TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Đọc tác phẩm “Biên bản thặng dư” của Phùng Hiệu dưới góc nhìn từ đời thường

Đọc tác phẩm “Biên bản thặng dư” của Phùng Hiệu dưới góc nhìn từ đời thường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-29 16:41:21
mail facebook google pos stwis
1142 lượt xem

NGUYÊN BÌNH


Tôi chợt nảy ra ý định viết đôi dòng cảm nhận về tập thơ “Biên bản thặng dư” (BBTD) của nhà thơ Phùng Hiệu (PH) sau khi tham khảo các bài viết của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình tiếng tăm trong cả nước (Nguyễn Quang Thiều, Lê Thiếu Nhơn, Bảo Trung v.v) về BBTD (Nxb HNV 2019). Là một cây bút không chuyên, tôi muốn trình bày cách tiếp cận BBTD dưới dưới góc nhìn từ đời thường.

Nhà thơ Phùng Hiệu và bìa tập thơ "Biên bản thặng dư"

Đại thi hào Gớt nói: “Thế giới rộng lớn, phong phú và cuộc sống đa dạng tới mức sẽ chẳng thiếu gì nguyên cớ để làm thơ. Nhưng tất cả các bài thơ phải được viết ra “vì nguyên cớ” (nhân cơ hội), nghĩa là hiện thực phải tạo ra nguyên cớ, chất liệu để làm việc đó. Cơ hội riêng lẻ trở thành chung và nên thơ bởi vì nó được nhà thơ gia công. Tất cả thơ của tôi đều là những bài thơ “vì nguyên cớ” (nhân cơ hội); chúng được hiện thực thôi thúc và vì thế có cơ sở”.

Tôi nghĩ nhà thơ Phùng Hiệu cũng vậy, anh lăn lộn nhiều trong cuộc mưu sinh, vừa là nhà báo, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, địa ốc và là người làm thơ trong một hiện thực xã hội CÓ VẤN ĐỀ. Vậy nên, chất liệu thi ca ngồn ngộn giữa đời thường, phản ánh ngổn ngang cái hiện thực sáng tối, đậm nhạt để tạo thành vòng xoáy nhận thức và cảm xúc trong tâm hồn nhạy cảm của một công dân có trách nhiệm. Thơ Phùng Hiệu bật ra những vần điệu trầm hùng và chát đắng trong hoàn cảnh như vậy. Trong suốt quá trình nghiền ngẫm tập thơ, trong tôi chợt lóe lên tia chớp: phải phân loại các bài thơ trong BBTD thành những nhóm nội dung, mặc dù sáng tác của anh là một thể thống nhất không nên tách rời. Nhưng không sao, tôi nghĩ một vài lát cắt đôi khi cũng làm rõ hơn những gì mà tác phẩm chứa đựng bên trong.

Nhà thơ Phùng Hiệu tại buổi ra mắt sách.

Tôi tạm xếp chung những bài có dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất Tôi, Ta, ở đó, nhà thơ nhận diện chính mình khi quan sát thế giới hổn tạp của thời đại, bao gồm : 1.Nhấp phím. 2. Ngôn ngữ lên ngôi. 3. Sự thật không thể bị giết chết. 4. Kẻ hở bình minh. 5. Nghịch lí viên gạch. 6. Giấc mơ hiện thực. 7. Sự giao cảm của tưởng thức. 8. Lửa - trên nóc nhà thế giới. 9. Âm vang của câu ca dao. 10. Ném đá. 11. Ngụy tạo. 12. Phía sau bức tường giải tỏa. 13. Sự lãng mạn của cái ác. 14. Nói với ngài. 15. Di Nguyện.

Nhóm thứ hai gồm 16 bài, là quá trình nhận diện hiện thực phủ phàng tạo giá trị thặng dư, bao gồm:1.Quét rác. 2. Tiếng nấc trong khu rừng cao su. 3. Biên bản thặng dư. 4. Cuộc mưu sinh. 5. Dấu chấm. 6. Tết của người công nhân góa phụ. 7. Phía sau ánh đèn lừa dối. 8. Sự mất tích của người công nhân. 9. Sa thải một cơn mơ. 10. Em vẫn lớn lên. 11. Dấu chân Bình Lộc. 12. Đằng sau tờ vé số. 13. Sau lưng tiếng kẻng công trường. 14. Phố ngập. 15. Bước tha phương. 16. Đứt cáp.

Nhóm thứ ba là những khúc thương ca cho đất nước nhược tiểu, bao gồm: 1. Em giữa miền Trung. 2. Bão lòng. 3. Quy hoạch tự do. 4. Nghĩ về quê hương tôi. 5. Tiếng rên gạch cát. 6. Với mẹ. 7. Điểm danh quá khứ. 8. Cánh chim bám biển. 9. Các anh không về mắt đảo rưng rưng. 10. Biên bản chủ quyền.

Mời bạn cùng tôi dạo đọc thơ anh:

1. Nhận diện

“Nhấp phím/ những con chữ nhảy múa trên cánh đồng ngôn ngữ/ cho cảm xúc tuôn, cho lãng mạn trào/ mơ về em/ ta mới biết cuộc đời còn có tình yêu và câu thơ sót lại”. (BBTD, tr 9).

Vâng, cái sót lại sau cùng vẫn là tình yêu và câu thơ, sau bao lần nhà thơ nhấp phím xâm nhập vào mọi ngõ ngách của thế giới đương đại đa chiều hỗn mang, để niềm tin vào cuộc đời trong tâm hồn thi nhân vẫn là giá trị vĩnh hằng, được nhà thơ khẳng định một lần nữa trong bài Ngôn ngữ lên ngôi:

Tôi nghĩ thế giới này có thể mất đi/ Nhưng còn lại vần thơ nhân cách”. (BBTD tr11).

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhận định: “Đây thực sự là một định nghĩa thơ của nhà thơ Phùng Hiệu” (BBTD, tr 6).

Nhà thơ nhận diện sự thật của xã hội đương đại như một tai ương, thế giới mà anh đang sống đầy dẫy dối lừa, công lý bị bóp méo tàn nhẫn:

Tôi đi tìm công lý/ Tin chắc ở phía chân trời có ánh bình minh.” Thế mà, hỡi ôi, nhà thơ lại băt gặp: “Nhưng khi vừa đến chân trời tôi chạm phải bóng đêm”.

Nơi đó, “lương tri lộ diện”, cái lộ diện chắc chắn ko phải là những tia nắng ấm tốt lành, mà chỉ là “hành trình giả tạo”. Khi vấp phải nghịch lý viên gạch, Phùng Hiệu viết:

Khi những viên gạch vỡ ra/ là lúc bức tường bê tông rắn lại” Anh thấy gì?

“Trên công trường quy hoạch tự do/ Những viên gạch tiếp tục vỡ ra, Hành trình chưa khép lại”. BBTD, tr 21)

Hành trình nào? Có phải là hành trình số phận của con người đang chen lấn, ép sát vào nhau giữa những bức tường bê tông tua tủa mọc lên từ “những cánh tay quen thuộc tìm về”? Để rồi, trong anh, đau đáu một giấc mơ, giấc mơ chua chát:

Giấc mơ tôi được làm người/ một con người thật sự tự do” nhưng khốn khổ thay, giấc mơ ấy chỉ “được hình thành trong tiểu thuyết chiêm bao”

Tại sao vậy? đây là câu trả lời, như một lời buộc tội, như một cáo trạng cho các quan tòa:

Bạch ngài/Một khi thế giới vô hình không đủ sức dọa nạt ác nhân/ Thì hữu hình tất nhiên trả giá.” Đó là những “đố kị, tranh giành, đua chen, đốp chát”, khi mà “con người luôn ném đá về nhau”.

Vậy thì, cái gì còn lại, cái gì đáng để tôn vinh, tôi nín thở lắng nghe nhà thơ giải bày:

Hãy trở về với lãng mạn trường thi/ Để một ngày ta nhận thấy, Để một năm ta nhận ra, Sự lãng mạn không mang đến nguy hại cho con người/ Chỉ có thể làm nên tên tuổi.”

Tôi thở phào nhẹ nhỏm, dẫu sao, chúng ta và nhà thơ cũng còn một con đường, một lối đi nhân cách. Xin phép được mượn lời tác giả Bảo Trung trong bài báo “Ánh sáng phía sau dòng lệ” (GDTĐ, tr 26): “Phùng Hiệu tìm đến sự giải thiêng cho những sự thật, lật tẩy để thanh tẩy bao ngụy tín trong cuộc sống đang tăng tốc phi mã trong vòng xoáy của vật chất, của những toan tính thực dụng…”

2. Hiện thực tạo giá trị thặng dư trong BBTD

Mười sáu bài thơ, như là một tập hợp đầy bản lĩnh của nhà thơ, phản ánh hiện thực xã hội Việt đương đại. Xin được trích trong bài tựa của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều :

“Anh đã dối mặt với những bất hạnh và bất công mà không hề sợ hãi và anh đã thi ca hóa được những thô nháp, trần trụi của đời sống. (“Sự thật của nhà thơ” , BBTD, tr 7).

Tôi đồng cảm với tác giả bài viết, và cho rằng, Phùng Hiệu lượm nhặt chất liệu cuôc sống hết sức chọn lọc và tinh tế. Đôi mắt anh bừng sáng để xoáy sâu đến tận cùng khi nhìn về những mảng tối nhạt nhòa của bóng đêm. Những mảnh đời rách bươm, những bàn tay tóe máu nhọc nhằn lao khổ được anh thi ca hóa, không phải để làm nền cho thơ anh khác lạ, hiếm hoi trong trường chữ nghĩa hiên nay, mà chính là cứu cánh cho lương tri hướng về những con người lao động nghèo khổ, những người không hề biết mình đổ mồ hôi và máu xương để cho các thế hệ hôm nay và mai sau lập BBTD, là bản cáo trạng cho xã hội đầy dẫy bất công:

"Chị quét cả đời nhưng rác chảy về đâu? …Đến cuối cuộc đời người ta quét chị ra/ Vì ngỡ rác trong khu nhà ổ chuột! (Quét rác. BBTD, tr 13)

Phùng Hiệu đã nhìn thấu suốt cả cuộc đời chị công nhân quét rác, và nhà thơ cũng cho chúng ta thấy cách đánh giá của anh về những chủ nhân ông của chị, sử dụng chị để tạo ra giá trị thặng dư, đã coi chị là cái gì, sẽ đền ơn đáp nghĩa với chị như thế nào? Không có một tâm hồn mẫn cảm và đầy cảm thông, không cùng sống chết với những con người lam lũ, người ta không thể nào viết lên những câu thơ nhu thế.

Chị bấu vào chỉ số thặng dư/Tờ văn bản được ghi bằng nước mắt/…Anh lê những bước chân về phía công trường/ Lót vào lòng nắm xôi lên giá.”/….Em cầm tuổi mười lăm/ Bước vào nhà máy/…Được cấp bằng “chiến sĩ tăng ca”….Thặng dư/ Thặng dư/Thặng dư./ ..Áp đặt lên những mảnh đời vô sản/ Biên bản ….thặng dư…”

Chúng ta còn có cơ hội thốt lên lời nào nữa? Những câu thơ của nhà thơ Phùng Hiệu đã là cục máu bầm của tình trạng xuất huyết nội, nhà thơ viết bằng chính bàn tay cầm công cụ của những người vô sản hiện đại, có khác gì của các tầng lớp vô sản thế kỉ trước? Vậy thì làm sao? Nói lên cái gì? Lí thuyết nào cứu rỗi cho họ? bàn tay nào nâng họ lên khỏi những vũng sình nhầy nhụa mồ hôi và nước mắt? Thượng tầng xã hội ru ngủ họ những gì? Hay bất công và lợi ích nhóm vẫn là những bàn tay bạo Chúa?

Và đây là thân phận các nàng Kiều thời đại, Phùng Hiệu không lột tả tâm tư nhức nhối của Kiều, nhà thơ thấy các em như là một biểu trưng cho thất nghiệp, cái trinh trắng rủ bỏ nhân cách vì bó tay trước cuộc đời, bởi bàn tay các em nhỏ bé yêu ớt quá, mà thế lực đồng tiền quá là “vĩ đại”, nó ngốn ngấu tất cả:

“Em cầm tấm bằng phổ thông rong ruổi…./ ở đây không nói chuyện học đường…./trong ánh đèn lừa dối/ nhan sắc được phô trương bằng những đường cong thân thể…/ em hiện diện như một nàng tiên chơi trò chuyển nhượng…” (Phía sau ánh đàn lừa dối. BBTD, tr 29.)

Tôi tạm dừng trích dẫn thơ Phùng Hiệu mà xin mượn lời nhà thơ Lê Thiếu Nhơn:

“Đọc tập thơ “Biên bản thặng dư”của Phùng Hiệu, cảm giác nặng lòng khó tránh khỏi. Thế nhưng, qua những câu chua chát lại thấy vẻ đẹp của nước mắt, qua những lời ai oán lại thấy sức mạnh của tình thương….” (Phùng Hiệu - Niềm riêng rét cóng từng ngọn lửa tàn - Lê Thiếu Nhơn, BBTD, tr 85.

3.Thương ca nhuợc tiểu

Mảng cảm xúc dành cho quê hương trong BBTD trầm hùng giai điệu của một bản thương ca, gióng giả lay động trái tim hàng triệu con dân nước Việt:

Thế kỉ trôi qua/ Biển Đông chưa có ngày yên ả/ Năm 1956/ Hoàng sa mất một phần máu thịt/… Năm 1974/ Bảy mươi tư người Việt hy sinh…../ Năm 1988/ Gạc ma hóa thành biển lửa…/ Năm 2013/ Với âm ưu đường lưỡi bò dối trá…/

Hiểm họa xâm lăng từ phương Bắc ngàn đời luôn đe nặng lên đầu dân tộc Việt. Bao nhiêu lần đánh thắng kẻ thù là bấy nhiêu lần cống nạp, các vương triều quật cường Đại Việt xưa đã hiên ngang giữ vững cõi bờ. Nay, ý đồ bá quyền đại Hán lại đang thực hiện âm mưu thôn tính dần dần bờ cõi nước Nam. Đất và biển ngàn năm đang bị đe dọa, chúng đang tràn ngập lãnh thổ:

"Rồi một ngày bô xít Tây Nguyên/…Đất cát kêu gào đau rát giọt tài nguyên. Rồi một ngày chất thải Formosa….Biếtt bao giờ lãnh thổ được bình yên?"

Câu trả lời là đây, nhà thơ đã đến Colin, hòn đảo giữa Trường sa dài rộng hiên ngang:

Mặc cho những họng súng quân thù luôn khát máu/ ….Sáu mươi bốn anh hùng hóa đá giữ biên cương.” (Các anh không về mắt đảo rưng rưng.” (BBTD. Tr 74)

Những ngư dân bám biền cũng trở thành những người hùng giữ nước trong thơ Phùng Hiệu:

“Xác con thuyền chìm dần xuống đáy tự do/ Anh trồi lên bằng tinh thần “chiến binh bám biển”. (Cánh chim bám biển. BBTD. Tr72)

Ngoài ra, nhà thơ còn viết về người mẹ Việt Nam muôn đời lao nhọc nuôi nấng cả dân tộc lớn lên, (Với mẹ, Tr 59) những phút suy tư về thân phận quê hương nhược tiểu, (Nghĩ về quê hương tôi. Tr. 52) những cảm xúc đẹp thăng hoa từ câu ca dao ngàn năm vọng lại… (Âm vang của câu ca dao. TR 44)

Khi mới cầm trên tay và lướt đọc qua, ta những tưởng BBTD là một tập thơ gai góc, khó cảm thấu, khó nhập tâm. Thế nhưng, đi sâu vào những cảm thức mới mẻ trong thơ Phùng Hiệu, ta lại thấy ngời lên cái thiện tâm, vị tha, nhân bản và là tiếng nói của những nhà thơ biết đem thơ đến cho con người bằng tất cả yêu thương và hiến tặng.

Trân trọng giới thiệu BBTD đến với bạn đọc gần xa. Mong đón nhận những tập thơ hay của Phùng Hiệu trong thời gian tới. Chúc nhà thơ tiếp tục thành công trên sự nghiệp văn chương của mình.

Bà Rịa, ngày 27/11/2019
N.B.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm