TIN TỨC

Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-13 10:10:43
mail facebook google pos stwis
464 lượt xem

NGUYỄN THÁI BÌNH

Nhân đọc hồi ký "Những điều còn lại" của Trung tướng Phùng Khắc Đăng

Không gian tĩnh mịch nơi đơn vị khiến tiếng lật giở từng trang sách dường như cũng rõ mồn một. Tôi vừa gấp lại trang cuối cùng của cuốn hồi ký “Những điều còn lại”. Ký ức về buổi sáng vinh dự được gặp, được chính tay Trung tướng Phùng Khắc Đăng, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nguyên Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 1 ký tặng sách vẫn còn nguyên vẹn.

Nhưng cảm giác đọng lại trong tôi lúc này không đơn thuần là niềm vui của một sĩ quan trẻ được nhận quà từ Thủ trưởng mà là sự day dứt, là sự soi chiếu, và trên hết là sự kính trọng đối với một cây đại thụ đã bám rễ sâu vào lòng đất mẹ, trải qua bao bão tố để giữ trọn vẹn hai chữ “Con Người”.

Là một cán bộ làm công tác đối ngoại, cuốn sách này đã dạy cho tôi một bài học về “đối ngoại” và “đối nội” ở tầng bậc sâu sắc nhất: Đó là sự ứng xử giữa người với người, giữa cá nhân với tổ chức, và giữa lương tâm với thời cuộc.

Cuốn hồi ký bắt đầu bằng những lời ru. Tôi đã lặng người đi trước những dòng thơ Thủ trưởng viết về Mẹ.

Biết bao năm tháng nổi chìm

Mẹ tơi tả một cánh chim bộn bề.

Chỉ hai chữ “tơi tả” thôi mà sao nặng trĩu. Hình ảnh người mẹ tần tảo, làm gai, đan vó, chắt chiu nuôi con khôn lớn để rồi tiễn con đi biền biệt, là hình ảnh chung của hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Nhưng cái cách Thủ trưởng nhắc về mẹ, về sự hụt hẫng khi “mẹ đi để lại một bầy con thơ”, khiến tôi nhận ra: Đằng sau tấm quân hàm Trung tướng uy nghiêm kia là một trái tim đa cảm, một tâm hồn được nuôi dưỡng từ mạch nguồn văn hóa truyền thống, từ Truyện Kiều, Tam Quốc mà người mẹ vẫn thường giao đọc. Chính cái gốc văn hóa ấy đã tạo nên một vị tướng vừa sắc sảo, vừa nhân văn sau này.

Nếu Mẹ là nguồn cội của tâm hồn, thì Cha chính là người đặt viên gạch nền móng cho nhân cách. Câu chuyện về chiếc xe ngựa của nhà vua khiến tôi đọc đi đọc lại đến ba lần. Một hành động hiếu nghĩa (mượn xe ngựa của vua về chịu tang mẹ) có thể bị nhìn nhận là “khi quân” nếu bị kẻ gian thêu dệt, nhưng cũng là tận trung tận hiếu nếu gặp bậc minh quân thấu hiểu. Lời dạy “Một việc thôi, người ta có thể suy diễn ra nhiều cách... Vào đời cũng vậy, con nhớ khắc ghi” là một lời cảnh tỉnh cho bất cứ ai. Trong môi trường đối ngoại, ranh giới giữa đúng và sai đôi khi mong manh như sợi chỉ, phụ thuộc vào góc nhìn và bối cảnh. Bài học ấy dạy tôi rằng, nhìn sự vật, hiện tượng không được nhìn hời hợt mà phải thấu suốt bản chất bên trong, phải có cái tâm sáng để không bị nhiễu loạn bởi những lời gièm pha hay xu nịnh.

Tôi ấn tượng mãi với câu dặn dò của người Cha trong bức thư gửi người con trai đang trong chiến trường: “Thắng phía trước, được phía sau. Vàng thau không lẫn lộn”. Giữa chiến trường ác liệt, giữa ranh giới sự sống và cái chết, hay sau này giữa chốn quan trường đầy cám dỗ, cái gì là Vàng, cái gì là Thau? Thời gian và thử thách chính là ngọn lửa để phân kim.

Theo bước chân của người thanh niên Phùng Khắc Đăng từ công trường Suối Hai, nhập ngũ vào tiểu đoàn trinh sát pháo binh, rồi mười năm ròng rã nơi chiến trường khói lửa, tôi thấy hiện lên không phải là một anh hùng “mình đồng da sắt” mà là một con người bằng xương bằng thịt, biết đau, biết thương đồng đội và từng đứng trước cửa tử trong một cơn sốt rét rừng... tất cả hiện lên chân thực, không tô vẽ. Điều khiến tôi nể phục không chỉ là năng lực chỉ huy hay sự sắc sảo trong tư duy lý luận, mà là sức bền bỉ của một người lính tin vào lý tưởng mình đã chọn.

Nhưng có lẽ, phần chạm đến trái tim tôi nhất, với tư cách là một cán bộ đang công tác tại Quân khu 1, chính là giai đoạn Thủ trưởng làm Phó Tư lệnh về Chính trị tại đây. Quân khu 1, phên dậu phía Bắc, nơi địa hình hiểm trở và đa phần là đồng bào dân tộc thiểu số. Một vị chỉ huy người Kinh, làm thế nào để “an dân, trấn ải”? Thủ trưởng đã chọn cách học tiếng Tày. Chi tiết này nhỏ thôi, nhưng nó nói lên tầm vóc của tư duy dân vận. Làm đối ngoại hay làm công tác chính trị, dân vận, cốt lõi là sự thấu hiểu. Không thể nói chuyện với đồng bào, không hiểu phong tục tập quán của họ thì làm sao nói cho họ tin, làm cho họ theo?

Không chỉ “đối nội” giỏi, qua cuộc trò chuyện ngắn ngủi với tôi hồi sáng và những trang hồi ký về hành trình đối thoại kênh 2 đấu tranh cho nạn nhân chất độc da cam, Thủ trưởng còn khai mở cho tôi những bài học vô giá về nghiệp vụ đối ngoại. Từ sự tận tâm can thiệp để bảo đảm quyền lợi cho một sĩ quan quốc tế từng học tập tại Việt Nam, đến câu trả lời khẳng khái nhắc nhở phía Mỹ về công lý” và “đạo lý” thay vì né tránh quá khứ, tôi đã vỡ vạc ra rằng đối ngoại đỉnh cao là “Ngoại giao tâm công”: Vừa giữ vững nguyên tắc và lòng tự tôn dân tộc, vừa phải có cái tâm đủ rộng và trí tuệ sắc sảo để thu phục nhân tâm bạn bè quốc tế.

Đọc đến đoạn Thủ trưởng phải xử lý kỷ luật một người đồng chí vướng vào bi kịch hôn nhân, tôi đã dừng lại rất lâu. Cách người Phó Tư lệnh về Chính trị ngày ấy giải quyết vấn đề lại khiến hậu thế phải suy ngẫm lại cách ứng xử giữa lý và tình. Ông chọn cách gặp gỡ, sẻ chia, vận động thấu tình đạt lý để người đồng chí ấy về nghỉ, giữ lại danh dự của một người lính. Và điều khiến tôi khâm phục hơn cả là câu chuyện sau khi người đồng chí kia đau ốm, nằm viện, Thủ trưởng Đăng vẫn tìm đến thăm. Câu kết luận của Thủ trưởng về trường đoạn đó nhẹ nhàng mà thấm thía: “Mọi thứ đều đã trở thành vô nghĩa, chỉ còn một thứ là còn ý nghĩa với ông…” Cái còn lại cuối cùng giữa những người lính với nhau là tình đồng chí, là sự bao dung cho những góc khuất số phận của con người. Đó chính là “Những điều còn lại” chăng?

Chẳng phải ngẫu nhiên mà đồng chí Trung tướng Đàm Văn Ngụy, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu 1 lại dành cho Thủ trưởng Đăng sự tin tưởng tuyệt đối: “Đồng chí rất quan tâm đến biên ải, quan tâm đến con em người dân tộc, tôi về nghỉ cũng cảm thấy yên lòng”.

Gấp lại những trang viết về thời kỳ Thủ trưởng làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, về những đóng góp vĩ mô cho văn học nghệ thuật, báo chí quân đội, hay những ngày tháng nghỉ hưu vẫn miệt mài với Hội Cựu chiến binh, với cương vị Đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La, với dòng tộc họ Phùng, tôi thấy hiện lên một chân dung nhất quán. Dù ở vị trí nào, Thủ trưởng vẫn giữ đúng lời răn của Cha: “Chữ tâm phải sáng, chữ tình phải ngay”.

Bát cháo vợ nấu những đêm còn trăn trở bên bàn làm việc, lời động viên “em tin anh sẽ làm được” là những nốt trầm dịu dàng làm mềm lại sự cứng nhắc của đời binh nghiệp. Nó nhắc nhở thế hệ sĩ quan trẻ chúng tôi rằng: Phía sau sự thành công của người cán bộ quân đội, gia đình luôn là điểm tựa vững chãi nhất. Giữ được “gia phong”, giữ được “đạo hiếu” thì mới giữ được mình trước sóng gió cuộc đời.

Tôi, một sĩ quan trẻ sinh ra và lớn lên khi đất nước đã im tiếng súng, chưa từng nếm trải vị mặn chát của mồ hôi trộn máu nơi chiến trường, đọc cuốn hồi ký này như được uống một ngụm nước nguồn trong mát nhưng cũng đầy vị chát của rễ cây rừng. Thế hệ chúng tôi hôm nay có điều kiện tiếp cận tri thức, ngoại ngữ, công nghệ. Nhưng liệu chúng tôi có đủ cái “chất thép” như thế hệ cha anh? Liệu khi đối diện với những cám dỗ tinh vi của thời bình, thứ “giặc nội xâm” không tiếng súng, chúng tôi có đủ bản lĩnh để phân định “Vàng - Thau”?

Cuốn sách của Trung tướng Phùng Khắc Đăng không đưa ra câu trả lời trực tiếp, nhưng cuộc đời của Thủ trưởng chính là câu trả lời. Rằng bản lĩnh không tự nhiên sinh ra, nó được tôi luyện từ sự hiếu học, từ lòng biết ơn, từ sự dấn thân vào gian khổ và từ một trái tim biết yêu thương con người.

Lời kết của Thủ trưởng: “Về với đời thường tuy cũng còn nhiều điều trăn trở, nhưng tôi nghĩ mình là người hạnh phúc”. Hạnh phúc vì đã sống trọn vẹn. Hạnh phúc vì “Thắng phía trước, được phía sau”.

Cảm ơn Thủ trưởng, không chỉ vì cuốn sách quý, mà vì đã trao truyền cho lớp trẻ chúng tôi một ngọn lửa cháy âm ỉ và bền bỉ. Ngọn lửa ấy sẽ soi đường cho chúng tôi biết cách sống sao cho xứng đáng với màu áo mình đang mặc, biết “đối ngoại” bằng cái đầu lạnh và “đối nội” bằng một trái tim nóng hổi tình người.

Ngoài kia, sương mù mùa đông đặc quánh, trời vẫn tối đen như mực và cái rét ngọt tháng Chạp bắt đầu luồn qua khe cửa. Nhìn đồng hồ, tôi giật mình nhận ra tiếng kèn báo thức sắp điểm.

Vậy là đã gần một ngày trọn vẹn kể từ lúc tôi vinh dự gặp Thủ trưởng, và cũng là một đêm quên ngủ để sống cùng những trang hồi ký. Đôi mắt có chút cay cay, sống lưng mỏi nhừ vì ngồi lâu, nhưng tinh thần tôi lại tỉnh táo lạ thường. Trong cái lạnh buốt của rạng sáng mùa đông, lồng ngực tôi dường như có một ngọn lửa vừa được nhen lên, thôi thúc tôi viết ra những dòng này ngay lập tức.

Đặt cuốn sách lên kệ ở vị trí trang trọng nhất, tôi thầm hứa sẽ mang theo những bài học này trong ba lô hành trang của mình, trên con đường phụng sự Tổ quốc hãy còn rất dài và vinh quang phía trước.

Thái Nguyên, 05.10 ngày 09/01/2026

N.T.B

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm