TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Khơi dậy sức sáng tạo văn học nghệ thuật trong lực lượng sáng tác trẻ ở miền núi - Thực tiễn và kỳ vọng

Khơi dậy sức sáng tạo văn học nghệ thuật trong lực lượng sáng tác trẻ ở miền núi - Thực tiễn và kỳ vọng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-09-13 17:37:29
mail facebook google pos stwis
680 lượt xem

Cần phải làm gì, làm như thế nào để khơi dậy sức sáng tạo của những người sáng tác trẻ; để tạo môi trường nuôi dưỡng họ trở thành lực lượng sáng tác chuyên nghiệp?

Đất nước ta đang bước vào một kỷ nguyên mới với sự chuyển mình mạnh mẽ. Trong bước tiến chung ấy, văn học nghệ thuật chúng ta không đứng ngoài cuộc mà trái lại càng phải xác định rõ vai trò, trách nhiệm để hoàn thành sứ mệnh lớn lao, là vừa gìn giữ bản sắc, vừa khơi nguồn sáng tạo, đồng hành cùng dân tộc kiến tạo nên một tương lai tốt đẹp.

Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc Tổng kết 50 năm nền Văn học nghệ thuật Việt Nam sau ngày thống nhất đất nước, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa đặc biệt nhấn mạnh: “Văn học nghệ thuật có đóng góp quan trọng, tạo nên sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trong quá trình đất nước đổi mới, hội nhập và phát triển ngày càng sâu rộng đối với thế giới”;“Thông qua các tác phẩm, đội ngũ văn nghệ sĩ chính là người đã ươm trồng hạt giống về cái đẹp và lòng nhân ái và sự nhân văn cao cả, gìn giữ và thổi bùng lên ngọn lửa của truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tự tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh và hạnh phúc” và “Mỗi văn nghệ sĩ, mỗi tác phẩm văn học nghệ thuật chân chính sẽ góp phần bồi đắp xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới; từ đó mở ra cánh cửa tương lai tươi sáng của dân tộc ta”.

Ảnh minh họa. Nguồn internet

Chúng ta vinh dự, tự hào khi những giá trị nội sinh của văn học nghệ thuật được phát huy và được nhìn nhận. Có thể khẳng định, nửa thế kỷ qua, văn học nghệ thuật vẫn luôn phát triển mạnh mẽ; đội ngũ văn nghệ sĩ không ngừng lớn mạnh. Trong đó, lực lượng sáng tác trẻ - những người vừa kế thừa tinh hoa truyền thống, vừa có sự nhạy bén với thời đại, đã và đang dần trở thành trụ cột mới của văn học nghệ thuật, của nền văn hóa mới. Song với những tỉnh miền núi như Yên Bái- Lào Cai chúng tôi thì việc phát triển lực lượng sáng tác trẻ vẫn còn nhiều điều trăn trở.

Một trong những thực tiễn dễ nhận thấy ở hầu hết các tỉnh trong cả nước chứ không riêng các tỉnh miền núi chính là việc “thiếu” và “yếu” đội ngũ sáng tác trẻ, nhất là tác giả trẻ là người dân tộc thiểu số. Người trẻ vốn đã bận rộn với nhiều nghĩa vụ như học tập, công tác, mưu sinh, ít có điều kiện quan tâm đến văn học, nghệ thuật. Đó là chưa kể đến giới trẻ ngày nay có nhiều cơ hội tiếp cận với những loại hình văn hóa, nghệ thuật mới mẻ, đa dạng, hiện đại, sôi động, hấp dẫn nên ít còn hứng thú với văn học, nghệ thuật truyền thống, làm vùi lấp đi nhiệt huyết và niềm đam mê sáng tạo cho dù có khả năng sáng tác. Cũng chính bởi vậy mà việc tìm kiếm, phát triển đội ngũ sáng tác trẻ càng trở nên khó khăn. Cũng như nhiều tỉnh thành trong cả nước, cả hai Hội chúng tôi (Hội Liên hiệp VHNT Yên Bái và Hội VHNT tỉnh Lào Cai trước khi sáp nhập) đã rất nỗ lực trong việc phát hiện, bồi dưỡng, song lực lượng sáng tác trẻ vẫn là con số rất khiêm tốn. Trong tổng số gần 300 hội viên của Hội thì hội viên ở độ tuổi trên 70 tuổi đã chiếm tới 1/3, trong khi đó hội viên dưới 40 tuổi chỉ chiếm chưa đến 1/10. Sự già hóa ở đội ngũ văn nghệ sĩ đã gióng lên hồi chuông báo động, thôi thúc mạnh mẽ các hoạt động “chiêu hiền đãi sĩ” để xây dựng, phát triển đội ngũ sáng tác trẻ cho VHNT của tỉnh.

Nhiều năm nay, ngoài việc tổ chức các cuộc thi sáng tác, giải thưởng về văn học nghệ thuật, tổ chức các cuộc triển lãm, hội thảo, tọa đàm; những chuyến thực tế… tạo và mở rộng sân chơi, cổ vũ, động viên văn nghệ sĩ hăng say sáng tạo; Hội cũng dành nhiều tâm huyết, tổ chức nhiều hoạt động dành riêng cho giới trẻ. Từ năm 2011, Yên Bái chúng tôi có lẽ là đơn vị đầu tiên và duy nhất trong cả nước xuất bản ấn phẩm Văn nghệ vùng cao. Đây là ấn phẩm phục vụ việc nghiên cứu, sưu tầm văn hoá, văn học nghệ thuật về đề tài dân tộc miền núi trong tỉnh nhằm bảo tồn và phát triển văn hoá, văn học nghệ thuật của các dân tộc; tuyên truyền các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tới đồng bào các dân tộc vùng cao; đồng thời cũng là một diễn đàn dành cho những người sáng tác bằng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số.

Đặc biệt hướng tới nhóm đối tượng tác giả trẻ, không chỉ nỗ lực trong việc đưa tác phẩm đến với bạn đọc trẻ ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Hội còn tổ chức nhiều hoạt động nhằm khuyến khích sáng tạo như: Phối hợp với Tỉnh đoàn Thanh niên xuất bản tập “Sáng tác trẻ Yên Bái”, “Vì trẻ thơ”; phối hợp với các nhà trường tổ chức nhiều cuộc tọa đàm về chuyên đề “Văn học với nhà trường”; tổ chức nhiều trại sáng tác VHNT dành cho giáo viên và học sinh ngành giáo dục, trại sáng tác văn học trẻ cho các cây bút trẻ trên địa bàn tỉnh, mở các lớp bồi dưỡng sáng tác trẻ ở các chuyên ngành trong nhiều năm liền; thậm chí còn tổ chức đưa các em nhỏ người dân tộc thiểu số ở vùng cao Mù Cang Chải tham gia vào Chương trình “Ký họa mùa vàng Mù Cang Chải” (năm 2020)…

Qua những nỗ lực trong việc tìm kiếm, bồi dưỡng để phát triển đội ngũ kế cận, chúng tôi nhận thấy rằng, dù là trước kia, hiện nay hay sau này, chúng ta không hề thiếu những người trẻ yêu văn học, nghệ thuật. Từ những em học sinh vùng cao cho đến các cán bộ trẻ hay người dân ở các ngành nghề vẫn luôn có những người yêu thích, đam mê sáng tác. Nhiều người vẫn âm thầm làm thơ, viết truyện, vẽ tranh, hay ngay cả những bạn trẻ làm tiktoker chân chính, họ đều đang miệt mài sáng tạo để ghi lại, để quảng bá hình ảnh, bản sắc văn hóa và gửi gắm khát vọng đổi mới quê hương vùng cao. Chỉ là, họ viết chưa tới, làm chưa tới vì chưa được phát hiện, chưa được đào tạo, bồi dưỡng bài bản và chưa có điều kiện, cơ hội để phát triển.

Vậy, cần phải làm gì, làm như thế nào để khơi dậy sức sáng tạo của những người sáng tác trẻ; để tạo môi trường nuôi dưỡng họ trở thành lực lượng sáng tác chuyên nghiệp?

Những năm qua, các trại sáng tác trẻ, các lớp bồi dưỡng sáng tác văn học, nghệ thuật được tổ chức tại Yên Bái, Lào Cai đã phần nào tạo nên môi trường và sự hứng khởi ban đầu cho các tác giả trẻ; những ấn phẩm như Văn nghệ Yên Bái vùng cao đã trở thành “vùng đất tốt” cho các cây bút viết bằng tiếng dân tộc và ngành giáo dục cũng đã có những bước đi tiên phong, có hiệu quả trong việc đưa văn học địa phương vào giảng dạy chính khóa, xây dựng chương trình “Địa phương học” có thời lượng riêng cho văn học dân tộc và miền núi.

Tuy chưa đủ song đây là những hoạt động, cách làm đúng, cần được tiếp tục đầu tư triển khai theo cả chiều sâu lẫn quy mô tổ chức. Và để làm tốt hơn nữa công tác phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ, để lực lượng này thực sự phát triển, cá nhân tôi cho rằng thời gian tới Lào Cai chúng tôi nói riêng và mỗi địa phương cần có những phương án, kế hoạch chủ động, dài hơi hơn như: Tổ chức nhiều hơn các cuộc thi sáng tác, trại sáng tác trẻ, kết hợp đi thực tế sáng tác tại vùng cao; tổ chức các hoạt động kết nối giữa các tác giả trẻ với các văn nghệ sĩ giàu kinh nghiệm (bằng cách mở các lớp bồi dưỡng hoặc tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm); Tổ chức các hoạt động quảng bá tác phẩm theo hướng thích ứng với người trẻ, mở rộng diễn đàn văn học nghệ thuật địa phương trên tạp chí, các nền tảng số, sàn đọc số để người trẻ có không gian thể hiện và kết nối. Cuối cùng, nếu có thể, chúng ta nên xây dựng một quỹ hỗ trợ sáng tác dành riêng cho các sáng tác trẻ. Đây không chỉ là tạo điều kiện cho các tác giả trẻ công bố, giới thiệu được tác phẩm của mình, mà còn là nguồn động viên, khích lệ cho các tác giả trẻ có động lực sáng tác.

Trong bài phát biểu tại Hội nghị gặp mặt đại biểu văn nghệ sĩ ngày 30/12/2024, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh ba trụ cột cơ bản để xây dựng nền văn học nghệ thuật dưới sự lãnh đạo của Đảng xứng tầm trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. một trong ba trụ cột đó chính là “Xây dựng đội ngũ văn nghệ sỹ thật sự là những chiến sỹ cách mạng kiên trung trên mặt trận văn hóa tư tưởng của Đảng”. Tổng Bí thư yêu cầu chúng ta phải tập trung xây dựng đội ngũ văn nghệ sỹ có tư tưởng lành mạnh, lập trường đúng đắn, trung thành với lý tưởng của Đảng, gắn bó máu thịt với vận mệnh của dân tộc, với sự nghiệp đổi mới, với đời sống lao động sản xuất của nhân dân, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; có ý thức sâu sắc về sứ mệnh, thiên chức nghệ thuật cao cả; có tác phong làm việc đúng đắn, có đạo đức trong sáng, chịu đựng được gian khổ, chất phác; chống xa rời quần chúng, xa rời thực tế, xa rời chính trị, xa rời lao động; luôn trau dồi tư tưởng chính trị, quan điểm lập trường cách mạng, tri thức, vốn sống, vốn hiểu biết; có khát vọng, hoài bão lớn về sự sáng tạo, dám đổi mới, sắc bén, mạnh mẽ, nhiệt huyết trong miêu tả, ca ngợi cũng như phê bình; tích cực thâm nhập, không ngừng đi sâu nắm bắt thực tiễn, phản ánh chân thực mọi góc cạnh cuộc sống, nhất là những chủ đề phục vụ mục tiêu xây dựng đất nước ngày càng phát triển, phồn thịnh, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân theo đúng chủ trương của Đảng. Văn nghệ sỹ phải không ngừng bám sát nhịp sống, hơi thở của nhân dân, hòa mình cùng đất nước, dám đi vào những vấn đề gai góc, phức tạp, nhạy cảm của cộng đồng, đến với vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, biên cương, hải đảo, phát hiện và phản ánh những nhân tố mới, cách làm hay, những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống, tham gia tích cực và có trách nhiệm vào các nhiệm vụ của xã hội. Vốn sống của văn nghệ sĩ phải vươn ra khắp mọi miền Tổ quốc; phải đập cùng nhịp đập trái tim của Tổ quốc.

Đội ngũ sáng tác trẻ không chỉ là lớp kế cận của văn nghệ sĩ mà còn là nòng cốt, là trụ cột của văn học nghệ thuật cả trong hiện tại và tương lai. Bởi vậy, để xây dựng được đội ngũ văn nghệ sĩ thật sự là những chiến sỹ cách mạng kiên trung trên mặt trận văn hóa tư tưởng của Đảng như Tổng Bí thư mong muốn thì ngay từ hôm nay, chúng ta cần xây dựng, bồi đắp, nuôi dưỡng được một đội ngũ sáng tác trẻ thực sự tài năng. Khơi dậy sức sáng tạo trong lực lượng sáng tác trẻ ở miền núi không phải là việc dễ làm và có thể làm trong một sớm một chiều, nhưng nếu làm tốt, chúng ta sẽ tạo dựng được nguồn lực phát triển bền vững cho văn học nghệ thuật; khơi lên những kỳ vọng rằng lớp trẻ ở miền núi có thể trở thành một phần của lực lượng tiên phong trong sáng tạo văn học nghệ thuật thời kỳ mới; chúng ta sẽ có một thế hệ văn nghệ sĩ thực sự làm nên tầm vóc, đưa sự nghiệp văn học nghệ thuật phát triển mạnh mẽ, tự tin cùng đất nước tiến vào kỷ nguyên mới.

*Bài viết được khai thác từ tham luận tại Hội thảo " PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA VĂN HỌC NGHỆ THUẬT, CÙNG ĐẤT NƯỚC TIẾN VÀO KỶ NGUYÊN MỚI”

Nguyễn Thị Tâm/Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm