TIN TỨC

Hoàng Đăng Khoa và nỗi buồn đương đại trong tập thơ mới

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-26 18:17:01
mail facebook google pos stwis
413 lượt xem

                                                                                                     BÙI VĂN KHA   

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Có thể nói, buồn là phẩm chất thuộc tính thương hiệu của thi nhân. Tản Đà từ khoảng 1916 đã viết “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nửa rồi”, 20 năm sau, khoảng 1936, Xuân Diệu “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Cũng khoảng ấy, nhưng trước một hai năm, Thế Lữ cũng “Tiếng đưa hiu hắt bên lòng/ Buồn ơi! xa vắng mênh mông là buồn”. Ngay cả Tố Hữu, cùng thời gian, viết: “Buồn ta là của buồn đời/ Buồn ta không chảy thành đôi lệ hèn/ Buồn ta, ấy lửa đang nhen/ Buồn ta, ấy rượu lên men say nồng”. Đều buồn cả.

 

Tập thơ Không gì thực bằng giấc mơ của tác giả Hoàng Đăng Khoa.

 

Buồn như Hữu Loan màu sim bi thương sắc hoa thành máu tím. Buồn như Trần Dần “Tôi khóc cho những người bay không có chân trời/ Và khóc cho những chân trời không có người bay”.

Dẫn ở trên, cái buồn ấy vẫn là cổ điển hỉ nộ ai ái ố lạc dục. Tôi có đọc nói thương là khi người tuổi hai mươi ngã xuống, chứ cũng khác nhiều với đau, hay xót. Buồn ấy, sau này thành ước lệ, tượng trưng, dramatic.

Kịp đến những năm 20 của thế kỷ 21, 100 năm sau, lại có một sự việc buồn, rất khác, không bàn nêu trạng thái, không chú ý tâm cảnh, không ấn tượng hình ảnh – nhưng đặt vấn đề mỹ cảm. Đó là nỗi buồn Hoàng Đăng Khoa mang tên: Chậm nhanh gì buồn chẳng như nhau

Chúng mình cách ly nhau đã mấy mùa

Đâu phải đợi đến mùa covid

Chúng mình từ lâu tự bịt miệng mình thin thít

Chung ngôn ngữ mà không cùng tiếng nói

Có cất lời mà chẳng nghe được nhau

 

Bẩm sinh niềm đau

Chung thân mang vác

Nhưng niềm đau người khác

Người này không vô can

Bài thơ tràn hàng

Không viết hoa mở đầu

Không chấm cuối

Như buồn tràn tuổi

Như bài kinh từ khởi thuỷ đến tận thế

Chúng sinh vừa ngủ gật vừa tụng

 

Thơ cũng là văn bản nhật dụng

Dẫu là tinh của chữ là hoa của lời là lệ của đời

Như rượu kia

Rỉ ra từ mắt gạo

Để tê ran từng cái uống

 

buồn sẽ theo chúng mình chết xuống

rồi lại phục sinh

lại vừa có nghĩa vừa vô nghĩa như câu kinh

gà vừa ngáp vừa gáy

người vừa quờ tràng hạt vừa lẩm bẩm

 

đang mùa sống chậm

mà chậm nhanh gì buồn chẳng như nhau

Tôi gọi đây là Nỗi buồn Bản thể tân khái niệm. Gọi thế, vì không nên đưa nội dung cắt nghĩa chủ ý, chỉ tràn ngập đối tượng, như tôn giáo, chỉ cần đức tin, còn lời kinh thì cũ đến lẩm bẩm ngủ gật. (Kinh là lời, dù Kinh nào cũng thế!).

Ở bài thơ này, nỗi buồn được khẳng định là vô ngôn tính. Nhưng sâu xa, Hoàng Đăng Khoa trình bày một mỹ cảm mới. Nỗi buồn là một trạng thái tình cảm, là một trong những khái niệm của tâm lý học và mỹ học, gắn với con người, với động vật, thậm chí sinh vật. Đấy là khoa học. Riêng với nghệ thuật, nhất là nhạc – hoạ - thơ thì buồn gắn với giới tự nhiên như là cơ hữu. Nỗi buồn cảm xúc ấy được cụ Nguyễn Du đỉnh cao “Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ”, đến Hoàng Đăng Khoa, đã “cũ mèm” rồi (chữ của Thanh Thảo – Bài ca ống cóng, cũng một ý này). Lời kinh đã cũ, nhưng con người không bỏ được, vẫn “Tay lần tràng hạt, miệng nam mô” – (Nguyễn Bính). Như con gà trống – Đả kê minh, theo bản năng, mà lạ vừa gáy, vừa ngáp, thì cái buồn chán có lẽ đã đến lúc phải “Buồn ơi, chào em ” (Francoise sagan) rồi.

Cấu tứ chủ ý chặt chẽ đến nỗi đây là tuyên ngôn, là chủ đề của tập thơ Không gì thực bằng giấc mơ của Hoàng Đăng Khoa. Tôi suýt bị ông mị hoặc mà cho rằng tên tập thơ là chủ đề tập thơ này, nào biết đâu trình một lối mới về ngôn từ, về mỹ cảm, về chí hướng nâng cao nhưng trở về thơ thuở Đường Tống Nguyễn Du Thơ Mới của thế kỷ 21 mới là đường đi của Hoàng Đăng Khoa. Thơ ông đã khác với thơ thuở 1986 – 2016 biện luận nhân văn. Thơ ông là đương nhiên nhân văn để trình bày bản thể!

Tôi trích nguyên một bài thuộc bài rất hay trong thơ ông, và trong tập này:

Sơn bất linh

Cám ơn người đưa ta đến đây

Và im lặng cùng ta đến cạn ngày

 

Cây mùa trụi lá

Như những bàn tay chới với vẫy cao xanh

Như ta mười ngón trắng

 

Lũ thiêu thân

Quẩy tung cột sáng

Camera một mắt thản nhiên nhìn

Ta ở đấy thiên nhãn còn không thấy

 

Những con chim

bay đêm vào hun hút

bầy đàn mà lầm lũi cui cút

thân xác không mang vác nổi linh hồn

 

Mật Sơn

cà phê thì vẫn đắng

Chí Linh cũng chẳng có gì thiêng

 

bây giờ cuối tháng giêng

chưa kịp chợp mắt sẽ là tháng chạp

nòng nọc bơi quẩn đứt đuôi thành ếch ộp oạp

ngơ ngác một đời gọi mẹ đến tàn hơi

 

núi vời vợi

lên đến đỉnh chạm mênh mông khoảng trống

Đây là cuộc tự vấn giữa tồn tại và ý niệm. Điều này xuyên suốt trong thơ Hoàng Đăng Khoa.

Có lẽ đây là một trong những bài thơ thuộc tốp đầu tuyển chọn của thơ bây giờ, có tầm rất lớn. Ở đây có cả truyền thống nguồn cội, cả phong thần phong thuỷ, cả câu chuyện xã hội, cả khát vọng của một trạng huống ở tầm trên cao. Hy Mã Lạp Sơn của Xuân Diệu : “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”, “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng” của Tố Hữu là nói thời kỳ giai đoạn. Hoàng Đăng Khoa là muốn nói đến vị thế của người Việt Nam bây giờ, cũng có cả cơ hội và thách thức trong đó. Bài thơ này còn có tên khác là Linh Sơn, tác giả đổi lại, chắc tránh trùng tên với Linh Sơn của Cao Hành Kiện. Bài thơ hoàn toàn là địa danh, nhân vật, cảnh tình Việt Nam, gắn với Côn Sơn Chí Linh. Từ một biểu tượng để nâng lên một tư thái biểu tượng nhân sinh, là kéo thế giới cao nhiên: thế giới Mẫu, là Quan Âm Đức Mẹ nhân bản nguyên sinh tiến hoá.

Cách tổ chức nghệ thuật của Hoàng Đăng Khoa cũng rất mới. Thơ ông phi lô gic nhưng không phi lý. Những hình ảnh và nhân vật trong thơ gọn gàng, cô đọng và ngụ ý. Có câu thơ như một bài thơ, ví như “và im lặng cùng ta đến cạn ngày” – (Sơn bất linh), “đêm huyền linh/ một người nằm/hay bóng người từng nằm” – (Thư phòng), “loài người tiến hoá khi tách khỏi đàn bầy/ nhưng chẳng có con người trưởng thành nào là cá thể” - (Cảo thơm), “cây vô ưu/ hàm ơn nở đoá buồn hiu cả đời” – (Thơ khó đặt tên),…

Những bài thơ dạng biện luận cũng rất thú vị, kiểu như cặp hỏi xoáy đáp xoay trên truyền hình VTV1. Đó là các bài Ngẫu vấn, Nơi chùa văn, Hỏi chuyện các loài cây,…

Những từ tả nỗi buồn, cô đơn, trống trãi cũng mang thêm nhiều sắc thái mới vào ký tự. Ta đọc trong Khải thị là lối thơ tượng trưng tỷ dụ những điều tưởng khác biệt, nhưng đặt ở nguồn cội chúng sinh, lại là vạn vật đồng đẳng.

Khải thị

có phải tại con én sổ bẫy hốt hoảng bay về cuối trời

mà mắt ta ngơ ngác một đời hoang vắng

 

có phải tại đồng trưa hang cua con rắn nằm chầu

mà triệu đêm sâu ta rùng mình như giấc trẻ

 

có phải tại con ong cánh lộng vẫn xây tổ miệt mài

mà ta nỗi nhà cứ đầy lên dọc dài phong du hồ hải

 

có phải tại con ếch xanh

                                tự đồng hoá màu u dật trên tàu chuối

mà ta đeo đuổi sự khác biệt khoáng hoạt tự do

 

có phải tại núi đồi mờ tỏ gần xa

mà ta thiết tha những cuộc chạm gặp và phóng vượt

 

hết bài thơ hay là dư ba

hết mình sẽ là mình lạ

 

Ta bắt gặp trong Tháng ba Hà Nội là đầy tâm trạng tự cảm. Đừng bắt mọi người đồng ca tụng ca khi họ riêng tư. (Tôi phải nói rõ ràng để hiểu chỗ cá nhân individual, còn khi bước vào dàn Thánh ca hoặc các bài ca hùng tráng cộng đồng, thì vị trí và vai trò sẽ khác).

Tháng ba Hà Nội

Sấu phố Phan Đình Phùng đầu chụm vào nhau

Tâm bất tương phùng câm lặng niềm riêng đau

 

Hoa xoan đường Hồng Hà phơi hai màu trắng tím

Thuỷ chung đến trống huơ rỗng hoác con tim

 

Cây gạo hồ Gươm mặc cảm lạc chỗ đứng

Lừng khừng lúng túng tứa từng bụm hoa đỏ lựng

 

Hàng sưa đường Cổ Ngư xưa thưa lá

Trắng vun dày lên những tay hoa

 

Những quả dâu tằm phố nhà binh úp chồng trên thúng

Thương tích gì mà toàn thân máu úng

 

Lũ chim công viên Hoà Bình huyên thuyên đấu khẩu

Thi sĩ Pushkin tay bút tay sách độc tấu

 

Tiệm cà phê mở tràn

Không đủ cho thực khách ngồi lê chờ mãn hạn

 

Ai tuyên thệ

Thì mắt cậu tiêu binh buồn vẫn thế

Rời rạc, không có liên hệ biện chứng. Bài thơ luận về một siêu hình ngoại diên của quan hệ sự vật hiện tượng.

Tôi xin kết bài viết này bằng bài thơ Không gì thực bằng giấc mơ. Đây là bài thơ ẩn dụ phản chính (không phải là vè nói ngược dân gian, kiểu “Bao giờ cho đến tháng ba/ Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng”, mà đặt các đoạn luận không logic).

Không gì thực bằng giấc mơ

có mùa không đông vẫn lạnh

có chỗ không góc vẫn khuất

 

cuốn sách bị bỏ quên trên giá

lấm lem mình mẩy đồng trinh

chiếc áo trắng tinh

không người mặc ố nhàu hốc tủ

 

có sông không trôi mà ngủ

có trứng không nở mà ung

có ngôi sao thình lình rụng

có đom đóm thoi thóp thở ánh sao

 

có bảo tàng mở không ai vào

có thư viện giấu tiếng chuông tu viện

có đồng xám én run cầm cập liệng

có lối không bàn chân ngập cỏ may

 

cây ngày mai mọc cuối đêm nay

mầm hạnh phúc bao giờ mới nảy

 

đồi Golgotha còn vương máu Con Đức Chúa Trời

động Thiên Đường lệ đá cô triệu năm chưa ráo

 

trong màn sống hư ảo

không gì thực bằng giấc mơ

 

người tình như bài thơ

đọc một đời không hết

Làm tôi nhớ đến sự tiếp nối kỳ diệu với “Uống xong, lại khát là tình” của Xuân Diệu không phải thời Thơ Mới 1936, mà là thời Tập thể hoá 1960. Tình nó lạ nhưng quen, kết cho hư ảo (thế giới khác, ta chưa trực quan không phải thế giới ảo trong game, chỉ giao nhau một phần). Bài thơ này chỉ là một gợi ý suy tưởng những cái tưởng vậy, nhưng luôn có những triền ngoài, có mặt không thể định lượng, có cái tột cùng của lãng quên, thiên lự.

Cuộc sống là thế, có đơn nhất và phổ biến, có đứng yên và vượt qua. Thơ Hoàng Đăng Khoa giúp ta từ thơ soi lại cái nhìn, để mà tin thơ hơn, để yêu một cây đời tươi xanh không hết!

Hà Nội, tháng 11/2025.

(Đọc: Không gì thực bằng giấc mơ, tập thơ, Nxb Hội Nhà văn, H, 2025)

B.V.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm