TIN TỨC

“Khúc ru trầm” -Tiếng lòng đồng điệu giữa hồn thơ và giai điệu

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-03-03 10:17:03
mail facebook google pos stwis
2737 lượt xem

                                                                                     Nguyễn Văn Hòa

Hầu như ca từ trong Khúc ru trầm thể hiện đầy đủ mọi cung bậc cảm xúc, bao quát mọi khía cạnh của đời sống bằng sự quan sát tinh tế và thấu đáo của một con người từng trải. 77 ca khúc được phổ từ thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh trong tuyển tập này như bản hòa ca đẹp về thơ, về đời, về người, về tình cảm với quê hương, đất mẹ. Khúc ru trầm đã thêm một minh chứng cho hành trình sáng tạo và lao động nghệ thuật bền bỉ, nghiêm túc của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh. Hơn ai hết chính ông là người hiểu sâu sắc mối quan hệ giữa nhà thơ với thơ, giữa thơ ca và âm nhạc. Đó là nơi trú ngụ, nương thân, tỏa sáng, nâng đỡ nhau và làm đẹp cho nhau.

Tập sách Khúc ru trầm

77 ca khúc phổ thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh bản thân nó đã là những khúc nhạc lòng, du dương trầm bổng. Nhà thơ đã theo sát nhịp đập của cuộc sống để phản ánh thế giới tâm hồn rộng lớn của con người với những biến khúc đa chiều của cái tôi nhiều suy tư, trăn trở; gieo mầm cho những khát khao, hi vọng về cuộc sống và tình yêu. Ở phương diện ngôn từ, thơ Nguyễn Ngọc Hạnh lại chứa đựng khả năng biểu cảm lớn, mang ý nghĩa sâu xa, bởi đó là ngôn từ của cảm xúc, cất lên từ sự thôi thúc của chính trái tim nhạy cảm, yêu thương vô bờ. Thơ anh giàu tính nhạc, thơ đọc lên đã thành những giai điệu đậm chất trữ tình. Đó là lợi thế để thơ Nguyễn Ngọc Hạnh được phổ nhạc nhiều và trở thành những ca khúc hay trong lòng công chúng.

Điều làm nên nét riêng trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, cũng là điểm gây chú ý, tạo nên ấn tượng, sự đồng cảm sâu sắc với độc giả nói chung, các nhạc sĩ nói riêng đó là việc ông xây dựng không - thời gian trong thơ một cách độc đáo. Không gian trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh có thể là bến sông quê, cánh cổng làng, con đường quen thuộc, mái nhà xưa nơi chất chứa nhiều kỷ niệm... cũng có thể là không gian rộng lớn của bao tâm hồn xa cái làng quê nhỏ bé của mình. Song hành với nó là thời gian của quá khứ - hiện tại và cả những dự cảm ở tương lai. Điều đặc biệt, bên cạnh không gian hiện thực ấy, Nguyễn Ngọc Hạnh còn tập trung vào khai thác không gian tâm tưởng. Để rồi hình ảnh nào cũng chất chứa những nỗi niềm, hình ảnh nào dường như cũng có linh hồn riêng ký thác khắc sâu. Vừa thực, vừa ảo, đôi khi chập chờn giữa hai bờ hư thực, khó có thể phân định rạch ròi.  Chính cách xây dựng kiểu không - thời gian như vậy đã làm cho thơ Nguyễn Ngọc Hạnh có sự ám ảnh, gợi đến miền sâu thẳm của thế giới tinh thần. Vì thế, thơ anh có một số lượng bạn đọc lớn, nhất là những người đã từng có nhiều trải nghiệm. Đó cũng là câu trả lời vì sao thơ anh được các nhạc sĩ trong nước và cả những người đang ở hải ngoại tìm đến để phổ thành khúc hát. Có những ca khúc mà các nhạc sĩ đã phổ thơ của anh từ những năm 80 của thế kỉ trước được nhiều người yêu thích. Và trong những năm gần đây, nhiều ca khúc phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh được giới thiệu, được nhắc đến thường xuyên trên các phương tiện truyền thông đại chúng: đài DRT, QRT, VTV1, VTV5, VTV8, VOV, DaNang TV... Điều đáng quý là có những ca khúc phổ từ thơ anh được công chúng yêu thích, giới chuyên môn âm nhạc đánh giá cao và đạt những giải thưởng danh giá của Hội Nhạc sĩ Việt Nam như các bài hát Nhớ mùa hoa ven sông, Làng trong tôi, Đêm xa làng của nhạc sĩ Đình Thậm...

77 ca khúc với những ca từ cất lên đầy nhung nhớ, hiện lên bao hình ảnh thân thương của quê nhà, phố thị, của tình người. Thơ hay, ca từ được gióng lên làm rung động bao nhiêu trái tim khi họ nhận ra trong đó chiều sâu nội cảm: Chỉ mình tôi côi cút phố đêm/ Ngỡ như lạc vào cõi khác/ Ở đây bốn bề dịu ngọt/ Mà bơ vơ từng bước lặng thầm… Rét cuối năm muộn màng ẩm ướt/ Đêm trôi về phía ngày đang mọc/ Tôi trôi theo từng tiếng còi tàu…(Hà Nội phố đêm của Thế Bảo). Nhà thơ ra đi từ làng, về sống nơi phố thị nhưng tình cảm với quê hương, với những điều gắn bó từ làng vẫn vẹn nguyên, vẫn dạt dào, âm ỉ chảy trong huyết mạch. Ở đó, bên cạnh tình cảm dành cho làng nói chung, đứa con xa quê còn dành cho mẹ thứ tình cảm thiêng liêng nhất đó là tình mẫu tử. Với những đứa con hiếu nghĩa, chắc chắn họ sẽ luôn dõi theo và đối xử tử tế với người đã mang nặng đẻ đau để sinh ra chính mình. Những người còn mẹ, những ai mất mẹ, những người mãi mãi không được nhìn thấy mẹ và cả những người dù mẹ còn sống nhưng vẫn không được gần gũi bên mẹ để phụng dưỡng, chăm sóc mẹ cho tròn đạo hiếu đều cảm thấy rưng rưng. Để rồi trên suốt cuộc hành trình làm người ở chốn nhân gian dài rộng, nhiều thăng trầm, biến động này không lúc nào đứa con lại nguôi quên, nhớ thương đến mẹ: Không gọi đò/ Con gọi mẹ ơi/ Sông thì hẹp mà vô bờ đến vậy/ Con đi qua hết một thời trai trẻ/ Từ chiếc đò lòng mẹ qua sông/ Ôi con đò lòng mẹ mênh mông (Qua đò nhớ mẹ). Có phải vì thế mà mỗi lần trở về bên giòng sông ấy lại gợi lên trong lòng nhà thơ bao nuối tiếc: Không còn thì thôi xin đành/ Người ơi tôi cuối hôn mình trên sông (Hôn mình trên sông).

Những bài thơ đầy ắp nỗi niềm thương cảm của nhà thơ đã được gần 40 nhạc sĩ phổ thành 77 ca khúc thật ấn tượng. Có nhiều tên tuổi lớn như nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu với ca khúc Làng; Nguyễn Thụy Kha với ca khúc Quê tôi; Thế Bảo với Hà Nội phố đêm, Nguyễn Cường với Serenade - Thu rơi, Sông chỉ một dòng; Trọng Đài với Phố núi là quê, Biển lặng, Đà Nẵng trên cao, Giấc mơ cỏ xanh, Chợ quê, Nhớ Hội An, Lục bát qua sông, Lời yêu, Tìm lại tuổi thơ…Nhạc sĩ Trọng Lưu với Qua đò nhớ mẹ, Gửi em chỗ ướt mẹ nằm, Thu xa rồi, Cạn cháy cơn mơ, Phạm Đăng Khương với Bến mê, Phố bên sông. Quỳnh Lệ với Tôi bên đời, Thương hoài phố xưa; Nguyễn Đình Thậm với Nhớ mùa hoa ven sông, Làng trong tôi, Đêm xa làng; Nguyễn Vĩnh Tiến của Bà tôi nổi tiếng rất lạ khi phổ bài thơ bài Nhan sắc, Quỳnh Hợp với nhiều ca khúc về quê hương đất Quảng, Trịnh Tuấn Khanh với Ký ức làng quê; Huỳnh Văn Tấn với Phơi cơn mưa lên chiều, Hà Nội và em, Khúc ru trầm, Xanh mãi một dòng sông. Hai anh em nhạc sĩ trẻ tên tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh là Hoài An và Võ Hoài Phúc với nhiều ca khúc tươi mới, giai điệu trẻ trung mang hơi thở hiện đại được nhiều ca sĩ trẻ hiện nay yêu thích. Đặc biệt trong Khúc ru trầm có nhiều các nhạc sĩ Quảng Nam-Đà Nẵng như Nguyễn Duy Khoái, Nam An, Hoàng Bích, Huỳnh Ngọc Hải, Diệp Chí Huy, Đinh Gia Hoà, Nguyễn Đức, Thái Nghĩa, Nguyễn Huy Hùng, Nguyễn Xuân Minh, Trần Ái Nghĩa, Thái Phú, Quang Khánh, Phan Trường Sơn, Nguyễn Đình Thậm,… hầu như mỗi người đều góp phần đưa giai điệu của tâm hồn mình vào hồn thơ Nguyễn Ngọc Hạnh.

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh (thứ hai từ phải sang) cùng các bạn bè văn chương

Có thể nói đây là niềm hạnh phúc lớn của người làm thơ khi thơ mình được bồng bềnh trong từng khúc hát. Đặc biệt, có nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thành nhiều ca khúc từ một bài thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh. Đó là sự gặp nhau bởi những tâm hồn đồng điệu giữa nhà thơ - nhạc sĩ. Nhiều người cho rằng, điều cốt lõi là thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh có sức lan tỏa, nó đã chạm tới tận trong thẳm sâu trái tim của người nghệ sĩ. Từ đó, họ đã tìm thấy chính mình, gặp lại bóng dáng quê hương, bản quán mình từ trong nguồn cội... Trên tất cả đó là tình quê hương, tình làng nghĩa xóm, tình bạn bè và cả những người thân yêu ruột thịt. Làm sao không day dứt xốn xang khi nghe ca khúc “Lạc giữa trời xa”, do nhạc sĩ Đinh Gia Hòa phổ từ bài thơ cùng tên với những giai điệu trữ tình này: “Mình tôi/ lạc giữa trời xa/ Mượn ai đây chút quê nhà nương thân/ Xứ người lạ đến phân vân/ Cả vầng trăng cũng khác vầng trăng quê/ Ở đây biển rộng bốn bề/ Mà sao lòng cứ muốn về sông xưa/ Nơi này kẻ đón người đưa/ Mà sao đất khách vẫn thừa mình ra”..

Nguyễn Ngọc Hạnh đã đẩy sáng tạo nghệ thuật của mình chạm đến cội nguồn văn hóa Việt. Làng quê luôn hiện diện trong tâm thức của mỗi con người, nhất là những người có tuổi thơ gắn bó ở đó, rồi bao nhiêu kỷ niệm với người thân, ông bà, cha mẹ ở làng thuở thiếu thời cũng như khi trưởng thành ở làng hay vì lý do nào đó phải xa quê... Nguyễn Ngọc Hạnh gửi trọn vào đó những nỗi niềm trắc ẩn của lòng mình, đời mình vào mảnh đất quê hương, nơi đã gắn với bao ký ức buồn vui một thuở. Người ta đã tìm thấy trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh có những nỗi niềm giống họ, hoặc gợi ra bao miền hư - thực, sáng - tối chập chờn. Chính tình cảm dạt dào đã trở thành sức mạnh lan tỏa tự bên trong của một hồn thơ và cất lên thành giai điệu...

Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh mang âm hưởng đồng quê sâu lắng, dân dã ngọt ngào khi thể hiện tình yêu tha thiết với quê hương, đất nước, đặc biệt là tình mẫu tử. Tiếng nhạc lòng chân thành ấy trong trẻo, du dương, biểu đạt bao nỗi niềm: nghẹn ngào, ẩn ức, thổn thức sâu xa trong trái tim của chủ thể trữ tình. Cả những bài thơ hay ông viết về những vùng đất đã từng đi qua, từng gắn bó. Tất cả đã trở thành hoài niệm đẹp và đó cũng là tiếng nói tâm cảm có thể chạm đến cõi sâu vô thức của nhiều người. Nơi ấy con người tìm thấy bao điều, như là chốn dung thân, là chỗ dựa tinh thần để họ trở về, họ tìm đến, họ cảm thấy ấm lòng sau những bão giông, bộn bề của cuộc sống.

Khúc ru trầm với sự nâng cánh của giai điệu khúc thức, với tình yêu và sự tri âm của người nhạc sĩ đã góp phần đưa tác phẩm thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh đến gần với công chúng hơn, sống lâu bền trong lòng người hâm mộ.

--------------------

*Khúc ru trầm, 77 ca khúc phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, NXB Hội Nhà văn, 2021

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm