TIN TỨC

Góp mình làm ánh sáng ban mai

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-26 10:39:36
mail facebook google pos stwis
2292 lượt xem

Kỷ niệm 67 năm ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 - 27/2/2022)

NGUYỄN MINH NGỌC

Nhiều năm nay, tôi từng nghe nhiều thầy thuốc từng lăn lộn trong chiến tranh nhắc đến bác sĩ Hàng Nhựt Tâm, đặc biệt là bác sĩ Huỳnh Hòa Thanh (Ba Bé, quê ở Cao Lãnh, Đồng Tháp) cựu chiến sĩ Tiểu đoàn 307 anh hùng. Tập kết ra Bắc, ông học Trường Đại học Y dược khoa Hà Nội (nay là Đại học Y Hà Nội) niên khóa 1960-1965. Tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa ngoại, vừa cưới vợ xong, cuối năm 1965, ông trở lại chiến trường miền Nam và là người có nhiều năm gắn bó với cánh rừng U Minh hạ trong thời kỳ ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Về sau, bác sĩ Thanh là Trung tá, Phó giám đốc Bệnh viện Quân y 121 (1981-1984) Quân khu 9. Cư ngụ tại 387A Nguyễn Trãi (phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1), bác sĩ Huỳnh Hòa Thanh là tác giả cuốn Hồi ký “Một cuộc đời làm nghề thầy thuốc”, Nhà xuất bản QĐND ấn hành năm 2013, tái bản 2014. Đã ngoại bát tuần, từng trải, với bản tính cương trực, thẳng thắn của một người lính, ông nhiều lần khẳng định: “Lịch sử ngành Y tế Việt Nam chưa có một bác sĩ - chiến sĩ nào trên chiến trường hành động anh hùng như Hàng Nhựt Tâm!”.

Đồng niên với bác sĩ Ba Bé, Hàng Nhựt Tâm sinh năm 1937, tại xã Điều Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, có cha và các anh chị em đều tham gia kháng chiến, lên 13 tuổi, anh học trường tiểu học kháng chiến Đồng Tháp Mười cùng Lê Minh Trí (sau là Phó giám đốc Sở Y tế tỉnh Tiền Giang). Từ cuối năm 1954, Tâm và bạn Trí là học sinh miền Nam ở trường Thống Nhất I, Thanh Hóa. Tại đây, anh được kết nạp Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Năm 1961, anh vào Đại học Y dược khoa Hà Nội, trường học lâu đời nhất do bác sĩ A. Yersin (1863-1943) sáng lập và làm Hiệu trưởng đầu tiên. Một ngôi trường danh tiếng bậc nhất trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam. Trường tọa lạc tại số 13 Lê Thánh Tông, Hà Nội. Bấy giờ, Hàng Nhựt Tâm là bạn cùng lớp với Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Việt Tuyết… Họ được thọ giáo bởi những bậc thầy nổi tiếng, đó là các Giáo sư: Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Trần Hữu Tước…

Năm 1964, trước tình hình và nhiệm vụ mới, Bộ Y tế và Trường Đại học Y khoa Hà Nội đã chọn khoảng 40 sinh viên khóa 1961-1966, tách riêng thành một lớp riêng, không nghỉ hè, nghỉ Tết, tập trung đào tạo một số chuyên khoa sâu theo yêu cầu của chiến trường miền Nam. Tiêu chí tuyển chọn vào lớp “đặc biệt” là những sinh viên quê miền Nam, có sức khỏe, nhiệt tình trở lại chiến trường công tác, tuyệt đối trung thành với cách mạng… Hàng Nhựt Tâm được chọn vào lớp này.

Tốt nghiệp bác sĩ ngoại khoa, Hàng Nhựt Tâm được cử sang Liên Xô tiếp tục con đường học vấn. Thời kỳ này, sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968) ồ ạt đưa quân viễn chinh sang trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, đồng thời liều lĩnh mở rộng chiến tranh phá hoại, đưa không quân đánh phá miền Bắc. Như nhiều bạn bè khác, sống trong cảnh “ngày Bắc, đêm Nam”, bác sĩ Tâm thực sự không còn lòng dạ nào để nghĩ việc học lên nữa. Thêm vào đó, bấy giờ, phong trào “Ba sẵn sàng” đang phát triển sâu rộng ở miền Bắc và được tuổi trẻ, nhất là trí thức và học sinh, sinh viên nhiệt tình hưởng ứng. Điều đó đã khiến anh quyết định không ra nước ngoài mà chọn trở về quê hương đặng góp sức mình, sát cánh cùng đồng bào, đồng chí chiến đấu.

Cuối cùng, Hàng Nhựt Tâm được toại nguyện. Anh cùng các bạn trong lớp “đặc biệt” hăm hở khoác ba lô vượt Trường Sơn về Nam. Trong số 37 bác sĩ lớp Y4C đầu tiên của khóa 1961-1966 đi B thì có tới 21 bác sĩ ngoại khoa. Đây là sự bổ sung đáng kể cho chiến trường miền Nam lúc bấy giờ. Còn những người bạn cùng lớp, lần lượt kẻ trước người sau vào các chiến trường. Cuối năm 1966, bác sĩ Nguyễn Việt Tuyết vào miền Tây Nam Bộ, chị về Ban Dân y Khu 9 cùng với người bạn đời là bác sĩ Huỳnh Hòa Thanh. Sau năm 1975, bác sĩ Việt Tuyết về Trường đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, làm công tác tổ chức cán bộ của Nhà trường.

Ngày 18-12-1967, bác sĩ Đặng Thùy Trâm lên đường vào Trung Trung Bộ. Sau ba tháng hành quân, chị tới Quảng Ngãi và được phân công phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ. Đây là một bệnh viện dân y, nhưng chủ yếu điều trị cho thương bệnh binh. Ngày 22-6-1970, trong một chuyến công tác về đồng bằng, bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã anh dũng hy sinh, để lại hai tập nhật ký. Những trang ghi chép của nữ liệt sĩ 27 tuổi đã có một số phận kỳ lạ, được những người lính Mỹ lưu giữ hơn một phần ba thế kỷ và tìm cách chuyển giao lại cho gia đình chị. Nhờ vậy, cuốn sách “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” (Nxb Hội Nhà văn) đã ra mắt bạn đọc với hàng chục vạn bản và trở thành một hiện tượng văn hóa đặc sắc và độc đáo. Đến năm 2006, liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Còn anh bạn Lê Minh Trí đi học y tá, rồi y sĩ, ra trường nhận công tác mãi ở Thái Nguyên. Và anh cũng trở về Nam như bạn mình. Một buổi tối ở căn cứ của tỉnh Bến Tre, khi Trí đương ngồi lui cui soạn bài cho lớp y sĩ đầu tiên của Ban Dân y Khu 8, thì bất ngờ được báo có khách. Đi cùng bác sĩ Trần Hữu Hằng, là một thanh niên tráng kiện, vẻ mặt hiền lành, lưng khoác chiếc bòng, nai nịt gọn gàng, bên hông sề sệ khẩu súng ngắn K54. Nhận ra người bạn thân, Trí nhảy ra ôm choàng lấy Tâm. Thế là sau 12 năm xa cách, họ lại gặp nhau ở chiến trường. Thì ra Hàng Nhựt Tâm được phân công về Ban Dân y Khu 8. Nhưng chưa kịp ấm chỗ thì anh nhận lệnh đi chi viện cho tỉnh Bến Tre. Và họ lại sát cánh bên nhau như thủa cùng chung đèn sách.

Cuối năm 1967, Hàng Nhựt Tâm được điều chuyển về làm Trưởng ban Dân y H10 (tức Trưởng ty Y tế tỉnh Mỹ Tho). Trước lúc chia tay, anh còn kịp tặng quà cho bạn Lê Minh Trí. Đó là bản chép tay bài hát “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” của nhạc sĩ Trần Kiết Tường: “Tôi hát ngàn lời ca nồng nàn hơn nắng ban mai, đẹp tình hơn cánh hoa mai, hùng thiêng hơn núi sông dài, là một niềm tin HỒ CHÍ MINH, HỒ CHÍ MINH đẹp nhất tên Người, là một niềm tin…”. Hai người xiết chặt tay nhau, đâu ngờ ấy là lần cuối cùng.

Trong thời gian công tác tại quê hương Đồng khởi, Hàng Nhựt Tâm đã gặp và yêu một người con gái xứ dừa xinh đẹp. Ấy là chị Huỳnh Thị Lan Anh, con gái má Năm, một bà mẹ chiến sĩ ở xã Hưng Khánh Trung, huyện Mỏ Cày. Và tình cảm đẹp giữa cặp trai tài, gái sắc đã nẩy nở, nồng đượm. Trước khi trở lại Mỹ Tho công tác, hai người đã ước hẹn ngày chiến trường tạm lắng thì chàng bác sĩ sẽ về Bến Tre, thưa chuyện với gia đình nàng, xin kết tóc xe tơ…

Bấy giờ, chiến trường Mỹ Tho nổi tiếng ác liệt. Nơi đứng chân của Ban Dân y H10 nằm cạnh kinh Tây - Nguyễn Văn Tiếp liên tục bị máy bay Mỹ dội bom. Địa hình nơi đây mỏng và trống trơn. Ban đêm, pháo địch từ Bình Đại cứ rót cầm canh xuống căn cứ của ta. Trước khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân mở màn, bác sĩ Hàng Nhựt Tâm tham gia chống càn tại xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho. Ngày 13-12-1967, biệt kích Mỹ cùng lính sư đoàn 7 đổ về càn quét từ kinh Nguyễn Văn Tiếp đến kinh Tây. Một số người rút về Trảng Mù, riêng bác sĩ Tâm vẫn trụ lại dưới hầm bí mật. Tuy nhiên, điều ít ai ngờ là có một kẻ hèn nhát đầu hàng phản bội đã dẫn địch về khui hầm súng của X12, gần kề nơi Hàng Nhựt Tâm đang nấp. Một tiếng nổ lớn khiến đất xung quanh hầm bay tung tóe, làm bung luôn cả nắp hầm bí mật. Phát hiện có người ở dưới hầm, bọn địch liền bắc loa gọi hàng và bu lại tính bắt sống. Trong trường hợp này chỉ có hai cách, một là đầu hàng giặc để giữ mạng sống, hai là nổ súng chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Hàng Nhựt Tâm đã chọn cách thứ hai. Giữa vòng vây dày đặc của kẻ thù, người bác sĩ trẻ, vị Trưởng ty Y tế Mỹ Tho vẫn hiên ngang đáp trả bằng những trái lựu đạn da láng. Anh dùng khẩu K54 bắn hết cả hai băng đạn, diệt 3 tên địch, làm bị thương một số tên khác. Nhưng hàng trăm tên giặc đã khép chặt vòng vây, chúng dùng M79 nã cấp tập vào hầm. Hàng Nhựt Tâm anh dũng hy sinh. Bọn địch tàn ác lôi thi thể tả tơi của anh lên miệng hầm rồi rạch bụng lấy buồng gan và mang đi khoe chiến tích “đây là gan của tên Việt cộng, can đảm chưa từng thấy”.

Khi cô Thu Dung (sau là bác sĩ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang) và chị Năm Đen cùng đồng nghiệp trở lại nơi Hàng Nhựt Tâm hy sinh, bọn địch tàn ác còn gài lựu đạn và mìn ngay dưới thi thể anh. Đồng đội phải vất vả lắm mới lấy được thi hài Hàng Nhựt Tâm đem về an táng tại nghĩa trang xã Mỹ Phước Tây. Thấu hiểu và khâm phục nguyện vọng cháy bỏng của người trí thức trẻ này, cô Thu Dung đã khẩn thiết báo cáo với đồng chí Nguyễn Thanh Hà (Mười Hà) - Bí thư Thành ủy Mỹ Tho lúc bấy giờ, đề nghị kết nạp Hàng Nhựt Tâm vào Đảng. Rất kịp thời, Thành ủy ra quyết định kết nạp đảng viên. Trong buổi lễ truy điệu Trưởng ban Dân y H10, được tổ chức tại Văn phòng Thành ủy Mỹ Tho (đóng ở xã Đạo Thạnh) liệt sĩ Hàng Nhựt Tâm có tên trong hàng ngũ những người cộng sản.

Sau ngày non sông liền một dải, trong tấm bằng “Tổ quốc ghi công” do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký năm 1977, ghi rõ chức vụ của bác sĩ - liệt sĩ Hàng Nhựt Tâm là “Trưởng ty Y tế”. Năm 1986, Hội đồng Nhà nước đã truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho liệt sĩ Hàng Nhựt Tâm. Đến tháng 12-2014, cụ Đoàn Thị Qưới, thân mẫu của anh, được truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Nhiều năm nay, Sở Y tế tỉnh Tiền Giang phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tiền Giang, cùng các sở, ban ngành hữu quan, hoàn tất hồ sơ và thủ tục đề nghị Nhà nước truy phong danh hiệu Anh hùng LLVTND cho liệt sĩ Hàng Nhựt Tâm.

Hơn nửa thế kỷ đã lùi lại phía sau. Những bạn bè cùng khóa bác sĩ (1961-1966) của Trường Đại học Y khoa Hà Nội ngày ấy giờ đã bước qua tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng mỗi lần họp mặt, ai nấy đều bùi ngùi xúc động khi nhắc đến Hàng Nhựt Tâm, Đặng Thùy Trâm cùng hàng chục bạn cùng lớp khác đã hy sinh trên chiến trường. Dâng hiến trọn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, bác sĩ Hàng Nhựt Tâm mãi là tấm gương sáng ngời của một trí thức trẻ dấn thân, “góp mình làm ánh sáng ban mai” (thơ Bùi Minh Quốc).

Họp mặt khóa bác sĩ Đại học Y Hà Nội khóa 1961-1966, bác sĩ Nguyễn Việt Tuyết (hàng đứng) thứ 4 từ trái sang.

Trường Đại học Y khoa Hà Nội

Ảnh chân dung đầu bài: Bác sĩ Hàng Nhựt Tâm (1937-1967).

(Tạp chí Văn Nghệ TP. HCM, số 12/2022)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm