TIN TỨC

Khát vọng Dế Mèn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-05-19 10:43:48
mail facebook google pos stwis
2429 lượt xem

Sự ra đời của Giải thưởng Dế Mèn cùng với phát ngôn của đại diện Hội Nhà văn Việt Nam đã chạm đến khát vọng lâu nay vẫn nằm đâu đấy trong những người yêu và hiểu rõ hiện trạng văn học thiếu nhi nước nhà…

Nhà văn Tô Hoài thành công với tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu ký” từ lâu hẳn có mối liên hệ với Giải thưởng Dế Mèn thường niên của Báo Thể thao & Văn hóa hiện nay

Dế Mèn là nhân vật chính trong truyện Dế Mèn phiêu lưu ký. Trong đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, đấy là tác phẩm được nhiều người biết nhất của Tô Hoài, là thiên đồng thoại xuất sắc nhất của văn học Việt Nam, là truyện thiếu nhi Việt Nam được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất. Mức độ nổi tiếng của Tô Hoài với Dế Mèn phiêu lưu ký còn được sánh với tên tuổi Andersen, anh em nhà Grim. Thành công của một tác phẩm xuất bản từ năm 1954 (thời điểm Dế Mèn phiêu lưu ký được in hoàn chỉnh ở Nhà xuất bản Thanh niên) hẳn có mối liên hệ với Giải thưởng Dế Mèn thường niên của Báo Thể thao & Văn hóa được phát động từ cuối tháng 5 năm 2020 dành cho những tác phẩm về thiếu nhi và của thiếu nhi. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam chia sẻ về giải thưởng: “Việc xây dựng giải thưởng Dế Mèn bắt nguồn từ ý thức mang lại một đời sống tinh thần sâu thẳm nhất, trong sáng nhất, quyến rũ nhất cho những đứa trẻ. Đừng nghĩ đây chỉ là một giải thưởng mà hãy nghĩ đây là một ý thức, một thái độ, một hành động của chúng ta đối với tương lai của mình” (2)

Sự ra đời của giải thưởng cùng với phát ngôn của đại diện Hội Nhà văn Việt Nam đã chạm đến khát vọng lâu nay vẫn nằm đâu đấy trong những người yêu và hiểu rõ hiện trạng văn học thiếu nhi nước nhà. Trong tác phẩm của Tô Hoài, nhân vật Dế Mèn trải qua hành trình phiêu lưu vượt lên không gian tù túng, chật hẹp để khám phá cuộc đời “ở cuối cánh đồng mênh mông”. Cuối hành trình ấy, nhân vật đã “lột xác” về thể chất lẫn tinh thần, đã có thể thư thái lòng “nằm duỗi chân nhìn lên qua khe cỏ ấu, thấy mảnh trời biếc như ước vọng đời mình đương bay xa”. Nhà văn qua nhân vật đồng thoại này mà khơi thêm ước vọng tuổi trẻ với lí tưởng sống đẹp, biết khám phá chứ không bằng lòng với cuộc sống tầm thường.

Khát vọng của văn học thiếu nhi Việt Nam, ngẫm sâu, cũng là tìm kiếm, phát quang những đường đi, đường bay rộng rãi, thoáng đãng để trưởng thành. Một kiểu khát vọng Dế Mèn, phóng khoáng, đẹp đẽ. Nhưng khát vọng ấy bị mắc kẹt, bị nghẽn lại ngay từ thuở mới được tạo sinh. Vì thiếu vắng đội ngũ người viết thực tài hoặc có thể toàn tâm toàn ý dành sự nghiệp sáng tác cho thiếu nhi; vì thiếu hụt các cây bút phê bình tâm huyết có khả năng nhận diện, phát hiện, “nâng đỡ” văn học thiếu nhi; vì sự đánh giá không đúng mức vai trò/ ý nghĩa của bộ phận văn học này; vì thiếu sự bảo hộ/ bảo trợ/ truyền lửa cho đội ngũ sáng tác và sản phẩm tinh thần của họ… Thỉnh thoảng, nhân các Hội thảo, các ngày lễ liên quan đến thiếu nhi, mớ bòng bong đó được bày ra, được gợi nhắc với mong mỏi tháo gỡ. Thế nhưng mọi sự vẫn lắm gian nan.

Có câu nói của nhà văn Cao Huy Thuần phù hợp để nói về văn học thiếu nhi Việt Nam lúc này: “Thà thắp cây diêm bé còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”. Thay vì thất vọng hay chỉ ngồi trông đợi sự hỗ trợ/ ủng hộ, nên chăng, các nhà văn hãy tự thắp những cây diêm bé. Đấy là điều các tác giả hoàn toàn có thể làm được, mà hẳn nhiên, lúc đó, cái lời lãi còn quý hơn vật chất bội lần. Đó là niềm vui khi cầm bút viết cho thiếu nhi/ về thiếu nhi dù công việc viết lách này chưa bao giờ là điều dễ dàng. Sau những lao xao của cuộc đời dài rộng, may mắn thay trong mỗi nhà văn, nhà thơ vẫn tồn tại một đứa trẻ để gợi cảm hứng và ý tưởng để họ sáng tác. Cư dân của văn học thiếu nhi là những đứa trẻ còn sống sót trong người lớn và tất nhiên là cả trẻ con nữa. Đám đông cư dân ấy một thời nằm ngửa trong nôi, ngôi nhà là bầu trời lớn nhất, tiếng nói đầu đời là những thanh âm bập bẹ. Vậy mà chỉ cần nghe lời ru của mẹ, câu chuyện kể của bà là giấc ngủ đã ngoan lành. Thuở ấy, những cư dân nhí này chưa biết chữ nên tác phẩm văn học vẫn chơi trốn tìm trong những trang sách. Tựa vào đồng dao, tựa vào những bài vè và những câu chuyện dân gian để làm rộn ràng thêm ấu thơ là cái khôn ngoan đáng yêu của bao nhiêu đứa trẻ.

Có thể nói, nhu cầu được tưới tắm bằng văn chương dường như đã ríu rít trong mỗi đứa trẻ từ thời xa xưa ấy. Vì thế, một nền văn học phụng sự thiếu nhi là điều tối thiểu của một dân tộc. Nhà văn đối diện với vùng thẩm mĩ đó chính là kiếm tìm sự hài hòa giữa cảm xúc riêng tư với những giấc mơ bé thơ chấp chới, lấp lánh bên ngoài. Đó là cuộc chơi vừa dịu dàng vừa tươi tắn, có thể đồng thời làm dịu ngọt kí ức – hiện tại – tương lai.

Trong một bài báo in trên Văn nghệ Công an số Tết Quý Tỵ 2013, nhà văn Tô Hoài kể: “Tôi ngồi tha thẩn đầu làng bên cửa sông Tô Lịch, trông ra dòng nước quanh co. Trên bãi cỏ cạnh gò cỏ, có mấy đám trẻ đang múc nước đúc dế. Chúng tôi hàng ngày những lúc thong thả vẫn ra bãi sông để chơi đúc dế. Những con dế mèn được đúc bỏ vào rọ, đêm đi chơi cho dế vật nhau. Tôi đã đúc dế, chơi dế từ năm lên mười, bên cây gạo có hoa đỏ ối từ bao năm nay. Tôi chợt nghĩ: hay là ta viết chuyện con dế mèn, con dế mèn ta đúc, ta chơi chọi dế từ bao năm nay”(3). Thế là Dế Mèn phiêu lưu ký ra đời. Trước khi độc giả thỏa thuê phiêu lưu cùng Dế Mèn chắc hẳn Tô Hoài đã có những trải nghiệm thú vị trong quá trình sáng tác, được quay về đằm mình trong ấu thơ bình yên, trong trẻo bên cánh bãi Cơm Thi.

Ngẫm cho cùng, sáng tác văn học thiếu nhi chính là nhu cầu của tác giả. Theo tiếng gọi riêng tư ấy, một số tác giả đã viết không bằng với ý thức rành mạch, rõ ràng là sẽ tạo ra các tác phẩm văn học thiếu nhi nhưng lại được độc giả nhỏ tuổi đón nhận. Trần Đăng Khoa khẳng định, ông hoàn toàn không phải là người viết cho trẻ con. Ông chỉ viết cho “tôi” thời thơ bé. Cái “tôi” ấy gặp gỡ tất cả các em thiếu nhi và người ta tưởng Trần Đăng Khoa là nhà văn viết cho thiếu nhi. Lại có trường hợp viết nhiều về đề tài thiếu nhi nhưng lại không được tính là người viết cho trẻ con. Tạ Duy Anh – chủ sở hữu của rất nhiều tác phẩm viết về thiếu nhi như: Những chuyện không phải trong mơ, Hiệp sĩ áo cỏ, Ngày hội cuối cùng, Đối thủ còi cọc… từng chia sẻ rằng anh viết cho trẻ con như một nhu cầu, không ai tính anh là người viết cho trẻ con cả. Đồng cảm và trân trọng với quan điểm viết cho trẻ con như một nhu cầu của tác giả, nhất là khi những áng văn chương đó là nơi lí tưởng để Tạ Duy Anh cứu rỗi kí ức tuổi thơ, là nơi giúp anh thoát khỏi những bi kịch nặng nề, gai góc để sống cuộc sống thuần khiết, hồn hậu.

Không riêng Tạ Duy Anh, việc kể những câu chuyện diễn ra trong thời thơ ấu cũng đã giúp một số nhà văn cởi bỏ gánh nặng mà vì nhiều lí do họ đã đằng đẵng mang theo cả một đoạn đời dài. Tác phẩm vừa giúp họ bao bọc nỗi nhớ, hoài niệm riêng vừa là sự giải tỏa bao nhiêu nỗi niềm về được mất, đắng ngọt cuộc đời. Những tự truyện của Phùng Quán (Tuổi thơ dữ dội), Duy Khán (Tuổi thơ im lặng), Nguyễn Quang Sáng (Dòng sông thơ ấu), Trần Hoài Dương (Miền xanh thẳm), Lê Bầu (Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa), Bình Ca (Quân khu Nam Đồng)… tồn tại đúng nét nghĩa ấy. Mỗi tác phẩm là điều đặc biệt trong đời văn của các tác giả – nơi họ bản lĩnh, bình tĩnh, khí khái nhìn lại ấu thơ qua màng lọc ký ức.

Viết Tuổi thơ im lặng từ năm 1977, Duy Khán lặng lẽ tách khỏi dòng chảy văn học lớn của thời đại. Ông chắt chiu những góc quê, người quê bé mọn; tìm kiếm bình yên trong cổng chùa, mảnh vườn, tấm chăn, cái cối, bàn chân, bờ vai hay con chèo bẻo, bồ nông, liếu điếu… Ông gợi lại cái khốn cùng, tang tóc của phận người trong sự bủa vây của chiến tranh và nạn đói. Vì thế, nông thôn Bắc bộ một thời không chỉ “thấp thoáng mộng bình yên” mà còn mang sự im lìm đáng sợ và tủi hờn nghẹn đắng. Trong lời tự bạch của Duy Khán, tự truyện này là “đứa con ngoài kế hoạch” của nhà văn bởi ông đang viết dở cuốn sách về biển. Nhưng hễ bắt tay viết cuốn sách đó là ông nghĩ đến nguyện vọng chính đáng của các con thơ muốn hiểu hơn về vùng quê lam lũ mà chúng vẫn gọi là quê nội. Vậy là ông đã kể cho các con nghe. Câu chuyện ngay từ khởi nguồn đã chảy về hai ngả. Một ngả đến với những đứa con của Duy Khán: Khánh, Khoa, Khải. Và ngả kia tự động chảy về nặng trĩu thương nhớ, day dứt của nhà văn. Duy Khán thương cuốn sách là điều dễ hiểu. Nhưng có lẽ ông cần cảm ơn “đứa con ngoài kế hoạch” này vì đó là nơi giúp ông cởi bỏ những ẩn ức cháy lòng của mười lăm năm tâm tư trĩu nặng.

Những điều ý nghĩa mà nhà văn nhận được từ công việc viết lách cho thiếu nhi cũng đồng thời hé mở nỗi niềm nhức nhối của chính họ khi vì những lí do khách quan và chủ quan mà phải dừng nghiệp viết. Quế Hương – tác giả của rất nhiều tác phẩm và giải thưởng về văn học thiếu nhi đã không thể tiếp tục cầm bút vì quá nhiều bệnh tật, cái chết luôn hiển hiện trước mắt. Trong rất nhiều nỗi đau bệnh tật, nhà văn mong được chết trước khi mù với ý nghĩ, mắt để nhìn ngắm vẻ đẹp trần gian, để thấy, để đọc, để viết mà hỏng nặng quá rồi thì tốt nhất là chết. Con người ấy tâm vẫn “thấy” rõ mồn một những thanh âm, dáng điệu cuộc đời nhưng không thể cầm bút. Không những mắt mà những thứ khác cũng có “vấn đề”. Quế Hương khó khăn khi tìm từ, diễn đạt. Nghĩ gì hôm nay, mai lại biến mất không tăm tích. Nhà văn khổ sở vì bất lực, và cứ thế, tàn dần, hư dần, quẩn quanh, tù đọng, trầm cảm. Thân và tâm đều bệnh nên cuộc sống không còn chất lượng. Quế Hương ngậm ngùi thừa nhận điều giản dị: Ngẫm cho cùng được khỏe để sống, làm việc là hạnh phúc thật nhất.

Thực tiễn đời sống văn học thiếu nhi cho thấy đã có những tác phẩm được viết không với tâm thế/ quan niệm sáng tác rõ ràng về văn học thiếu nhi nhưng lại trở thành những ấn tượng/ điểm sáng bền vững trong văn học dân tộc. Đã có những tác phẩm lan tỏa nhiều đợt sóng xúc cảm đẹp trong tâm hồn người đọc, hơn thế, còn có thể tác động đến nhiều đối tượng độc giả. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường nhắc nhớ về Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán với niềm thương không giấu được: “… Có một viên ngọc quý thời gian dành riêng để ban tặng con người, đó là Tuổi thơ. Viên ngọc màu nhiệm, trong sáng nhưng quá mong manh, không thể tìm thấy lần thứ hai trong đời. Và có một thế hệ người Việt chưa bao giờ được cầm viên ngọc trên tay, Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán được viết cho thế hệ đó. Hãy đọc để nhớ lại, để tự hào, và để cầu nguyện cho những Tuổi thơ sắp ra đời…(4)

Truyện dài Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần cũng nhận được nhiều phản hồi tích cực. Nhà văn Hồ Anh Thái bâng khuâng lạc giữa thế giới văn chương Nguyễn Ngọc Thuần – một thế giới lãng mạn tuyệt vời, văn phong đẹp, trong vắt đến mức người đọc soi vào đấy là thấy cả những ao ước tuổi thơ mình. Nguyễn Nhật Ánh thì cho rằng Nguyễn Ngọc Thuần là “tín hiệu mới”, qua ngòi bút của Nguyễn Ngọc Thuần thế giới quen thuộc của chúng ta bỗng hiện lên mới mẻ, tinh khôi như mới sinh thành.

 

Không những thế, một số tác phẩm văn học thiếu nhi còn nhận được những giải thưởng ý nghĩa trong và ngoài nước, có tác phẩm còn được chuyển thể thành phim. Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi được dịch ra nhiều thứ tiếng: Nga, Đức, Tây Ban Nha, Ba Lan… và được chuyển thể thành phim truyền hình dài tập vào năm 1997. Phùng Quán nhận Giải A văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội. Vào năm 1989, tác phẩm đã được dựng thành phim. Bộ phim Tuổi thơ dữ dội của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn được nhận giải Bông sen bạc, Đạo diễn xuất sắc nhất, Nam diễn viên chính xuất sắc nhất ở liên hoan phim năm 1990. Nhà văn Vũ Hùng với sêri sách về rừng đã giành giải “Sách hay” của Hội Xuất bản Việt Nam vào năm 2016, được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải “Sự nghiệp Văn học”; tại “Lễ Trao giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam 2017”. Nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần nhận giải A Cuộc thi sáng tác văn học thiếu nhi Vì tương lai đất nước lần thứ III, giải Peter Pan (giải thưởng của Thụy Điển dành cho tác phẩm thiếu nhi hay nhất) năm 2008, giải thưởng Sách hay năm 2011 với tác phẩm Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ.

Và không thể không nhắc đến Nguyễn Nhật Ánh, Trần Đăng Khoa với hành trình vượt lên dải đất hình chữ S để kết nối với độc giả nhiều nơi trên thế giới. “Tháng 9 – 2020, hai tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ và Đi qua hoa cúc của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh được NXB Nikkei và Quỹ Daido Life của Nhật Bản chọn mua bản quyền để xuất bản tại Nhật, nối tiếp hai tác phẩm khác đã được xuất bản tại xứ sở hoa anh đào trước đó là Mắt biếc (NXB Terrainc, 2004) và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (NXB Canaria, 2017). Tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ từng được dịch và xuất bản tại Thái Lan năm 2011 (NXB Nanmee Books), tại Mỹ năm 2014 (NXB Overlook Press). Ngoài ra, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh cũng được NXB Hannacroix Creek Books mua bản quyền và phát hành tại Mỹ năm 2020” (5).

Ngoài những tác giả, tác phẩm đã nhắc đến ở trên, còn có những hành trình khai mở lặng lẽ khác diễn ra với Mun ơi! Chạy đi của Nguyễn Phan Quế Mai và con gái Farnhammer Mai Clara, Xóm bờ Giậu của Trần Đức Tiến, Mãi mãi một thời thiếu sinh quân (Ma Văn Kháng), Chuyện của anh em nhà Mem và Kya của Nguyễn Quang Thiều, Câu hỏi tuổi thơ (Lê Phương Liên), Thì thầm tiếng cát (Nguyễn Hữu Quý), Chú bé đeo ba lô màu đỏ của Nguyễn Đình Tú, Em béo và hội Cầu vồng của Đỗ Bích Thúy, Ngôi nhà trong cỏ (Lý Lan), Ông ngoại (Nguyễn Ngọc Tư), Siêu nhân cua của Võ Diệu Thanh, Mùa tiểu học cuối cùng của Lê Văn Nghĩa, Trên đồi, mở mắt và mơ (Văn Thành Lê), Mật ngữ rừng xanh của Lê Hữu Nam, Chuyện của Bắp ăn mơ và xóm Ðồi Rơm của Cao Khải An, Khi quá buồn, hãy tưới nước cho một cái cây của Trương Huỳnh Như Trân,… Đấy là những tác phẩm có khả năng lôi cuốn, dẫn dụ trẻ, tạo dựng cho các em đời sống tinh thần trong sáng và nhân hậu.

Những thành công như thế ít nhiều đều có mối liên hệ với khát vọng Dế Mèn của mỗi nhà văn. Đâu đó trong những phát biểu ngoài lề trang viết, các nhà văn đã gọi tên, đã diễn giải khát vọng ấy. Nguyễn Nhật Ánh phát biểu: “Tôi tin văn chương không chỉ đem lại mỹ cảm mà đó còn là một phương tiện tuyệt vời để khám phá một vùng đất, thấu hiểu một quốc gia và cảm mến một dân tộc. Đó là lý do tôi hy vọng những cuốn sách của nhà văn Việt Nam sẽ giúp bạn đọc quốc tế thêm yêu mến con người và đất nước chúng ta (6).

Chúng ta không có quyền can thiệp vào hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. Mọi lời khuyên đều có thể trở thành sự can thiệp/ phủ quyết thô bạo cá tính lẫn cảm xúc của người nghệ sĩ. Nhưng mong đợi sự nối dài những giấc mơ như thế – giấc mơ văn học thiếu nhi trở thành phương tiện quảng bá văn hóa Việt Nam với thế giới, là điều chính đáng. Những khát vọng ấy cần được nhen nhóm, lớn dậy trong đội ngũ cầm bút. Đó là cơ sở để tạo ra những tác phẩm hay, vượt thoát lên mọi định kiến. Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi theo như nhận định của Hữu Thỉnh là đã làm thay đổi nhận thức vốn là định kiến trong giới, rằng một tác phẩm viết theo đơn đặt hàng sẽ bị gò bó, trói buộc cả đề tài lẫn cảm xúc bởi Đoàn Giỏi hoàn toàn tự do với đơn đặt hàng và trở thành một trong những tên tuổi viết cho thiếu nhi hay nhất Việt Nam. Quân khu Nam Đồng của Bình Ca trong vòng 4 năm tái bản 15 lần với 32.000 bản sách được phát hành đã xóa bỏ định kiến văn học thiếu nhi là “chiếu dưới”, là “nhi đồng” trong mối quan hệ với văn học người lớn với tư cách là “chiếu trên”, là “người lớn”, xóa bỏ luôn định kiến về nhà văn không chuyên nghiệp.

Quan niệm văn học thiếu nhi chỉ phù hợp để nói về những điều bé mọn sẽ bị lung lay trước thành công của các tác phẩm: Tháng ngày ê a (Lê Minh Hà), Chú bé đeo ba lô màu đỏ (Nguyễn Đình Tú), Đi trốn (Bình Ca)… Những tác phẩm được nhắc đến trong bài viết này đều phù hợp với chiến lược xây dựng thế giới tâm hồn cho thế hệ trẻ, có thể tạo ra sự đa dạng trong trải nghiệm cảm xúc, khai mở những góc nhìn mới về các vấn đề quen thuộc, dạy trẻ cách lắng nghe và nhìn nhận cuộc sống bằng trí tưởng tượng bay bổng, bằng lòng tự trọng, khoan dung. Phần lớn trong số đó là sản phẩm của những nhà văn chuyên nghiệp, những người đi đường dài với văn học thiếu nhi kiểu như Võ Quảng, Tô Hoài, Phạm Hổ, Vũ Hùng, Lê Phương Liên, Nguyễn Nhật Ánh. Nhập cuộc văn học thiếu nhi không bằng sự nửa vời đã giúp họ tích lũy dày dặn cảm xúc lẫn trải nghiệm cho sáng tác. Họ đau đáu hơn với hành trình sáng tạo nghệ thuật và đã dấn thân cho hành trình ấy một cách khá quyết liệt. Tuy nhiên, đội ngũ nhà văn chuyên nghiệp ấy không nhiều. Vì thế song song với công tác bồi dưỡng, phát triển đội ngũ thì những cú tạt ngang hay viếng thăm bất ngờ kiểu Bình Ca (Quân khu Nam Đồng, Đi trốn), Lê Hoàng (Sao thầy không mãi teen teen)… cũng là điều chúng ta chờ đợi. Một đôi lần bén duyên thôi nhưng những tác giả này đã mang đến làn gió mới cho văn học thiếu nhi.

Vậy nên cái căn cốt cần gieo trồng và vun vén vẫn là tình yêu, trách nhiệm đối với thiếu nhi và với chính bản thân người cầm bút. Tình yêu và trách nhiệm đó đến độ chín sẽ tạo ra sự thăng hoa của những áng văn chương được xem là những tấm gương soi đẹp đẽ của đời sống, tâm hồn trẻ thơ trong mối quan hệ với các vấn đề khác của xã hội, lịch sử, văn hóa, tự nhiên… Đấy là lúc khát vọng mang tên Dế Mèn của văn học thiếu nhi Việt Nam sẽ được hiện hữu qua những sản phẩm tinh thần có khả năng làm tươi mới cảm xúc, đánh thức trí tưởng tượng bay bổng và góp phần vào “sự nên người” của trẻ thơ. Thậm chí, nếu làm tốt hơn, chúng ta sẽ có những tác phẩm có tiềm năng quảng bá văn hóa Việt Nam đến bè bạn thế giới.

NGUYỄN THANH TÂM

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm