TIN TỨC

Hoàng Đăng Khoa và nỗi buồn đương đại trong tập thơ mới

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-26 18:17:01
mail facebook google pos stwis
1106 lượt xem

                                                                                                     BÙI VĂN KHA   

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Có thể nói, buồn là phẩm chất thuộc tính thương hiệu của thi nhân. Tản Đà từ khoảng 1916 đã viết “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nửa rồi”, 20 năm sau, khoảng 1936, Xuân Diệu “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Cũng khoảng ấy, nhưng trước một hai năm, Thế Lữ cũng “Tiếng đưa hiu hắt bên lòng/ Buồn ơi! xa vắng mênh mông là buồn”. Ngay cả Tố Hữu, cùng thời gian, viết: “Buồn ta là của buồn đời/ Buồn ta không chảy thành đôi lệ hèn/ Buồn ta, ấy lửa đang nhen/ Buồn ta, ấy rượu lên men say nồng”. Đều buồn cả.

 

Tập thơ Không gì thực bằng giấc mơ của tác giả Hoàng Đăng Khoa.

 

Buồn như Hữu Loan màu sim bi thương sắc hoa thành máu tím. Buồn như Trần Dần “Tôi khóc cho những người bay không có chân trời/ Và khóc cho những chân trời không có người bay”.

Dẫn ở trên, cái buồn ấy vẫn là cổ điển hỉ nộ ai ái ố lạc dục. Tôi có đọc nói thương là khi người tuổi hai mươi ngã xuống, chứ cũng khác nhiều với đau, hay xót. Buồn ấy, sau này thành ước lệ, tượng trưng, dramatic.

Kịp đến những năm 20 của thế kỷ 21, 100 năm sau, lại có một sự việc buồn, rất khác, không bàn nêu trạng thái, không chú ý tâm cảnh, không ấn tượng hình ảnh – nhưng đặt vấn đề mỹ cảm. Đó là nỗi buồn Hoàng Đăng Khoa mang tên: Chậm nhanh gì buồn chẳng như nhau

Chúng mình cách ly nhau đã mấy mùa

Đâu phải đợi đến mùa covid

Chúng mình từ lâu tự bịt miệng mình thin thít

Chung ngôn ngữ mà không cùng tiếng nói

Có cất lời mà chẳng nghe được nhau

 

Bẩm sinh niềm đau

Chung thân mang vác

Nhưng niềm đau người khác

Người này không vô can

Bài thơ tràn hàng

Không viết hoa mở đầu

Không chấm cuối

Như buồn tràn tuổi

Như bài kinh từ khởi thuỷ đến tận thế

Chúng sinh vừa ngủ gật vừa tụng

 

Thơ cũng là văn bản nhật dụng

Dẫu là tinh của chữ là hoa của lời là lệ của đời

Như rượu kia

Rỉ ra từ mắt gạo

Để tê ran từng cái uống

 

buồn sẽ theo chúng mình chết xuống

rồi lại phục sinh

lại vừa có nghĩa vừa vô nghĩa như câu kinh

gà vừa ngáp vừa gáy

người vừa quờ tràng hạt vừa lẩm bẩm

 

đang mùa sống chậm

mà chậm nhanh gì buồn chẳng như nhau

Tôi gọi đây là Nỗi buồn Bản thể tân khái niệm. Gọi thế, vì không nên đưa nội dung cắt nghĩa chủ ý, chỉ tràn ngập đối tượng, như tôn giáo, chỉ cần đức tin, còn lời kinh thì cũ đến lẩm bẩm ngủ gật. (Kinh là lời, dù Kinh nào cũng thế!).

Ở bài thơ này, nỗi buồn được khẳng định là vô ngôn tính. Nhưng sâu xa, Hoàng Đăng Khoa trình bày một mỹ cảm mới. Nỗi buồn là một trạng thái tình cảm, là một trong những khái niệm của tâm lý học và mỹ học, gắn với con người, với động vật, thậm chí sinh vật. Đấy là khoa học. Riêng với nghệ thuật, nhất là nhạc – hoạ - thơ thì buồn gắn với giới tự nhiên như là cơ hữu. Nỗi buồn cảm xúc ấy được cụ Nguyễn Du đỉnh cao “Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ”, đến Hoàng Đăng Khoa, đã “cũ mèm” rồi (chữ của Thanh Thảo – Bài ca ống cóng, cũng một ý này). Lời kinh đã cũ, nhưng con người không bỏ được, vẫn “Tay lần tràng hạt, miệng nam mô” – (Nguyễn Bính). Như con gà trống – Đả kê minh, theo bản năng, mà lạ vừa gáy, vừa ngáp, thì cái buồn chán có lẽ đã đến lúc phải “Buồn ơi, chào em ” (Francoise sagan) rồi.

Cấu tứ chủ ý chặt chẽ đến nỗi đây là tuyên ngôn, là chủ đề của tập thơ Không gì thực bằng giấc mơ của Hoàng Đăng Khoa. Tôi suýt bị ông mị hoặc mà cho rằng tên tập thơ là chủ đề tập thơ này, nào biết đâu trình một lối mới về ngôn từ, về mỹ cảm, về chí hướng nâng cao nhưng trở về thơ thuở Đường Tống Nguyễn Du Thơ Mới của thế kỷ 21 mới là đường đi của Hoàng Đăng Khoa. Thơ ông đã khác với thơ thuở 1986 – 2016 biện luận nhân văn. Thơ ông là đương nhiên nhân văn để trình bày bản thể!

Tôi trích nguyên một bài thuộc bài rất hay trong thơ ông, và trong tập này:

Sơn bất linh

Cám ơn người đưa ta đến đây

Và im lặng cùng ta đến cạn ngày

 

Cây mùa trụi lá

Như những bàn tay chới với vẫy cao xanh

Như ta mười ngón trắng

 

Lũ thiêu thân

Quẩy tung cột sáng

Camera một mắt thản nhiên nhìn

Ta ở đấy thiên nhãn còn không thấy

 

Những con chim

bay đêm vào hun hút

bầy đàn mà lầm lũi cui cút

thân xác không mang vác nổi linh hồn

 

Mật Sơn

cà phê thì vẫn đắng

Chí Linh cũng chẳng có gì thiêng

 

bây giờ cuối tháng giêng

chưa kịp chợp mắt sẽ là tháng chạp

nòng nọc bơi quẩn đứt đuôi thành ếch ộp oạp

ngơ ngác một đời gọi mẹ đến tàn hơi

 

núi vời vợi

lên đến đỉnh chạm mênh mông khoảng trống

Đây là cuộc tự vấn giữa tồn tại và ý niệm. Điều này xuyên suốt trong thơ Hoàng Đăng Khoa.

Có lẽ đây là một trong những bài thơ thuộc tốp đầu tuyển chọn của thơ bây giờ, có tầm rất lớn. Ở đây có cả truyền thống nguồn cội, cả phong thần phong thuỷ, cả câu chuyện xã hội, cả khát vọng của một trạng huống ở tầm trên cao. Hy Mã Lạp Sơn của Xuân Diệu : “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”, “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng” của Tố Hữu là nói thời kỳ giai đoạn. Hoàng Đăng Khoa là muốn nói đến vị thế của người Việt Nam bây giờ, cũng có cả cơ hội và thách thức trong đó. Bài thơ này còn có tên khác là Linh Sơn, tác giả đổi lại, chắc tránh trùng tên với Linh Sơn của Cao Hành Kiện. Bài thơ hoàn toàn là địa danh, nhân vật, cảnh tình Việt Nam, gắn với Côn Sơn Chí Linh. Từ một biểu tượng để nâng lên một tư thái biểu tượng nhân sinh, là kéo thế giới cao nhiên: thế giới Mẫu, là Quan Âm Đức Mẹ nhân bản nguyên sinh tiến hoá.

Cách tổ chức nghệ thuật của Hoàng Đăng Khoa cũng rất mới. Thơ ông phi lô gic nhưng không phi lý. Những hình ảnh và nhân vật trong thơ gọn gàng, cô đọng và ngụ ý. Có câu thơ như một bài thơ, ví như “và im lặng cùng ta đến cạn ngày” – (Sơn bất linh), “đêm huyền linh/ một người nằm/hay bóng người từng nằm” – (Thư phòng), “loài người tiến hoá khi tách khỏi đàn bầy/ nhưng chẳng có con người trưởng thành nào là cá thể” - (Cảo thơm), “cây vô ưu/ hàm ơn nở đoá buồn hiu cả đời” – (Thơ khó đặt tên),…

Những bài thơ dạng biện luận cũng rất thú vị, kiểu như cặp hỏi xoáy đáp xoay trên truyền hình VTV1. Đó là các bài Ngẫu vấn, Nơi chùa văn, Hỏi chuyện các loài cây,…

Những từ tả nỗi buồn, cô đơn, trống trãi cũng mang thêm nhiều sắc thái mới vào ký tự. Ta đọc trong Khải thị là lối thơ tượng trưng tỷ dụ những điều tưởng khác biệt, nhưng đặt ở nguồn cội chúng sinh, lại là vạn vật đồng đẳng.

Khải thị

có phải tại con én sổ bẫy hốt hoảng bay về cuối trời

mà mắt ta ngơ ngác một đời hoang vắng

 

có phải tại đồng trưa hang cua con rắn nằm chầu

mà triệu đêm sâu ta rùng mình như giấc trẻ

 

có phải tại con ong cánh lộng vẫn xây tổ miệt mài

mà ta nỗi nhà cứ đầy lên dọc dài phong du hồ hải

 

có phải tại con ếch xanh

                                tự đồng hoá màu u dật trên tàu chuối

mà ta đeo đuổi sự khác biệt khoáng hoạt tự do

 

có phải tại núi đồi mờ tỏ gần xa

mà ta thiết tha những cuộc chạm gặp và phóng vượt

 

hết bài thơ hay là dư ba

hết mình sẽ là mình lạ

 

Ta bắt gặp trong Tháng ba Hà Nội là đầy tâm trạng tự cảm. Đừng bắt mọi người đồng ca tụng ca khi họ riêng tư. (Tôi phải nói rõ ràng để hiểu chỗ cá nhân individual, còn khi bước vào dàn Thánh ca hoặc các bài ca hùng tráng cộng đồng, thì vị trí và vai trò sẽ khác).

Tháng ba Hà Nội

Sấu phố Phan Đình Phùng đầu chụm vào nhau

Tâm bất tương phùng câm lặng niềm riêng đau

 

Hoa xoan đường Hồng Hà phơi hai màu trắng tím

Thuỷ chung đến trống huơ rỗng hoác con tim

 

Cây gạo hồ Gươm mặc cảm lạc chỗ đứng

Lừng khừng lúng túng tứa từng bụm hoa đỏ lựng

 

Hàng sưa đường Cổ Ngư xưa thưa lá

Trắng vun dày lên những tay hoa

 

Những quả dâu tằm phố nhà binh úp chồng trên thúng

Thương tích gì mà toàn thân máu úng

 

Lũ chim công viên Hoà Bình huyên thuyên đấu khẩu

Thi sĩ Pushkin tay bút tay sách độc tấu

 

Tiệm cà phê mở tràn

Không đủ cho thực khách ngồi lê chờ mãn hạn

 

Ai tuyên thệ

Thì mắt cậu tiêu binh buồn vẫn thế

Rời rạc, không có liên hệ biện chứng. Bài thơ luận về một siêu hình ngoại diên của quan hệ sự vật hiện tượng.

Tôi xin kết bài viết này bằng bài thơ Không gì thực bằng giấc mơ. Đây là bài thơ ẩn dụ phản chính (không phải là vè nói ngược dân gian, kiểu “Bao giờ cho đến tháng ba/ Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng”, mà đặt các đoạn luận không logic).

Không gì thực bằng giấc mơ

có mùa không đông vẫn lạnh

có chỗ không góc vẫn khuất

 

cuốn sách bị bỏ quên trên giá

lấm lem mình mẩy đồng trinh

chiếc áo trắng tinh

không người mặc ố nhàu hốc tủ

 

có sông không trôi mà ngủ

có trứng không nở mà ung

có ngôi sao thình lình rụng

có đom đóm thoi thóp thở ánh sao

 

có bảo tàng mở không ai vào

có thư viện giấu tiếng chuông tu viện

có đồng xám én run cầm cập liệng

có lối không bàn chân ngập cỏ may

 

cây ngày mai mọc cuối đêm nay

mầm hạnh phúc bao giờ mới nảy

 

đồi Golgotha còn vương máu Con Đức Chúa Trời

động Thiên Đường lệ đá cô triệu năm chưa ráo

 

trong màn sống hư ảo

không gì thực bằng giấc mơ

 

người tình như bài thơ

đọc một đời không hết

Làm tôi nhớ đến sự tiếp nối kỳ diệu với “Uống xong, lại khát là tình” của Xuân Diệu không phải thời Thơ Mới 1936, mà là thời Tập thể hoá 1960. Tình nó lạ nhưng quen, kết cho hư ảo (thế giới khác, ta chưa trực quan không phải thế giới ảo trong game, chỉ giao nhau một phần). Bài thơ này chỉ là một gợi ý suy tưởng những cái tưởng vậy, nhưng luôn có những triền ngoài, có mặt không thể định lượng, có cái tột cùng của lãng quên, thiên lự.

Cuộc sống là thế, có đơn nhất và phổ biến, có đứng yên và vượt qua. Thơ Hoàng Đăng Khoa giúp ta từ thơ soi lại cái nhìn, để mà tin thơ hơn, để yêu một cây đời tươi xanh không hết!

Hà Nội, tháng 11/2025.

(Đọc: Không gì thực bằng giấc mơ, tập thơ, Nxb Hội Nhà văn, H, 2025)

B.V.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm