TIN TỨC

Góp... tìm tên cho “Khúc vĩ thanh 109” của Nguyễn Phúc Lộc Thành

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-05 16:59:25
mail facebook google pos stwis
1498 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Cách đây cũng đã hơn sáu năm, một bữa tôi vô tình vào fb của Nguyễn Phúc Lộc Thành và đọc được chia sẻ của nhà thơ như dưới đây.

  • Xin dẫn trích:

“Trưa nay, tôi (Nguyễn Phúc Lộc Thành) vinh dự và rất cảm động vì sự nồng ấm đến từ nhà thơ, hoạ sỹ Nguyễn Quang Thiều - người đã vẽ 18 bức tranh sơn dầu để dùng minh hoạ cho 108 bản thơ lục bát trong 3 tập “Giấc mơ Sông Thương”, “Chiều”, và “Chân quê” của tôi...”

[... Cùng nhà văn Tạ Duy Anh, nhà thơ Trần Hùng “hoạ sỹ tài danh Văn Sáng, người sẽ phụ trách trình bày “Giấc Mơ Sông Thương” (GMST)... đang chuẩn bị xuất bản”... (Xin lược bớt chữ của đoạn này -Lâm)]

“Chúng tôi cùng ăn trưa và bàn bạc, mỗi người “một chân một tay” góp sức để “Giấc Mơ Sông Thương” ra mắt bạn đọc đúng vào ngày 18/08/2018 âm lịch...”

“Tôi định đưa vào in thêm trong tập GMST bản “Khúc Vĩ Thanh 109”, là vĩ thanh của 108 thi phẩm lục bát trong tập GMST sắp xuất bản, nhưng các anh đều khuyên là giữ nguyên con số 108 cho đẹp và có ý nghĩa. Vậy nên, trước khi thay tên mới cho “Khúc Vĩ Thanh 109”, tôi xin đăng lên đây để các anh chị em fb đọc và góp ý, chia sẻ ạ”.

  • Dưới đây là nguyên văn bài thơ trên fb của Nguyễn Phúc lộc thành:

 

KHÚC VĨ THANH 109


1-
Tiễn người.
Một sớm tinh khôi
Mắt hoen hoen lệ,
con ngồi khóc thu

Con từ phố thị ngục tù
Đã nghe ruộng nấc,
đồng tru tiếng hờn

Võng nghèo
hắt hắt từng cơn
Rêu thềm mốc mốc
Rạ rơm ru hời

 

2-
Mẹ gối lên ruộng,
thảnh thơi
Nhìn đòng đòng chết giữa trời thênh thang

Sông Thương
ngầu đục mắt làng
Có đàn nghé đói
khóc khan gọi Người

Một ngày,
nấm đất còn tươi
Bùn chưa kịp lấm môi cười mẹ yêu

Gò chưa mở kịp cửa chiều
Mẹ tôi
lạc giữa tiêu diêu trăm bề

Mẹ nằm,
gối mặt lên quê
Tóc mầm mẹ bạc.
Ngô bề bề non.

Thấy phù sa trắng cát cồn
Giấc phù vân,
mẹ đem chôn xuống chiều


3-
Mẹ ơi,
cùng tận giáo điều
Con rũ sạch một trời điêu,
con về

Mẹ ơi,
đắm ngộ cơn mê
Tha nhân nhem nhẻm lời thề trên môi

Sâu bầy
chồng chất lưng trời
Mẹ cầm nước mắt
dạo chơi cõi trần

Mẹ ơi,
đau đến ngàn lần
Non kia chôn dưới bội phần hoang vu

Tám mươi mùa chết từ từ
Thấy trong sài đẹn,
ngu ngu
mặt người

Mẹ già
vá lại mặt đời
Phía sau đạo đức là ngời ngợi đau

Thấy cơn mửa chết từ lâu
Lẫn trong nghèn nghẹn miếng trầu mẹ ăn

Xác này
bó chiếu nhân gian
Con xin đem cả thiên đàng đi chôn

 

4-
Mẹ nằm
gọi những khóc hờn
Thương đàn nước mắt
trong cơn đoạ đày

Bàn tay
mẹ duỗi chiều nay
Móng còn cáu bẩn
mặt ngày
nhân gian...


26/07/2018
Nguyễn Phúc Lộc Thành

………………….

... Nhà thơ băn khoăn, về Khúc vĩ thanh 109”, định làm Khúc cuối” cho 108 khúc, của toàn tập Giấc mơ Sông Thương” ... giờ Các chức sắc đỉnh” của Hội “khuyên” gác bỏ lại, không để đứng cuối tập thơ nữa... thì đặt tên là gì?

Đúng là để Khúc vĩ thanh 109” đứng riêng ra như một bài thơ, thì cần phải đặt tên riêng, chứ chả nhẽ lại giữ cái phiên hiệu số đã không còn là chức phận của nó nữa?! Nhưng…

Tôi đọc Khúc vĩ thanh 109”… rồi ngay sau đó đi tìm mua thơ Nguyễn Phúc Lộc Thành, những mong xem 108 các “khúc đầu” với khúc mình” kia nó thế nào, mà người ta khuyên tác giả bỏ “khúc đuôi” ra hẳn tập thơ? Nhất là vì sao chính nhà thơ... cũng không nói nên lời... về cái lý do phải cắt để khúc đuôi” riêng ra?...

Đáng tiếc là mãi mới đây, tôi mới tìm được “Giấc mơ sông thương”, “Chiều” và “Chân quê”. Đọc cả ba tập thơ, tôi hiểu “tại sao tác giả lại đã đồng ý bỏ “khúc đuôi” của tập thơ ra, và băn khoăn ngỏ ý tìm tên mới cho nó?”…

  •  

Trở lại Khúc vĩ thanh 109”… Và tôi cảm nhận đó như là một AI ĐIẾU !

Hiển ngôn của Khúc vĩ thanh 109” lần lượt trả lời bốn câu hỏi mà tôi đã tự đặt ra cho mình. Đó là điếu ai? Người ấy từ giã cõi đời thế nào? Vì sao? Và còn để lại gì?...

Đây là đoạn 1”, thoạt nhìn như ba cặp lục bát, đọc với nhịp hai – bốn tiếng một, sẽ cảm nhận ngay nỗi khắc khoải... buồn đau…; nhưng lại được ngắt nhịp, cách dòng thành 11 câu thơ, tạo ra các nhịp 2/4/4/4, 6/4/4 và 2/4/4/4 , với những tiếng lòng, có khi nấc lên, lắp láy biết mấy ẩn ức nỗi niềm; có khi nghẹn xuống thinh không, rồi lại bỗng “tru” réo lên… để rồi lại lịm tắt... trong “ru hời” của “rêu thềm”“rơm rạ”

Khóc ai? Thì hiển ngôn đây : “con ngồi khóc thu” chứ còn ai nữa!?...

Cầm được cái chìa khóa ẨN DỤ “khóc thu” của đoạn 1”, tôi mở được thông điệp của các đoạn 2”, nhất là đoạn 3”, để rồi đi đến đoạn 4” với một cái dấu chấm nhiễu chung cuộc … thật kinh hoàng!...

Và... tôi chợt hiểu ra vì sao  Khúc vĩ thanh 109” này chưa thể đứng cuối, để chuyển tải trọn vẹn thông điệp của “Giấc mơ Sông Thương”; để hoàn thành cái sứ mệnh của tập thơ...

Nên thôi… thì cứ như  ý tôi, Khúc vĩ thanh 109”  hiện tại cũng nên tạm đứng riêng ra với một cái tên mới...

Gọi là KHÓC MẸ… được chăng?...

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm