TIN TỨC

Hoàng hôn chín – chín mọng yêu thương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-03-11 11:32:21
mail facebook google pos stwis
1813 lượt xem

PHAN NGỌC QUANG

Bên cạnh nhiều tập thơ riêng của từng cá nhân, mấy năm gần đây một số tác giả trong Hội Nhà văn TP.HCM đã cho ra mắt bạn đọc những “đứa con thơ” bằng hình thức mới lạ, gây nhiều sự chú ý; đó là những tác phẩm thơ in chung. Nếu nói không quá thì hầu hết người đi tiên phong trong luồng gió đổi mới này không ai khác mà chính là cánh chị em phụ nữ.

Cách đây mấy năm tôi vinh dự được tác giả tặng tập thơ của 2 tác giả nữ đình đám trong làng văn chương của đất Sài Gòn – Gia Định xưa mang tên Huệ Triệu – Trần Mai Hường. Tập thơ nhỏ nhắn dễ thương và điều quan trọng là ở đây có thêm một bản hòa âm đồng diệu giữa hai tâm hồn thơ của đôi tác giả “song kiếm hợp bích”. Đó cũng là khuôn mặt riêng được tiếp nối phong cách trong tác phẩm thơ Lục bát của ba tác giả nữ Đặng Nguyệt Anh, Huệ Triệu và Trần Mai Hường. Đến đây tập thơ đã có thế đứng vững chãi của kiềng 3 chân mà nữ thi nhân Đặng Nguyệt Anh là người chị cả.

Trên con đường đi tay nắm tay đó, phải nói nữ nhà thơ Trần Mai Hường là người miệt mài nhất. Không ngại lạ quen, không sợ sự so bì, những bài thơ của chị luôn đi tìm người bạn đồng hành tuy có khi không cùng tiếng nói về đề tài nhưng đều có mẫu số chung về giọng điệu và cách mở cánh cửa tâm hồn. Người đi trước mở đường cho thế hệ đi sau, rất vui mừng là trong năm 2023 có thêm 2 nhà thơ nữ khác là Võ Miên Trường và Triệu Kim Loan cho ra đời tác phẩm Hoàng hôn chín cũng bằng lối in chung. Có thể nói đây là 2 gương mặt không hề xa lạ mà còn rất thân quen với anh em trong Hội và bạn yêu thơ vì trước đó 2 chị đã cho ra mắt các tập thơ in riêng của mình. Ở cái tuổi không còn trẻ nữa khi nắng cuộc đời ở lúc xế chiều và vườn nhân thế đã sum suê quả ngọt. Tôi tự hỏi, phải chăng vì lý do đó mà đứa con chung của họ có tên Hoàng hôn chín?  


Các nhà thơ Võ Miên Trường - Triệu Kim Loan và bìa tập thơ in chung.

 Ban đầu cứ nghĩ đây là tên 1 bài thơ trong tập của 2 chị giống như nhiều cuốn sách khác nhưng tôi tìm mãi không có. Phải đến khi dừng tay lại ở trang 68, người đọc mới bắt gặp được bài Ấm áp tuổi hoàng hôn của Triệu Kim Loan. Mượn cảm xúc trong 1 đêm cuối năm mà cụ thể là đêm Noel 24/12, tác giả ngồi đối diện với cuộc đời mình để tự tình khi bóng chiều đang tới: “Chiều loang tím tự tình qua mắt phố/ Giọt mùa đông dan díu nắng Sài thành”. Những hình ảnh “chiều tím, hoàng hôn, gió mùa đông” không còn nằm trong quỹ đạo của thời khắc nữa mà nó đã hóa thân thành cột mốc lớn trong cuộc đời. Hoàng hôn của đất trời có nỗi buồn, hoàng hôn của cuộc đời cũng không ngoại lệ. Nhưng đó là nỗi buồn êm dịu, đẹp đẽ và rất trong sáng của 1 tâm hồn không gợn chút mây đen: “Phố về đêm sao ngọt ngào quá đỗi/ Đôi lứa dập dìu sánh bước bên nhau”. Con người có cái nhìn lạc quan nên mỗi câu thơ cũng có con mắt rõi vào tươi sáng: “Đêm Giáng sinh đan tay mình dạo phố/ Dạ thảnh thơi, ấm áp tuổi hoàng hôn”. Trong câu thơ, hơi ấm neo giữ mãi và đi suốt cuộc đời nên hạnh phúc tràn ngập như cây trái chín mọng giữa vườn thương.

Ở đâu cũng thế, thơ Triệu Kim Loan không đao to búa lớn mà luôn thủ thỉ với những hình ảnh thân thương, trìu mến thả vào tâm hồn người đọc theo từng ngọn gió ngọt ngào vị quê hương, vị cuộc đời dung dị. Đó cũng là ẩn số cảm xúc mà chúng ta có thể giải được hệ phương trình cuộc đời trong bài thơ Ký ức thời gian. Không đi theo thể lục bát hay ngũ ngôn quen thuộc của chị, nên Ký ức thời gian có 1 tiếng nói riêng khó lẫn vào đâu được. 4 khổ thơ là 4 biện pháp so sánh để nói về thời gian. Dù là ngọn gió hay cánh buồm, đoàn tàu chuyển bánh, hạt bụi, tất cả đều làm cho thời gian không hề đứng yên. Đó cũng là tâm trạng khó giãi bày trong sự nuối tiếc, muộn màng khi con người đang đứng bên kia dốc cuộc đời mình. Nhưng không vì thế mà bức tranh thời gian buồn tẻ ảm đạm mà ngược lại rất tươi sáng và đa sắc; tưởng như không bao giờ phai màu để rồi tan biến trong nuối tiếc.

Giọng thơ nữ từ cổ chí kim, hầu hết đều nhẹ nhàng, đằm thắm nhưng không thiếu suy tư, trăn trở. Ở Võ Miên Trường và Triệu Kim Loan cũng thế. Các bài Thầm em, Chợt tôi, Điều em, Giấu lửa tim mình…là những khúc nhạc du dương của nỗi lòng với từng đợt sóng ngầm dưới đáy đại dương nhưng vẫn mềm mại, duyên dáng từng con sóng vỗ trên mặt nước hiền hòa. Hoàng hôn của cuộc đời không chỉ chín trong sắc màu mà còn chín cả trong suy tư và độ lượng.

Nghe nói Võ Miên Trường đã ra được 7 tập thơ trong 10 năm gần đây. Rõ ràng sức viết của chị rất sung mãn. Những điều quan trọng là chất lượng cũng song hành với số lượng. Tôi đã từng tham dự buổi ra mắt Nhặt sợi buồn thêu chữ và Nhánh buồn trổ hoa trong đó đáng chú ý có tập thơ sau của chị được in chung với Trần Mai Hường năm 2019. Dù mặc chiếc áo nào hay đứng ở đâu, thơ Võ Miên Trường luôn tình ý trong từng câu chữ và giàu chất suy tưởng, đa chiều. Ngay từ khi đọc bài thơ thứ nhất và cầm trên tay tập thơ đầu tiên tôi đã có nhận xét đó chạy trong đầu. Thơ chị không hề dễ dãi trong việc dùng từ mà nói cách khác chị đã có những cách viết táo bạo, sáng tạo trong việc tạo ra các cụm từ mới lạ đôi khi làm người đọc sửng sốt nhưng không hề gượng ép hay sáo. Thơ Võ Miên Trường còn nghiêng về chiêm nghiệm, mượn cái cụ thể để nói cái to lớn nhưng lại rất dễ hiểu, có những câu làm cho người khác giật mình. Với phong cách đó thơ chị không cần độ dài nhưng vẫn có chiều sâu, biết bao nhiêu ý tứ nằm trong đôi ba chữ: “Em vừa cạn chén đàn bà/ Thì thầm sóng cuộn lời yêu; Cạn rằm trăng khất thực đau/ Em – bình nguyên phủ nhiệm màu vào xanh” (Đêm huyền vi). Thơ chị thiên về miêu tả nhưng không tả thực mà tả gợi, cái gợi làm nên cánh cửa mở ra chiều suy tư và đôi khi thảng thốt: “Trở mình chạm vào giấc xanh/ Giọt sương vỡ tiếng nghe rằm gọi trăng” (Đêm suông).

Những câu thơ mượn cái cụ thể để nói điều trừu tượng và ngược lại mượn chuyện mơ hồ để vẽ nên điều thiết thực: “Lở - bồi dòng chảy phù vân/ Ta tìm nhau giữa đời ngần ngại mơ” (Một người – một tôi). Phép liên tưởng cũng được nhà thơ nữ họ Võ dùng trong mỗi ý, mỗi tứ thơ: “Em về đóng cửa cài then/ Ru mình ru cả nhân duyên – lặng thầm…” (Ru mình). Phép liên tưởng đó còn tạo ra sự bất ngờ trong cách chuyển ý: “Mời trăng say cạn chén sầu/ Lênh loang em rót đục ngầu cuộc ta”. Có thể nói thơ chị là sự dung hòa giữa cái thực và cái ảo, giữa điều cao xa và bình dị, giữa cái dễ hiểu và khó tìm. Người đọc nhạy cảm với thơ sẽ tìm thấy sự đồng điệu tâm hồn chứ không phải kiểu thi phú nằm trong “nhà kho” theo trường phái siêu thực đến mức gần như đánh đố.

Ở Hoàng hôn chín có 1 đề tài mà chị chú tâm nhiều, rất khác với những tập trước đó là tình cảm gia đình. Những người thân xuất hiện trong thơ chị không còn chung chung mà đó là 1 con người cụ thể: “Mẹ ngồi cong dấu hỏi buồn/ Thương bàn tay mỏi đếm mòn tháng năm” (Nụ cười mẹ đủ xóa phiền muộn con). Chỉ miêu tả đôi bàn tay cũng đã hiện lên nỗi vất vả tảo tần trong cuộc đời thân mẫu. Câu thơ: “Cù lao chín chữ mẹ hiền/ Nụ cười mẹ đủ xóa phiền muộn con” đã đại diện đủ tấm lòng người con đối với đấng sinh thành của toàn bài thơ. Đó là thực tại, là mong ước và cũng là vinh cữu của tình mẫu tử mong được đền đáp, tri ân.

Không hiểu sao ở bài Nhớ cha chị lại viết theo thể thơ văn xuôi? Chắc chắn Võ Miên Trường có dụng ý riêng khi nhắc đến người đàn ông mạnh mẽ, trụ cột trong gia đình. Bài thơ như 1 tác phẩm văn tế thương nhớ vong linh người đã khuất nhưng tràn đầy ký ức thương yêu tình phụ tử.

Võ Miên Trường luôn chăm chút thơ tự khúc, tự sự. Điều này cũng thấy rõ trong Hoàng hôn chín. Bài thơ cho ngày sinh có nhiều câu hay dù đề tài không mới, ngay từ câu tự bạch đầu tiên đã có sự phá cách trong từ vựng: “Vỡ trời rơi xuống một tôi/ Tháng Mười một sóng gọi mời mồng Năm”. Dù nói vòng quanh tuổi đời nhưng rồi đôi chân thơ cũng dừng bước trong ngôi nhà thân yêu của mình với tấm lòng hiếu đễ: “Trăng dậy thì loang tràn tay/ Và lưng mẹ cứ mỗi ngày vồng thêm”. Khúc tâm tình đó cứ nối tiếp từ bài thơ này qua bài thơ khác như con sóng vỗ mãi mà chẳng bao giờ đến tới bờ riêng tây.

Nhờ đi dự Ngày hội thơ Nguyên tiêu năm 2024 mà tôi tình cờ “nhặt” được tập thơ của 2 vị nữ. Đọc thấy hay nên viết vội vài dòng đúng dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3. Như vậy cũng có ý nghĩa chứ. Mong những câu thơ của chị em ta mãi đẹp và luôn tỏa nắng vàng cho cuộc đời dù hạ tàn hay đông muộn.

Quận 7, ngày Quốc tế Phụ nữ 2024,

P.N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm