TIN TỨC

Huệ Triệu và Đoản khúc trao mùa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-08-20 18:00:31
mail facebook google pos stwis
1912 lượt xem

VC.TPHCM: Nhà thơ Huệ Triệu, Ủy viên Ban Chấp hành, Trưởng ban Nhà văn nữ HNV TP.HCM, ủy viên Ban Nhà văn nữ HNV Việt Nam, là cây bút nữ không còn xa lạ với bạn đọc yêu thơ. Được biết, chị vừa vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú. Nhân sự kiện vui này, chúng tôi xin chúc mừng nhà thơ Huệ Triệu, đồng thời giới thiệu một trong số các bài viết về chị đã đăng trên báo Người Lao động.


BÙI VIỆT QUÝ
 

Huệ Triệu qua tập thơ này mới mẻ và góc cạnh hơn: mềm mại, nữ tính mà mạnh mẽ và sâu lắng

Đọc tập thơ mới xuất bản của Huệ Triệu, "Đoản khúc trao mùa", NXB Hội Nhà văn, 2018, những người yêu thơ chị đều thấy vui. Một tập thơ vẫn giữ được chất riêng của Huệ Triệu, lại có nhiều tìm tòi sáng tạo mới. Vẫn là Huệ Triệu dịu dàng, tinh tế như ba tập thơ trước, song "Đoản khúc trao mùa" cho thấy một Huệ Triệu mới mẻ, táo bạo và góc cạnh hơn. Vẫn đắm đuối si mê, vẫn tự tình đắng đót, nhận chân nỗi buồn, gom hết, nhận hết cho mình để sống và cảm nhận cùng những xúc cảm đó, với ngôn ngữ thơ mềm mại, nữ tính mà vẫn mạnh mẽ và sâu lắng…

Đó có thể là cảm giác mong manh, bởi ngọn cỏ trên tay là dịu dàng, cành hoa vô tư sắc màu, ánh trăng mát rượi miền huyễn ảo và tình yêu cũng diệu vợi:

Tình yêu trên tay em, em nâng/ Cuối cùng/ Chỉ còn lại một giọt nước mắt (Mong manh).

Gặp người, trắc trở nông sâu/ Xa người, tóc nửa bờ lau ngậm ngùi (Hững hờ một ánh mắt thôi).

Phải đi qua, từng trải, chiêm nghiệm nhiều mới có thể ngẫm ngợi những điều gũi gần mà không phải ai cũng nhận ra:

Nhạt miệng là sắp ốm/ Nhạt nắng trời sắp mưa/ Nhạt sóng thì biển lặng/ Nhạt hương côi cút mùa/ Chỉ ly cà phê đắng/ Nhạt đường lại đậm hương/ Chỉ một ngày anh vắng/ Đậm trong em nỗi buồn (Ngẫu cảm)

Người đàn bà làm thơ nói những điều rất thật: Một mình em ở giữa/ Giấu lòng đâu cũng thừa (Lúc này). Mùa hãy giữ cho em, mùa hãy giữ/ Chút giận hờn lỡ khuyết tự ngày xưa (Viết ở phố Nguyễn Du). Nhẹ như hơi thở mà sao nghe nhoi nhói, hay bởi ai cũng đã từng có, từng trải qua những man mác, hắt hiu khi nhớ lại một thời tuổi trẻ…

Chất tự sự vẫn bàng bạc xuyên suốt tập thơ, song đề tài đã rộng hơn, không gian thơ đã rộng hơn. Người thơ không chỉ nói về tình yêu lứa đôi, gia đình, bè bạn mà còn đi vào những góc khuất của cuộc sống, những đúc kết, cảm nhận từ cuộc đời. Chất mô phạm của một cô giáo nổi tiếng dạy văn ở ngôi trường nổi tiếng bậc nhất TP.HCM (Lê Hồng Phong) cũng làm cho ngôn ngữ thơ khúc chiết, bên cạnh cái nhìn tinh tế và tư duy thơ sắc sảo của một nhà thơ đắm mình vào cuộc sống.

Đó là sen được bóc tách, nâng niu: Ủ vào lòng giọt đắng/ Mở trắng trong ngọt ngào/ Khi hạt xanh biết khóc/ Mùa đã mùa xôn xao (Sen). Đó là màu tím của nhớ mong, ngóng đợi thường thấy trong thi ca nhạc họa nhưng sắc tím trong thơ Huệ Triệu ở lại lâu hơn bởi câu thơ níu kéo:

Ngày qua rồi ngày lại/ Màu tím nhạt đi rồi/ Cuống hoa giờ đã rụi/ Thương em, màu không rơi (Hoa súng)

Huệ Triệu cho người đọc những bất ngờ thú vị từ những ngẫm ngợi thật chín trong tư duy và bật ra những tứ thơ đẹp. "Đoản khúc giao mùa", như tên gọi, là những khúc ngắn, những đoạn thơ thoạt nghe nhẹ nhàng song sức gợi và sức tỏa khá đầy đặn. Ngôn ngữ thơ và hình ảnh đã có những khác biệt so với những tập thơ trước, những tìm tòi, làm mới thơ đã được bày biện. Bên cạnh một màu bảng lảng Khói sương lấm áo nâu sồng/ Tiếng chuông đi ngược gió sông gọi đò (Chùa quê) với lục bát cổ điển, đã có chùm ba gieo vần bằng thú vị: Đang bề bộn chữ lạc trôi mất vần/ Lặng nghe đáy nghĩa mơ hồ tiếng ngân/ Phải tình cả gió. Cho mình phân thân (Nhịp ba).

Huệ Triệu cũng đã tự sự về nghề chữ nghĩa nhọc nhằn, với những cày xới, mải miết gieo, cười nụ cười phẳng phiu mà ai hay trượt ngã. Người làm thơ/ Gặt mùa mình trên từng khuôn ruộng chữ (Gặt mùa trên ruộng chữ). Đó là lao tâm khổ tứ từ hoài thai đến sinh thành, từ gieo đến gặt, đều trong dáng vẻ cô đơn của người sáng tạo, nhưng đó là sự lựa chọn của người cầm bút và cả hạnh phúc khi gặt về những vàng tươi.

Thơ không thể đứng bên lề cuộc sống. Nhà thơ thấy rõ những thói đời, thấu hiểu lẽ đời, những khóc cười, thực giả phô phang…, để thốt lên cay đắng: Có đôi khi ta chợt thấy mình thảm hại/ Khi lặng nhìn bao sự thảm hại khác ở trên đời (Đôi khi). Nhưng với trái tim của người thơ, sự bao dung vẫn là chủ đạo. Hiểu đời và thấu đời để thương yêu đời hơn, nhân hậu với nhau hơn để sống: Được thua cái lẽ ở đời/ Được mà chua xót cho người là thua… Cái ngỡ được lại thua đau/ Cái này tưởng mất ngày sau lại còn (Được thua)…

Từ sự thấu cảm đó, những câu thơ của Huệ Triệu giữ người đọc ở lại lâu hơn với "Đoản khúc trao mùa".

Nguồn: Người Lao động.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm