TIN TỨC

Hoàng Đăng Khoa và nỗi buồn đương đại trong tập thơ mới

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-26 18:17:01
mail facebook google pos stwis
983 lượt xem

                                                                                                     BÙI VĂN KHA   

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Có thể nói, buồn là phẩm chất thuộc tính thương hiệu của thi nhân. Tản Đà từ khoảng 1916 đã viết “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nửa rồi”, 20 năm sau, khoảng 1936, Xuân Diệu “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Cũng khoảng ấy, nhưng trước một hai năm, Thế Lữ cũng “Tiếng đưa hiu hắt bên lòng/ Buồn ơi! xa vắng mênh mông là buồn”. Ngay cả Tố Hữu, cùng thời gian, viết: “Buồn ta là của buồn đời/ Buồn ta không chảy thành đôi lệ hèn/ Buồn ta, ấy lửa đang nhen/ Buồn ta, ấy rượu lên men say nồng”. Đều buồn cả.

 

Tập thơ Không gì thực bằng giấc mơ của tác giả Hoàng Đăng Khoa.

 

Buồn như Hữu Loan màu sim bi thương sắc hoa thành máu tím. Buồn như Trần Dần “Tôi khóc cho những người bay không có chân trời/ Và khóc cho những chân trời không có người bay”.

Dẫn ở trên, cái buồn ấy vẫn là cổ điển hỉ nộ ai ái ố lạc dục. Tôi có đọc nói thương là khi người tuổi hai mươi ngã xuống, chứ cũng khác nhiều với đau, hay xót. Buồn ấy, sau này thành ước lệ, tượng trưng, dramatic.

Kịp đến những năm 20 của thế kỷ 21, 100 năm sau, lại có một sự việc buồn, rất khác, không bàn nêu trạng thái, không chú ý tâm cảnh, không ấn tượng hình ảnh – nhưng đặt vấn đề mỹ cảm. Đó là nỗi buồn Hoàng Đăng Khoa mang tên: Chậm nhanh gì buồn chẳng như nhau

Chúng mình cách ly nhau đã mấy mùa

Đâu phải đợi đến mùa covid

Chúng mình từ lâu tự bịt miệng mình thin thít

Chung ngôn ngữ mà không cùng tiếng nói

Có cất lời mà chẳng nghe được nhau

 

Bẩm sinh niềm đau

Chung thân mang vác

Nhưng niềm đau người khác

Người này không vô can

Bài thơ tràn hàng

Không viết hoa mở đầu

Không chấm cuối

Như buồn tràn tuổi

Như bài kinh từ khởi thuỷ đến tận thế

Chúng sinh vừa ngủ gật vừa tụng

 

Thơ cũng là văn bản nhật dụng

Dẫu là tinh của chữ là hoa của lời là lệ của đời

Như rượu kia

Rỉ ra từ mắt gạo

Để tê ran từng cái uống

 

buồn sẽ theo chúng mình chết xuống

rồi lại phục sinh

lại vừa có nghĩa vừa vô nghĩa như câu kinh

gà vừa ngáp vừa gáy

người vừa quờ tràng hạt vừa lẩm bẩm

 

đang mùa sống chậm

mà chậm nhanh gì buồn chẳng như nhau

Tôi gọi đây là Nỗi buồn Bản thể tân khái niệm. Gọi thế, vì không nên đưa nội dung cắt nghĩa chủ ý, chỉ tràn ngập đối tượng, như tôn giáo, chỉ cần đức tin, còn lời kinh thì cũ đến lẩm bẩm ngủ gật. (Kinh là lời, dù Kinh nào cũng thế!).

Ở bài thơ này, nỗi buồn được khẳng định là vô ngôn tính. Nhưng sâu xa, Hoàng Đăng Khoa trình bày một mỹ cảm mới. Nỗi buồn là một trạng thái tình cảm, là một trong những khái niệm của tâm lý học và mỹ học, gắn với con người, với động vật, thậm chí sinh vật. Đấy là khoa học. Riêng với nghệ thuật, nhất là nhạc – hoạ - thơ thì buồn gắn với giới tự nhiên như là cơ hữu. Nỗi buồn cảm xúc ấy được cụ Nguyễn Du đỉnh cao “Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ”, đến Hoàng Đăng Khoa, đã “cũ mèm” rồi (chữ của Thanh Thảo – Bài ca ống cóng, cũng một ý này). Lời kinh đã cũ, nhưng con người không bỏ được, vẫn “Tay lần tràng hạt, miệng nam mô” – (Nguyễn Bính). Như con gà trống – Đả kê minh, theo bản năng, mà lạ vừa gáy, vừa ngáp, thì cái buồn chán có lẽ đã đến lúc phải “Buồn ơi, chào em ” (Francoise sagan) rồi.

Cấu tứ chủ ý chặt chẽ đến nỗi đây là tuyên ngôn, là chủ đề của tập thơ Không gì thực bằng giấc mơ của Hoàng Đăng Khoa. Tôi suýt bị ông mị hoặc mà cho rằng tên tập thơ là chủ đề tập thơ này, nào biết đâu trình một lối mới về ngôn từ, về mỹ cảm, về chí hướng nâng cao nhưng trở về thơ thuở Đường Tống Nguyễn Du Thơ Mới của thế kỷ 21 mới là đường đi của Hoàng Đăng Khoa. Thơ ông đã khác với thơ thuở 1986 – 2016 biện luận nhân văn. Thơ ông là đương nhiên nhân văn để trình bày bản thể!

Tôi trích nguyên một bài thuộc bài rất hay trong thơ ông, và trong tập này:

Sơn bất linh

Cám ơn người đưa ta đến đây

Và im lặng cùng ta đến cạn ngày

 

Cây mùa trụi lá

Như những bàn tay chới với vẫy cao xanh

Như ta mười ngón trắng

 

Lũ thiêu thân

Quẩy tung cột sáng

Camera một mắt thản nhiên nhìn

Ta ở đấy thiên nhãn còn không thấy

 

Những con chim

bay đêm vào hun hút

bầy đàn mà lầm lũi cui cút

thân xác không mang vác nổi linh hồn

 

Mật Sơn

cà phê thì vẫn đắng

Chí Linh cũng chẳng có gì thiêng

 

bây giờ cuối tháng giêng

chưa kịp chợp mắt sẽ là tháng chạp

nòng nọc bơi quẩn đứt đuôi thành ếch ộp oạp

ngơ ngác một đời gọi mẹ đến tàn hơi

 

núi vời vợi

lên đến đỉnh chạm mênh mông khoảng trống

Đây là cuộc tự vấn giữa tồn tại và ý niệm. Điều này xuyên suốt trong thơ Hoàng Đăng Khoa.

Có lẽ đây là một trong những bài thơ thuộc tốp đầu tuyển chọn của thơ bây giờ, có tầm rất lớn. Ở đây có cả truyền thống nguồn cội, cả phong thần phong thuỷ, cả câu chuyện xã hội, cả khát vọng của một trạng huống ở tầm trên cao. Hy Mã Lạp Sơn của Xuân Diệu : “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”, “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng” của Tố Hữu là nói thời kỳ giai đoạn. Hoàng Đăng Khoa là muốn nói đến vị thế của người Việt Nam bây giờ, cũng có cả cơ hội và thách thức trong đó. Bài thơ này còn có tên khác là Linh Sơn, tác giả đổi lại, chắc tránh trùng tên với Linh Sơn của Cao Hành Kiện. Bài thơ hoàn toàn là địa danh, nhân vật, cảnh tình Việt Nam, gắn với Côn Sơn Chí Linh. Từ một biểu tượng để nâng lên một tư thái biểu tượng nhân sinh, là kéo thế giới cao nhiên: thế giới Mẫu, là Quan Âm Đức Mẹ nhân bản nguyên sinh tiến hoá.

Cách tổ chức nghệ thuật của Hoàng Đăng Khoa cũng rất mới. Thơ ông phi lô gic nhưng không phi lý. Những hình ảnh và nhân vật trong thơ gọn gàng, cô đọng và ngụ ý. Có câu thơ như một bài thơ, ví như “và im lặng cùng ta đến cạn ngày” – (Sơn bất linh), “đêm huyền linh/ một người nằm/hay bóng người từng nằm” – (Thư phòng), “loài người tiến hoá khi tách khỏi đàn bầy/ nhưng chẳng có con người trưởng thành nào là cá thể” - (Cảo thơm), “cây vô ưu/ hàm ơn nở đoá buồn hiu cả đời” – (Thơ khó đặt tên),…

Những bài thơ dạng biện luận cũng rất thú vị, kiểu như cặp hỏi xoáy đáp xoay trên truyền hình VTV1. Đó là các bài Ngẫu vấn, Nơi chùa văn, Hỏi chuyện các loài cây,…

Những từ tả nỗi buồn, cô đơn, trống trãi cũng mang thêm nhiều sắc thái mới vào ký tự. Ta đọc trong Khải thị là lối thơ tượng trưng tỷ dụ những điều tưởng khác biệt, nhưng đặt ở nguồn cội chúng sinh, lại là vạn vật đồng đẳng.

Khải thị

có phải tại con én sổ bẫy hốt hoảng bay về cuối trời

mà mắt ta ngơ ngác một đời hoang vắng

 

có phải tại đồng trưa hang cua con rắn nằm chầu

mà triệu đêm sâu ta rùng mình như giấc trẻ

 

có phải tại con ong cánh lộng vẫn xây tổ miệt mài

mà ta nỗi nhà cứ đầy lên dọc dài phong du hồ hải

 

có phải tại con ếch xanh

                                tự đồng hoá màu u dật trên tàu chuối

mà ta đeo đuổi sự khác biệt khoáng hoạt tự do

 

có phải tại núi đồi mờ tỏ gần xa

mà ta thiết tha những cuộc chạm gặp và phóng vượt

 

hết bài thơ hay là dư ba

hết mình sẽ là mình lạ

 

Ta bắt gặp trong Tháng ba Hà Nội là đầy tâm trạng tự cảm. Đừng bắt mọi người đồng ca tụng ca khi họ riêng tư. (Tôi phải nói rõ ràng để hiểu chỗ cá nhân individual, còn khi bước vào dàn Thánh ca hoặc các bài ca hùng tráng cộng đồng, thì vị trí và vai trò sẽ khác).

Tháng ba Hà Nội

Sấu phố Phan Đình Phùng đầu chụm vào nhau

Tâm bất tương phùng câm lặng niềm riêng đau

 

Hoa xoan đường Hồng Hà phơi hai màu trắng tím

Thuỷ chung đến trống huơ rỗng hoác con tim

 

Cây gạo hồ Gươm mặc cảm lạc chỗ đứng

Lừng khừng lúng túng tứa từng bụm hoa đỏ lựng

 

Hàng sưa đường Cổ Ngư xưa thưa lá

Trắng vun dày lên những tay hoa

 

Những quả dâu tằm phố nhà binh úp chồng trên thúng

Thương tích gì mà toàn thân máu úng

 

Lũ chim công viên Hoà Bình huyên thuyên đấu khẩu

Thi sĩ Pushkin tay bút tay sách độc tấu

 

Tiệm cà phê mở tràn

Không đủ cho thực khách ngồi lê chờ mãn hạn

 

Ai tuyên thệ

Thì mắt cậu tiêu binh buồn vẫn thế

Rời rạc, không có liên hệ biện chứng. Bài thơ luận về một siêu hình ngoại diên của quan hệ sự vật hiện tượng.

Tôi xin kết bài viết này bằng bài thơ Không gì thực bằng giấc mơ. Đây là bài thơ ẩn dụ phản chính (không phải là vè nói ngược dân gian, kiểu “Bao giờ cho đến tháng ba/ Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng”, mà đặt các đoạn luận không logic).

Không gì thực bằng giấc mơ

có mùa không đông vẫn lạnh

có chỗ không góc vẫn khuất

 

cuốn sách bị bỏ quên trên giá

lấm lem mình mẩy đồng trinh

chiếc áo trắng tinh

không người mặc ố nhàu hốc tủ

 

có sông không trôi mà ngủ

có trứng không nở mà ung

có ngôi sao thình lình rụng

có đom đóm thoi thóp thở ánh sao

 

có bảo tàng mở không ai vào

có thư viện giấu tiếng chuông tu viện

có đồng xám én run cầm cập liệng

có lối không bàn chân ngập cỏ may

 

cây ngày mai mọc cuối đêm nay

mầm hạnh phúc bao giờ mới nảy

 

đồi Golgotha còn vương máu Con Đức Chúa Trời

động Thiên Đường lệ đá cô triệu năm chưa ráo

 

trong màn sống hư ảo

không gì thực bằng giấc mơ

 

người tình như bài thơ

đọc một đời không hết

Làm tôi nhớ đến sự tiếp nối kỳ diệu với “Uống xong, lại khát là tình” của Xuân Diệu không phải thời Thơ Mới 1936, mà là thời Tập thể hoá 1960. Tình nó lạ nhưng quen, kết cho hư ảo (thế giới khác, ta chưa trực quan không phải thế giới ảo trong game, chỉ giao nhau một phần). Bài thơ này chỉ là một gợi ý suy tưởng những cái tưởng vậy, nhưng luôn có những triền ngoài, có mặt không thể định lượng, có cái tột cùng của lãng quên, thiên lự.

Cuộc sống là thế, có đơn nhất và phổ biến, có đứng yên và vượt qua. Thơ Hoàng Đăng Khoa giúp ta từ thơ soi lại cái nhìn, để mà tin thơ hơn, để yêu một cây đời tươi xanh không hết!

Hà Nội, tháng 11/2025.

(Đọc: Không gì thực bằng giấc mơ, tập thơ, Nxb Hội Nhà văn, H, 2025)

B.V.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm