TIN TỨC

Khi nhà văn tự vẽ mình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-08 07:17:19
mail facebook google pos stwis
2032 lượt xem

Sáng nay 8/6/2022, Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức ra mắt sách và tọa đàm “Nhà văn nói về nghề”. Buổi sinh hoạt chuyên đề này hứa hẹn sẽ rất hấp dẫn và bổ ích với sự góp mặt của các giáo viên ngữ văn một số trường phổ thông trung học và đại học tại TP.HCM, các nhà văn đoạt giải thưởng văn học thành phố và quốc gia trong thời gian gần đây cùng các khách mời văn chương từ Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Nai… Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh xin giới thiệu dưới đây bài viết của PGS.TS Bùi Thanh Truyền, Chủ tịch Hội đồng Lý luận – Phê bình của Hội, về cuốn sách mới này.

BÙI THANH TRUYỀN

So với những nghề khác, nghề văn là một nghề đặc biệt. Đặc biệt ở hoàn cảnh đến với văn chương, ở quan niệm về nghề, ở cách sử dụng phương tiện sản xuất, nguyên vật liệu, cách quan hệ, ứng xử với bạn đọc, cách nuôi dưỡng tình yêu, sức bền để gắn bó với con đường đã chọn,… của từng tác giả. Mỗi nhà văn có một cách suy nghiệm về công việc nên mỗi người là một trường hợp đơn nhất, thú vị. Sự trăm hoa đua nở trong chuyện nghề của văn nhân cũng là lẽ thường tình, dễ hiểu.

Ta vẫn thường gặp những trăn trở, triết lí về nghề của nhà văn gởi gắm trong sáng tác. Đó là lúc cái tôi cá nhân của họ khuất chìm dưới mặt nạ nhân vật, mặt nạ tác giả. Lối hư cấu giúp nghệ sĩ thoải mái thể hiện quan niệm văn chương. Tiểu luận phi hư cấu lại đòi hỏi tác giả trực tiếp bộc lộ bản thân qua những trải nghiệm sống và viết. Sự chân thành từ những đam si, những chuyện người thực việc thực, những vui buồn nghiệp chữ, ý thức cá nhân và trách nhiệm xã hội, lối trải tâm lên chữ là nét riêng thú vị của mỗi bài viết, tạo thành cái duyên, sức hấp dẫn của cuốn sách này.

Chiếu văn thường không có chuyện trẻ già, cũ mới, chỉ có tác phẩm bảo chứng cho vị thế, sức bền của người trong cuộc. Việc chọn những gương mặt ít nhiều tên tuổi để chiết xuất tiếng văn của họ là một bảo chứng cho sự tin cậy của cuốn sách. Trên tinh thần đó, cách bố cục cũng không theo quy luật thời gian, tuổi tác. Chúng tôi cố tình sắp xếp bài viết theo tên tác giả như một cách tổng hòa các quan niệm, cách thế ứng xử với nghề, với chữ, với bạn đọc, với chính bản thân của từng văn sĩ. Hi vọng điều này sẽ góp phần làm nổi bật những tương đồng, dị biệt, chung và riêng trong quan niệm nghệ thuật của văn học hiện đại Việt Nam.

Sự thú vị của cuốn sách còn ở tính đa dạng trong thống nhất của nhiều quan điểm, nhiều thế hệ viết với những môi trường sống, làm việc, vạch xuất phát khi viết văn,... Ta không thấy ở đây cái lối “văn nhân tương khinh” thuở trước. Để thành người viết đúng nghĩa, nhà thơ, nhà văn phải không ngừng học hỏi, mải mê học hỏi từ tiền nhân, từ đồng nghiệp, từ cuộc sống, học trong nước và học bạn bè bốn phương. Cách hiểu, cách hành xử với nghề của nhà văn thể hiện rõ dấu ấn thời đại của một thế hệ biết mình biết người, nghiêm cẩn với nghề, luôn cởi mở, năng động để hoàn thiện, hội nhập. Đó là bản lĩnh của người có “màng lọc”, năng lực thẩm thấu những vang động của đời, có sự kiên trì cùng kĩ năng đãi chữ tìm văn. Đã qua rồi cái thời chỉ viết bằng bản năng và những cảm xúc nhất thời, với văn nhân hôm nay, để có chỗ đứng trong làng văn, ngoài thiên chất nghệ sĩ phải có tư duy khoa học, tính chuyên nghiệp cao để không lẩu hóa, hàng xén hóa tác phẩm của mình. Không sa đà vào lí luận hàn lâm, khô cứng, những đúc kết và gợi mở sống động của người trong cuộc sẽ dễ bám vào trí nhớ, thành kinh nghiệm quý cho người viết văn, học văn.

Cái cách nhà văn chăm bón cho khu vườn sáng tạo của mình, sự tinh tế và dũng cảm nhận ra những thôi thúc từ bên trong, hiện hình nó thành câu chữ cũng nhiều hình nhiều vẻ. Đó là lối tương kính như tân đối với độc giả, là sự gắn bó, trân trọng tiếng Việt, là nỗ lực viết sao cho tiếng mẹ đẻ vừa gần gụi, dễ hiểu vừa mới mẻ, sang quý, là tâm niệm chiêm cảm hiện thực bằng cả tấm lòng, phải trải nghiệm đời sống thật nhiều để câu chữ lên men, là ý hướng dấn thân, bản lĩnh chấp nhận buồn vui, được mất của nghề,… Những trang trải chân thành này sẽ không lạc điệu, luôn cần thiết đối với người viết văn. Lắng nghe tiếng nói của người trong cuộc, ta hiểu vì sao họ có được năng lượng, động lực tinh thần để vượt qua nghịch cảnh, khước từ những mê dụ nhất thời để thủy chung với nghề, để giữ mãi trạng thái “lên đồng” khi dang díu chữ nghĩa, xác lập thế đứng của mình. Qua đây, những người nuôi mộng văn chương sẽ khắc chế được những ám ảnh về sự cô đơn, thăm thẳm, vô tăm tích của đường văn để mạnh chân tiếp bước. Bạn đọc cũng sẽ thấu cảm sự hữu hạn và vô cùng của nghiệp chữ, quyền năng và hạnh phúc của người sáng tạo, đồng cảm và sẻ chia với gánh nặng của phu chữ đích thực.

Cuốn sách ra đời giữa lúc cả nước đang oằn mình chống đại dịch Covid-19 lại được sự cộng hưởng lớn từ người văn, từ dư luận qua việc tích cực góp bài, qua ý tưởng đặt tên sách, cách chung sức truyền thông và lan tỏa,… Những kinh nghiệm thiết thực, bổ ích đúc kết từ trải nghiệm sống và viết là sự kết nối, vẫy gọi nhiệt thành để những người yêu văn chương có thêm dũng khí, năng lượng mơ cùng chữ, bay cùng chữ, hạnh phúc cùng với chữ. Dĩ nhiên, từ học hỏi tri thức, kinh nghiệm của người  trước đến tiêu hóa, vận dụng được nó là cả một quá trình. Giữa cuộc đời nhiều xáo động với bao nhiêu chênh chao hoang hoải, so ngại, nản lòng, ai cũng cần tin yêu và hi vọng. Với người viết, sách là bạn đường tin cậy; với người yêu văn, sách là cơ hội để có thêm kiến văn bổ ích về chuyện bếp núc của nghề văn. Thấu cảm những trữ lượng yêu thương và khát khao sáng tạo mà người viết ân cần trao gởi, chúng tôi tin mỗi bạn đọc sẽ có một cuốn sách thú vị của riêng mình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm