con dân nước Việt:

Thế kỉ trôi qua/ Biển Đông chưa có ngày yên ả/ Năm 1956/ Hoàng sa mất một phần máu thịt/… Năm 1974/ Bảy mươi tư người Việt hy sinh…../ Năm 1988/ Gạc ma hóa thành biển lửa…/ Năm 2013/ Với âm ưu đường lưỡi bò dối trá…/

Hiểm họa xâm lăng từ phương Bắc ngàn đời luôn đe nặng lên đầu dân tộc Việt. Bao nhiêu lần đánh thắng kẻ thù là bấy nhiêu lần cống nạp, các vương triều quật cường Đại Việt xưa đã hiên ngang giữ vững cõi bờ. Nay, ý đồ bá quyền đại Hán lại đang thực hiện âm mưu thôn tính dần dần bờ cõi nước Nam. Đất và biển ngàn năm đang bị đe dọa, chúng đang tràn ngập lãnh thổ:

"Rồi một ngày bô xít Tây Nguyên/…Đất cát kêu gào đau rát giọt tài nguyên. Rồi một ngày chất thải Formosa….Biếtt bao giờ lãnh thổ được bình yên?"

Câu trả lời là đây, nhà thơ đã đến Colin, hòn đảo giữa Trường sa dài rộng hiên ngang:

Mặc cho những họng súng quân thù luôn khát máu/ ….Sáu mươi bốn anh hùng hóa đá giữ biên cương.” (Các anh không về mắt đảo rưng rưng.” (BBTD. Tr 74)

Những ngư dân bám biền cũng trở thành những người hùng giữ nước trong thơ Phùng Hiệu:

“Xác con thuyền chìm dần xuống đáy tự do/ Anh trồi lên bằng tinh thần “chiến binh bám biển”. (Cánh chim bám biển. BBTD. Tr72)

Ngoài ra, nhà thơ còn viết về người mẹ Việt Nam muôn đời lao nhọc nuôi nấng cả dân tộc lớn lên, (Với mẹ, Tr 59) những phút suy tư về thân phận quê hương nhược tiểu, (Nghĩ về quê hương tôi. Tr. 52) những cảm xúc đẹp thăng hoa từ câu ca dao ngàn năm vọng lại… (Âm vang của câu ca dao. TR 44)

Khi mới cầm trên tay và lướt đọc qua, ta những tưởng BBTD là một tập thơ gai góc, khó cảm thấu, khó nhập tâm. Thế nhưng, đi sâu vào những cảm thức mới mẻ trong thơ Phùng Hiệu, ta lại thấy ngời lên cái thiện tâm, vị tha, nhân bản và là tiếng nói của những nhà thơ biết đem thơ đến cho con người bằng tất cả yêu thương và hiến tặng.

Trân trọng giới thiệu BBTD đến với bạn đọc gần xa. Mong đón nhận những tập thơ hay của Phùng Hiệu trong thời gian tới. Chúc nhà thơ tiếp tục thành công trên sự nghiệp văn chương của mình.

Bà Rịa, ngày 27/11/2019
N.B.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm