TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Hư Thực: Lối viết dấn thân ấn tượng, về nhân sinh và nghệ thuật trong một thế giới đa loài

Hư Thực: Lối viết dấn thân ấn tượng, về nhân sinh và nghệ thuật trong một thế giới đa loài

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-05-25 16:11:01
mail facebook google pos stwis
681 lượt xem

TS. Nguyễn Thùy Trang

Trong hành trình diễn tiến của nhân loại, viết không chỉ là một hình thức giao tiếp mà còn là cách để con người lưu giữ, truyền tải tri thức và thể hiện bản thân. Do đó, viết gắn liền với đời sống con người, trở thành một phần không thể thiếu trong quá trình tồn tại, phát triển. Diêm Liên Khoa từng tâm niệm: “Sống là không thể không viết và tất yếu phải viết”[1]. Với nhà văn, việc cầm bút để họa lên bức tranh nhân sinh - xã hội, qua đó bày tỏ suy nghĩ, quan niệm của mình như một nhu cầu tất yếu, một sứ mệnh thiêng liêng. Là tiểu thuyết đầu tay của Phùng Văn Khai, Hư thực - đúng như tiêu đề tác phẩm - mở ra một thế giới của những điều mờ ảo, huyễn hoặc. Hình như, hiểu được lẽ “nhân sinh như mộng, văn tại kì nhân”, nên trên con đường dẫn vào nghiệp viết, Phùng Văn Khai đã dành những dòng chữ đầu tiên để chuyển tải cuộc đời tựa giấc mộng, văn chương chính là phần tinh hoa nằm trong đó.

Nếu để tìm một tiểu thuyết đọc để giải trí, thưởng ngoạn, Hư thực của Phùng Văn Khai sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu này. Vì tác phẩm không dễ thẩm, nặng về suy tư, đòi hỏi sự tập trung cao độ và khả năng phán đoán linh hoạt mới có thể nắm bắt được mạch ngầm ẩn ý sau từng lớp chữ. Bước vào trang văn, độc giả như lạc giữa ma trận dòng chảy ý thức, nhưng nếu bền bỉ kết nối, chúng ta sẽ khám phá được nhiều tầng nghĩa phong phú mà tiểu thuyết mang lại. “Hư thực” chính là sự phản tư nghệ thuật và truy cầu chân lí của nhà văn Phùng Văn Khai.

Qua tiểu thuyết, Phùng Văn Khai cho thấy thế giới được lập nên từ những giả tưởng và mộng mị. Khó có điều gì khẳng định tính chính xác và có thực trong tác phẩm. Nhà văn luôn đặt các tình huống trên hai mặt, khi ngỡ là thực, khi tựa nằm mơ. Tiểu thuyết mở đầu bằng hành trình đến với rừng núi hoang vu của hai nhân vật họ Đào và Y. Mục đích của chuyến đi thoạt tiên được đề ra rất cụ thể: thu thập thông tin cho số báo mới, tìm kiếm tư liệu sáng tác. Tuy nhiên, các sự kiện, hành động, việc làm diễn ra đều luôn đan cài với những giấc mơ, những điều kì bí, lẫn lộn thực và ảo. Chối từ khoác cho tiểu thuyết một khung sườn chắc chắn, kết cấu rõ ràng, Hư thực không có cốt truyện, các chương không được gọi tên, tự liên đới giao thoa bằng sự hư ảo như những đám mây lửng lơ vô tình tạo hình thái trên bầu trời.

Phùng Văn Khai bày tỏ một quan niệm nhân sinh về sự vô thường của đời người. Hai nhân vật trung tâm họ Đào và Y được xem như sợi dây kết nối các tình huống truyện. Thực ra cả hai đều khá nhòe mờ giữa hỗn độn sự kiện. Bởi nhà văn đã tiến hành “tẩy trắng” nhân vật, tước bỏ danh tính, biến họ thành những con người khá chung chung qua vài nét phác thảo: “họ Đào, thân cô thế cô, bấp bênh nghề ngỗng, lang bạt kỳ hồ, gia đình xa vắng, vợ con không màng, tiền tài im lặng, trú ngụ thất thường, độc thân hơn bốn mươi năm lại tội nợ cầm bút viết văn, lại viết không xu thời nịnh thế thì kiếp người có khác gì kiếp bướm, như có như không, có cũng như không ở cuộc đời này”. Còn Y, đồng nghiệp với họ Đào, dù có gia đình, cơ quan đoàn thể, nhưng xem như thiếu mật thiết, luôn mang cảm giác cô đơn, hoang vắng của kiếp người. “Y và họ Đào thường ẩn vào cuộc sống nội tâm, tránh va chạm, tiếp xúc và lặng lẽ sáng tác. Cuộc đời này không dành cho Y và gã? Y và gã đã làm gì sai, đã làm gì động chạm đến quyền lợi của ai đó? Y mơ hồ hiểu ra mình không mấy ăn nhập ở cuộc sống này từ lâu”. Điểm nhấn để khơi lẩy chiều sâu nội tâm nhân vật chính là việc nhà văn tạo hai bối cảnh đắc địa: đẩy họ vào chốn bức bối, bất định trên con tàu và chốn linh thiêng, kì bí rừng núi để diễn giải những cảm xúc đa mang. Cả hai bước lên con tàu được hình dung như chở đến địa điểm họ tác nghiệp. “Cuộc đi này ngoài việc hoàn thành bài ký vùng biên viễn cho số báo Tết, Y còn thu thập tài liệu cho cuốn tiểu thuyết đang viết”. Song, đó còn là con tàu của ý niệm, cũng là con tàu cuộc đời mỗi người. Con tàu đơn độc lao mình trong đêm đen về nơi vô định, chở theo hai kẻ cũng đang cảm thấy cuộc đời thăm thẳm, hoang liêu. Tại núi rừng, điều chờ đợi họ không chỉ là chất liệu sinh động của cuộc sống thâm sơn cùng cốc, mà nó chứa đựng bản nguyên hoang sơ của con người và tự nhiên.

T.S Nguyễn Thùy Trang

Móc nối từng câu chuyện là sự hiện diện của những nhân vật hết sức đặc biệt: cô gái trong rừng, người đàn bà điên, người đàn ông dưới gầm cầu và con chó, hai ông bà già ở căn nhà lụp xụp, đạo quân đen quân vàng giữa lòng sông, những người đàn bà làm nghề ăn sương ở dãy trọ ngoại ô, những đứa trẻ làng Bái,... Dường như, giữa các nhân vật này không có mối quan hệ với nhau. Họ được tái hiện, hình dung qua trí nhớ, hoài niệm, tâm tư của Y và họ Đào. Điểm chung giữa họ là sự bất bình thường của đời sống, cái thiếu khuyết trong tâm hồn và mong manh của nhân sinh. Hơn hết, họ đều khát khao một điều gì không rõ, đơn thuần như muốn được khỏa lấp nỗi lòng, mong được thấu hiểu nỗi đau và cô đơn, nỗ lực thoát khỏi tâm thế chông chênh giữa đời. Từ đó, các nhân vật trở thành những hình tượng tiêu biểu cho từng khía cạnh đa dạng trong hoạt cảnh cõi thế. Họ Đào và Y đại diện cho những con người luôn tìm kiếm danh tính và biến chuyển trong nhận thức. Người đàn bà rừng đem lại sự gắn kết giữa con người và thiên nhiên, còn người đàn bà điên là hiện thân của những mất mát và bi kịch cá nhân. Phùng Văn Khai không xây dựng nhân vật theo cách thông thường. Thay vào đó, mọi hình tượng trong Hư thực đều tồn tại ở trạng thái phiếm định, biến hóa liên tục, không có ranh giới rõ ràng giữa người/ ma, người/ thú. “Con người mãi mãi là một bí mật không thể giải mã”. Chính cách tiếp cận này đã tạo nên một hiệu ứng nghệ thuật đặc biệt, khiến người đọc cảm nhận tác phẩm như một dòng chảy của những mảnh ghép kí ức, chuỗi ảo ảnh tưởng chừng rời rạc, bí hiểm nhưng lại liên kết với nhau bằng những sợi dây vô hình của nội tâm, nhằm giải mã bản đồ tiềm thức.

Đặt các nhân vật vào bối cảnh xa cách văn minh - văn hóa, Phùng Văn Khai còn bày tỏ quan niệm nhân sinh trong một thế giới đa loài. Đứng trước thiên nhiên rộng lớn và nhiều bất ngờ, con người mất đi vị thế chủ động, chinh phục, tấn công. “Giữa chốn rừng khuya, Y có cảm giác xung quanh, trong bóng tối âm u đang lạo xạo một cách bí ẩn, bất trắc”. “Những cánh rừng nham nhở, loang lổ, mịt mùng, tối thẫm chìm trong tịch mịch”. Tiểu thuyết mô tả một không gian đa chiều, nơi con người và các sinh vật khác cùng chung sống, cùng tồn tại trong những tình huống bí hiểm, đầy trắc ẩn, dễ nhầm lẫn đâu là hư là thực. Con người không có quyền định đoạn hay tỏ thái độ “trung tâm”, vì mọi thứ đều dựa trên luật nhân quả. “Y hốt hoảng bảo thôi đi, hãy tha cho nó làm chúa tể ở đây, ông hiếu sát như vậy không tốt gì trong chuyến xuyên rừng xuyên suối này đâu, tháng trước có mấy người đi rừng bị voi giẫm chết bi thương lắm”. “Y thoắt rùng mình khi nhận thấy ở sâu trong những hốc mắt đẫm nước, cả người và chó hằn lên những tia xanh lét, rờn rợn mà nghe đồn chỉ có ở loài hồng cẩu quẩy. Y rùng mình nghĩ đến một kết cục không hay ho xảy đến với mình”. Bối cảnh thoát li hiện thực, nhưng sự kiện lại cắm rễ vào đời sống. Con người không ai ngó ngàng, thiếu kết nối, nhưng lại bận tâm giữa chiều sâu nhân sinh. Cứ thế, Hư thực cuốn người đọc đi trong sương mờ giăng mắc của những nội tâm phức tạp, đa đoan; của những giấc mơ đan xen ẩn hiện, liêu trai và buồn bã, chất vấn và suy tư, dục vọng và lí tính.

Nhà văn Phùng Văn Khai (phải) trao đổi cùng đồng nghiệp

Trong thế giới đó, giới hạn giữa các loài trở nên mong manh, buộc nhân vật phải tái định nghĩa về chính bản thân mình. “Con người vẫn tồn tại một cách cẩu thả, tăm tối, đầy oán trách và đồi bại. Con người đang tụt xuống những con dốc miên man không dứt. Con người vĩnh viễn không tìm thấy mình từ hàng ngàn hàng vạn năm. Trước cái lồng quản thúc hết sức kiên cố, không ai đập vỡ được, càng không ai thoát ra khỏi móng vuốt của nó. Cứ theo những ý nghĩ của cái đầu rùm ròa kia thì con người khi mặt trời lặn cũng là lúc trốn vào những nỗi đau của mình, loay hoay trong cái lồng chật hẹp. Con người luôn cố thoát ra rồi lại không mong muốn thoát ra đầy khó hiểu”. Quan niệm về con người trên cơ sở đó không chỉ xoay quanh bản ngã cá nhân, mà còn mở rộng tới mối quan hệ giữa con người và sinh thái, giữa các thực thể khác nhau trong một vũ trụ tương thông, tương hỗ.

Một trong những chìa khóa quan trọng trong tư tưởng nhân sinh của tác phẩm là bản chất linh hồn và những giới hạn khó đo đếm của nó. Các nhân vật trong Hư thực thường đối diện với những biến đổi kì lạ của vô thức, nhưng chính trong những biến đổi đó, họ nhận ra được bản chất con người và giá trị của tự do. “Y nhìn gã, trăng leo lét tưới tắm thân thể, tóc râu, áo quần, thân phận mấy con người rừng rú. Trăng lênh loang, tràn khắp lều bạt, gỗ lạt, củi cành, phên giậu, cỏ cây, đá sỏi một vẻ mông muội, hoang sơ. Đời người hữu hạn sao ham muốn khôn cùng, trách nào không rước về tai họa”. “Những cơn mộng mị hư thực, những ước muốn hão huyền, nối nhau bước đi như hai gã tâm thần nơi rừng hoang”. Hành trình của nhân vật là hành trình tìm kiếm sự thừa nhận và giao thoa cảm xúc giữa các thực tại khác nhau, đồng thời khẳng định rằng, bản thân con người không chỉ bị giới hạn bởi các quy chuẩn xã hội cứng nhắc, mà còn chịu sự hạn hữu của thể lí sinh học trong định luật tự nhiên.

Trên phông nền phiêu linh đó, Phùng Văn Khai còn bày tỏ cặn kẽ quan niệm về nhà văn và sáng tạo nghệ thuật. Dĩ nhiên, tác giả không áp đặt hay định hướng một lối viết cụ thể, mà qua hành trình đi tìm chân lí đời sống và nghệ thuật của Y và họ Đào, Phùng Văn Khai đặt ra trách nhiệm của người cầm bút: “Thằng nhà văn không khám phá sự thật thì còn ra gì”. Tuy thế, trong thế giới mà “bản chất cuộc đời là hư thực”, Phùng Văn Khai cho thấy một nghịch lí mang tính hiện sinh: làm thế nào để truy tìm sự thật, khi sự thật ấy luôn được phủ lớp màn che của giả dối, ngụy trá? Từ đó, tiểu thuyết dấy lên vấn đề cốt lõi: liệu nhà văn có thể giữ vững niềm tin vào chân lí, và liệu họ có dám đánh đổi sự an toàn cá nhân để truy cầu điều ấy? Như lời nhân vật trong truyện từng nói: “Sáng tác không hèn thế được” - một tuyên ngôn không chỉ khẳng định bản lĩnh của nghệ sĩ, mà còn cảnh báo sự sa đọa của văn chương khi đánh mất tinh thần phản kháng và sự tỉnh thức nội tâm.

Tiểu thuyết đã tô đậm ý niệm sâu sắc về sáng tạo nghệ thuật: sáng tác không chỉ là kĩ thuật hay phương tiện truyền đạt, mà là một hình thức sống, một trạng thái hiện sinh. Với họ Đào, “đã sáng tác là quên hết xung quanh”, là khi “những con chữ sống ngay lập tức cuộc đời của chúng”, gợi mở một hình dung về văn chương như một thực thể sống động, có thể khổ đau, hoan lạc, và cả phản kháng. Ở đây, nhà văn không còn đơn thuần là người kể chuyện, mà trở thành kẻ đồng hành với nhân vật, chịu đựng cùng nỗi đau, đối diện cùng sự bấp bênh của cuộc đời. Những trang viết của họ Đào - dù ảm đạm, đầy bất lực - vẫn cho thấy một nỗ lực không ngừng để gắng gỏi chạm tới bản chất luân hồi, nhân quả và vô thường trong kiếp người. Văn chương là lĩnh vực đòi hỏi sự dấn thân và khát vọng khám phá không ngừng về con người và cuộc sống. Mỗi nhà văn đều có một con đường sáng tác riêng, phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan của chính họ. “Họ Đào bảo, sáng tác ít ra phải như thế, lẽ ra ông đã có một cái gì khá. Hãy thoát khỏi đám đông đi. Y lặng lẽ không nói năng. Dễ gì thoát khỏi đám đông. Sáng tác ấy không in được, xếp xó, Y cũng đã quên từ lâu”. Qua Hư thực, Phùng Văn Khai đã phần nào khắc họa những lối tư duy khác nhau về sáng tạo văn chương. Nhờ thế, chúng ta thấm nghiệm một bài học sâu sắc: sáng tạo văn chương là hành trình đơn độc nhưng không thể xuôi theo sự dễ dãi. Người nghệ sĩ chân chính là người dám sống, dám viết, dám giữ vững lập trường và không ngừng truy cầu sự thật. Văn chương, suy cho cùng, là nơi hiện thực được soi chiếu bằng một cái nhìn riêng, đầy bản lĩnh và nhân văn.

Bên cạnh đó, tiểu thuyết Hư thực đặt người viết vào một thế giằng co giữa khát vọng nói lên sự thật và nhu cầu sinh tồn trong một thế giới đầy bất trắc. Nhân vật Y được “trời” phú “con mắt thứ ba”, có khả năng nhìn thấu mọi việc. Chi tiết này đã phản ánh rõ thiên bẩm cần phải có của người nghệ sĩ: nhận diện, thấu suốt bản chất đời sống dù bất kể đứng giữa lằn ranh của lí tưởng hay thực dụng, giữa cô đơn hay hòa nhập. Điều cốt lõi nằm ở nội lực dấn thân, xông pha của nhà văn. Có ý niệm tốt đẹp, có tư tưởng tiến bộ, nhưng lại không thể chuyển hóa vào trang viết, đó là thất bại của người nghệ sĩ. “Có những con chữ không chịu ở lâu trong đầu. Chúng phải sống ngay lập tức cuộc đời của chúng, có khi chỉ một hai người nhìn thấy chúng sống, nhảy múa, hát ca hay là khóc, chúng cũng bằng lòng với đời sống ấy của mình”. Đôi khi, nhà văn cũng phải đấu tranh với hai dòng suy nghĩ: viết trốn tránh hiện thực, thỏa hiệp với mọi xấu xa để có thể sống an toàn, hay cứ mạnh bạo mà viết để hứng lấy cuộc đời sóng gió, xa lánh, thiệt thân. “Viết có khi phải lấy yên thân an toàn. Sống không nổi viết gì. Phải sống sót đã. Còn viết hãy cầm chừng thôi, lựa nhau mà viết, cũng như lựa nhau mà sống”. Nhận định này không chỉ mang tính tự sự, mà còn cho thấy một nhận thức cặn kẽ về cái giá phải trả khi dấn thân vào con đường văn chương chân chính. Viết không chỉ để được “sống sót”, mà còn để “sống đúng” với sứ mệnh của văn chương - phản ánh hiện thực, lay động lòng người, mở ra những chiều sâu tư tưởng. Từ đây, người đọc có thể thấy rõ một quan niệm xuyên suốt trong Hư thực: viết không nhất thiết phải chiều chuộng thị hiếu, mà chính là chống lại sự mài mòn của thời gian và cái vô nghĩa của tồn tại.

Trên phương diện hình thức, Hư thực là sự hòa quyện giữa hiện thực và huyền ảo, tạo nên một cấu trúc nghệ thuật mở, giàu liên tưởng. Phùng Văn Khai đã chủ động nới lỏng một cách cởi mở về tư duy văn chương; không trình bày sự kiện theo tuyến tính truyền thống mà sử dụng thủ pháp phân mảnh, đan xen giữa các lớp truyện, giữa giấc mơ và hiện thực, giữa tiếng nói của nhân vật và tiếng nói của chính tác giả. Qua đó, Phùng Văn Khai đã tạo nên một không gian đối thoại đa chiều. Lúc này nhà văn không còn là kẻ độc quyền chân lí, mà là người gợi mở, người thắp sáng những mảng khuất tối của hiện thực và ý thức. Cách viết này không chỉ làm tăng chiều sâu ngữ nghĩa cho tác phẩm, mà còn phản ánh thế giới quan bất định của con người hiện đại - nơi mọi nỗ lực lí giải đều mang tính bất toàn.

Trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam, tiểu thuyết Hư thực của Phùng Văn Khai là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho lối viết kì ảo, siêu hư cấu. Tráng men hiện thực bằng những giấc mơ và làn sương huyễn hoặc, Hư thực của Phùng Văn Khai mang một phong cách đậm chất thơ, kết hợp giữa những đoạn văn đầy ám ảnh và những câu chuyện có tính truyện lồng truyện đầy tượng trưng, dẫn gợi. Nhìn chung, Hư thực đánh dấu sự sáng tạo và dũng cảm của Phùng Văn Khai trong việc mở rộng biên độ của tiểu thuyết. Tác phẩm khẳng định một điều: văn học không chỉ là sự tái hiện thực tại mà còn là cuộc đối thoại không ngừng với thế giới nội tâm và những tầng sâu vô thức của con người. Vì thế, Hư thực không chỉ là một tác phẩm hư cấu mang tính biểu tượng, mà còn là một văn bản triết học về nghề viết và sự hiện hữu. Với tác phẩm này, Phùng Văn Khai đã minh chứng rằng, tiểu thuyết đương đại Việt Nam hoàn toàn có thể vươn tới chiều sâu tư tưởng và hình thức nghệ thuật phức hợp, ngang hàng với các xu hướng quốc tế. Điều quan trọng là ở tinh thần không ngừng tự vấn và dấn thân -  điều mà Hư thực đã thể hiện một cách thuyết phục và đầy lay động.

NTT

 


[1] Diêm Liên Khoa. (2014). Kiên ngạnh như thủy. Hà Nội: Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Tr.13.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm